Rèn kĩ năng kể chuyện bằng lời của nhân vật cho học sinh lớp 3 - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không khỏi lúng
túng và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS Đỗ
Huy Quang, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài
Rèn kĩ năng kể chuyện bằng lời của nhân vật cho học sinh lớp 3. Tôi xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Giáo
dục Tiểu học, các thầy cô trong khoa Ngữ văn và các thầy cô giáo trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2, cùng các thầy cô giáo và học sinh trường Tiểu học
Trưng Nhị - Phúc Yên đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2013
Sinh viên

Lê Thị Ngọc Hà


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, căn cứ, kết quả nêu trong luận văn là trung thực.
Đề tài chưa được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào
khác.

Sinh viên

Lê Thị Ngọc Hà


MỤC LỤC

1.2.2.6. Kỹ năng 6: Đặt tên cho từng đoạn câu chuyện rồi kể lại từng đoạn ........ 27
1.2.2.7. Kỹ năng 7: Kể lại câu chuyện bằng lời của em ................................ 27
1.2.3. Các bước rèn kĩ năng kể chuyện ở lớp 3 ............................................. 28
1.2.4. Khảo sát thực tiễn dạy kể chuyện bằng lời của nhân vật cho HS lớp ........
3 ở trường tiểu học Trưng Nhị, thị xã Phúc Yên ........................................... 29
1.2.4.1. Khảo sát từ giáo viên và học sinh .................................................... 29
1.2.4.2. Khảo sát qua chất lượng dạy và học................................................. 31
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG KỂ CHUYỆN BẰNG
LỜI CỦA NHÂN VẬT CHO HỌC SINH LỚP 3 ..................................... 32
2.1. Thực hành xác định cách xưng hô khi kể chuyện bằng lời của nhân vật ....... 32
2.2. Tập kể từng đoạn theo cách xưng hô mới để kể bằng lời của nhân vật .......... 34
2.3. Dựa vào tranh, kể lại từng đoạn của câu chuyện bằng lời một nhân vật. ....... 37
2.4.Tập giao tiếp với người nghe khi kể chuyện ........................................... 40
2.5. Tập nhập vai khi kể chuyện bằng lời của nhân vật ................................. 41
2.6.Tập nói ra ý nghĩa của câu chuyện.......................................................... 43
2.7.Học sinh tập kể chuyện bằng lời của nhân vật theo quy trình sau: .......... 44
2.8. Tập viết lại câu chuyện vừa kể .............................................................. 45
2.9. Kể câu chuyện bằng lời một nhân vật trong buổi ngoại khóa. ................ 48
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................. 50
PHẦN KẾT LUẬN ..................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 58


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học gồm nhiều phân môn: Tập đọc, kể chuyện,
luyện từ và câu, chính tả, tập viết, tập làm văn. Cùng với nhiều môn học khác,
Tiếng Việt góp phần hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh. Để
hình thành những kĩ năng đó mỗi phân môn có vai trò, vị trí riêng. Trong đó
nhiệm vụ quan trọng nhất của phân môn kể chuyện là hình thành phát triển kĩ

chuyện cho học sinh. Chẳng hạn như quyển: “Sơ thảo lý luận văn học” của
Nguyễn Lương Ngọc, các bộ sách lý luận văn học của trường Đại học sư
phạm và trường Đại học Tổng hợp thập kỉ 60. Tuy nhiên, các giáo trình trên
chỉ nói đến ngôi kể khi phân tích phương thức tự sự của văn học trong đó có
việc kể chuyện bằng lời của nhân vật.
Kể chuyện là một trong những phân môn quan trọng ở Tiểu học. Vì
vậy, phân môn kể chuyện đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Trong
số đó, nổi bật nhất phải kể đến tác giả Chu Huy với cuốn Dạy kể chuyện ở
trường Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000. Cuốn sách giúp chúng ta nhận
thức đúng về phân môn kể chuyện, các biện pháp hướng dẫn dạy kể chuyện
rất phong phú, là cẩm nang cho nhiều giáo viên. Song các biện pháp trình bày
trong sách chỉ phù hợp với tiết kể chuyện được dạy theo phương pháp cũ
(thầy kể, trò nghe, ghi nhớ và kể lại), không phù hợp với phương pháp dạy
hiện nay.
Hiện nay, chương trình Tiểu học mới, phân môn kể chuyện được giảng
dạy theo phương pháp mới, ở đó học sinh được chủ động kể chuyện dưới sự
hướng dẫn của giáo viên chứ không thụ động nghe, ghi nhớ và kể lại như
trước nữa. Với phương pháp này, giáo viên trở về đúng vị trí chủ đạo của
mình và học sinh thực sự là người tự giác, tích cực và tự lực trong học tập.
Tuy nhiên, phương pháp mới này chỉ được thực hiện đại trà trong vài năm

6


gần đây, nó còn khá mới mẻ. Do đó, các công trình nghiên cứu còn chưa
nhiều.
Đề cập đến kể chuyện bằng lời của nhân vật, tác giả Nguyễn Minh
Thuyết (chủ biên) cuốn Hỏi đáp về dạy học môn Tiếng Việt 3, NXB GD, 2003
đã nêu lên các mức độ của kể chuyện bằng lời của nhân vật. Song do giới hạn
của cuốn sách nên tác giả mới chỉ nói được cái chung mà chưa đi vào cụ thể

6. Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương
pháp sau:
1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu có liên
quan đến kể chuyện bằng lời của nhân vật.
2- Phương pháp quan sát: Được cụ thể bằng các hình thức phỏng vấn,
đọc giáo án, dự giờ… đối với giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 3 phần
kể chuyện bằng lời của nhân vật, khảo sát hứng thú và khả năng tiếp nhận loại
bài này của học sinh.
3- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra khảo sát chương trình
sách giáo khoa phương pháp chuyên gia, thống kê, so sánh.
4- Phương pháp thực nghiệm: Để đánh giá và rút ra kết luận cụ thể về
phương pháp hướng dẫn học sinh chuyển đổi ngôi kể trong giờ kể chuyện.
7. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu khóa luận rèn kĩ năng kể chuyện bằng lời của nhân vật cho học
sinh lớp 3 được nghiên cứu trọn vẹn và xử lý đầy đủ, thì nhận thức của giáo
viên về kỹ năng kể chuyện này được chính xác hơn, chất lượng dạy kể chuyện
bằng lời của nhân vật cho học sinh lớp 3 được nâng cao hơn.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương:

8


Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của kể chuyện bằng lời của nhân
vật trong phân môn Kể chuyện ở bậc Tiểu học.
Chương 2: Biện pháp rèn kĩ năng kể chuyện bằng lời của nhân vật cho
học sinh lớp 3.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.


10


ngôn ngữ nói trong sinh hoạt hàng ngày của con người. Chủ tịch Hồ Chí
Minh thường dạy “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý
báu. Chúng ta phải biết quý trọng nó, giữ gìn nó, phát triển nó”. Nhờ có tiếng
nói và lao động mà con người thoát khỏi đời sống động vật, vươn lên làm chủ
bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên. Bầy người nguyên thủy quây
quanh đám lửa trại nướng thịt thú rừng, nướng quả, hạt thường kể những
chuyện săn bắt, hái lượm cho nhau nghe. Đó cũng là khởi đầu của sự tích lũy
tri thức khoa học và kể chuyện ở đây mang chức năng thông tin. Khi ngôn
ngữ ngày càng phát triển, số lượng từ cơ bản tăng lên, đời sống vật chất và
tinh thần ngày càng phong phú thì kể chuyện không chỉ dừng ở mức độ thông
tin nữa mà thêm chức năng giải trí, hay cao hơn nữa là chức năng nghệ thuật.
Nhờ vậy mà kho tàng đồ sộ truyện cổ dân gian hết sức giàu có, hết sức đa
dạng được truyền lại đến ngày nay bằng hình thức kể.
Đối với trẻ thơ, mỗi câu chuyện kể giúp cho trẻ có thêm những ước mơ
bay bổng. Chúng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ.
Mỗi câu chuyện kể đều có thể đánh thức ước mơ của trẻ, làm cho trẻ nhận
thức được thế giới xung quanh, có biểu tượng về thực tế xã hội, từng bước
cung cấp cho trẻ những khái niệm mới và mở rộng kinh nghiệm sống.
Kể chuyện có một vai trò giúp trẻ nhỏ nhận thức thế giới không chỉ bó
hẹp ở những câu chuyện trong nước, mà còn những câu chuyện nước ngoài
được chọn vào chương trình tiểu học. Kể chuyện giúp các em hoàn thiện nhân
cách biết quý trọng con người, yêu thiên nhiên và chắp cánh ước mơ của các
em, kể chuyện còn ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục thẩm mỹ cho các em. Có
thể nói vẻ đẹp về con người, về thiên nhiên hội tụ từ những câu chuyện trong
chương trình tiểu học đã đem lại ấn tượng thẩm mỹ sâu sắc cho các em như
vẻ đẹp về con người: Ông Gióng, Thạch Sanh, Lang Liêu, Hoàng Tử, Công

chuyện với 31 câu chuyện trên 35 tuần thực học và có 4 tiết ôn tập. Kể
chuyện là tiết liền kề của bài tập đọc ở đầu tuần của mỗi chủ điểm. Phân môn

12


Kể chuyện chỉ khác phân môn Tập đọc ở chỗ hình thức dạy học và mục tiêu
cần hướng đến. Một bên là rèn học sinh đọc đúng, đọc hiểu theo các mức độ
khác nhau, một bên là rèn ngôn ngữ nói theo nội dung của bài tập đó bằng
những kỹ năng khác nhau như kể theo tranh, kể từng đoạn, kể phân vai hoặc
các kiểu bài kể khác nhau. Thời lượng kể chuyện dành cho lớp 3 không được
dạy riêng một tiết mà ghép chung với phân môn Tập đọc với thời lượng dành
cho tập đọc là 1,5 tiết, kể chuyện là 0,5 tiết.
So với lớp 2, những câu chuyện học ở lớp 3 có nội dung rộng hơn và
tình tiết phức tạp hơn. Bên cạnh những truyện về tình cảm gia đình, thầy trò,
bạn bè, làng xóm, học sinh còn được học về gương chiến đấu của các anh
hùng liệt sĩ trong lịch sử, gương lao động của các nhà khoa học, các nghệ sĩ,
các vận động viên thể thao, về tình hữu nghị của các dân tộc, về công cuộc
chinh phục thiên nhiên và bảo vệ môi trường… Qua những câu chuyện này,
học sinh có thêm vốn từ phong phú, đa dạng hơn, hiểu biết và năng lực suy
nghĩ của các em cũng được nâng lên một mức cao hơn.
1.1.2. Phân biệt “chuyện” và “truyện”. Đặc điểm thể loại truyện
Chuyện là tất cả sự việc xảy ra trong đời sống, đó là gốc tạo nên tất cả
các tác phẩm văn học. Nghĩa là không có chuyện thì không thể viết được một
tác phẩm hay lưu lại một thông tin nào đó trong đời sống, không trao đổi cho
nhau những kinh nghiệm trong thực tại. Chuyện là sự việc được kể hoặc nói
ra (Ví dụ: tôi có chuyện muốn nói hoặc đi xa về có chuyện gì không). Một
câu nói hay một câu hỏi và được trả lời tức là một chuyện. Chuyện là một sự
việc nhưng nếu sự việc ấy được thuật lại có mở đầu, có diễn biến, có kết thúc
thì cũng là chuyện nhưng ở mức độ cao hơn. Đó là chuyện để kể lại cho nhau

người, cho xã hội. Do đó mỗi câu chuyện để lại một lời khuyên. Lời khuyên
đó là những kinh nghiệm sống, những bài học đúng đắn giáo dục học sinh làm
theo hoặc đó là những lời khuyên những bài học giáo dục học sinh không nên
làm theo. Cốt truyện thường được phân ra từng đoạn. Ở mỗi đoạn có kể, có tả,

14


có đối thoại và có bàn luận, tức là được thể hiện bằng những phương thức
biểu đạt khác nhau. Người đọc truyện phải nhận ra các phương thức biểu đạt
của đoạn. Để thể hiện nội dung của đoạn có các chi tiết: chi tiết về thời gian,
không gian màu sắc âm thanh, về thiên nhiên, về con người (lời nói của con
người, hành động của con người, tình cảm của con người). Kể chuyện hay,
hấp dẫn, phải nhớ các chi tiết, từ các chi tiết ấy cho ta biết điều gì diễn ra
trong đời sống và từ đó, rút ra ý nghĩa, bài học nhân sinh.
Yếu tố thứ hai phải kể đến đó là nhân vật. Nhân vật là linh hồn của
truyện nên khi đặt tên truyện có thể lấy tên nhân vật như truyện Thạch Sanh,
truyện Tấm Cám, truyện Thánh Gióng. Nhân vật của truyện có thể là người,
là con vật, loài vật, đồ vật được nhân hóa. Trong truyện ngụ ngôn, nhân vật
thường là loài vật, đồ vật nhưng cũng như con người, là người nhưng mang
lốt loài vật. Nhân vật có thể có tên hoặc không có tên. Nhân vật trong truyện
thường được phân theo các tuyến nhân vật. Trong truyện cổ tích thường có
tuyến nhân vật thiện - ác, tốt - xấu. Những câu chuyện hiện đại cũng có thể
chia theo các tuyến nhưng không phải tuyến nhân vật này với nhân vật kia mà
là cái đúng cái sai, cái tốt cái xấu trong mỗi con người, là mâu thuẫn trong
một con người. Nhân vật thường được miêu tả đầy đủ về ngoại hình bên
ngoài lẫn tính cách bên trong, thể hiện qua lời nói, ý nghĩ, hành động, qua
việc cư xử các mối quan hệ trong những ý nghĩa cảm xúc, tình cảm, tâm
trạng. Nhân vật trong truyện còn được phân loại thành nhân vật chức năng,
nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng. Nhân vật trong truyện cổ tích thường là

- Trong ngôn ngữ viết, từ ngữ được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện
đạt được chính xác. Đồng thời, tùy thuộc vào phong cách ngôn ngữ của văn
bản mà người viết sử dụng tần số cao các từ ngữ phù hợp với từng phong
cách. Nhìn chung, trong văn bản viết, người ta tránh dùng những từ ngữ mang
tính khẩu ngữ, các từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, tiếng tục… Về câu,
trong ngôn ngữ viết thường có những câu dài, nhiều thành phần nhưng được

16


tổ chức mạch lạc, chặt chẽ nhờ các quan hệ từ và sắp xếp các thành phần phù
hợp.
*Đặc điểm ngôn ngữ nói
- Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, là lời nói trong giao tiếp hàng
ngày, ở đó người nói, người nghe tiếp xúc trực tiếp với nhau, có thể luân
phiên nhau trong đóng vai nói và nghe. Do đó, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ
nói, người nghe có thể phản hồi để người nói điều chỉnh, sửa đổi. Mặt khác,
do có sự giao tiếp bằng ngôn ngữ nói diễn ra tức thời, mau lẹ nên người nói ít
có điều kiện lựa chọn, gọt giũa các phương tiện ngôn ngữ, và người nghe
cũng phải tiếp nhận, lĩnh hội kịp thời, ít có điều kiện suy ngẫm phân tích kĩ.
- Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: giọng nói có thể cao hay thấp,
nhanh hay chậm, mạnh hay yếu, liên tục hay ngắt quãng… Ngữ điệu là yếu tố
quan trọng góp phần bộc lộ và bổ sung thông tin. Đồng thời trong ngôn ngữ
nói còn có sự phối hợp giữa âm thanh, giọng điệu với các phương tiện hỗ trợ
như nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ… của người nói.
- Trong ngôn ngữ nói, từ ngữ được sử dụng khá đa dạng có những từ
ngữ mang tính khẩu ngữ, có cả những từ ngữ địa phương, các tiếng lóng, các
biệt ngữ, các trợ từ, nhóm từ, các từ ngữ đưa đẩy, chêm xen… Về câu, ngôn
ngữ nói thường dùng các hình thức tỉnh lược, thậm chí chỉ còn một từ (nhất là
trong đối thoại), nhưng nhiều khi câu nói lại rườm rà, có yếu tố dư thừa, trùng

lời nói miệng.
1.1.4. Chuyển đổi ngôi kể khi kể chuyện
* Chuyển đổi ngôi kể là một biện pháp nghệ thuật và sư phạm.
Sự chuyển đổi ngôi kể sẽ tạo nên những sự thay đổi trong điểm nhìn
câu chuyện, giữa người kể với tác giả. Nói cách khác, sử dụng biện pháp này
sẽ tạo nên những phiên bản khác nhau của một câu chuyện, tạo ra nhiều sự
bất ngờ, lý thú cho người nghe. Nói, chuyển đổi ngôi kể là một biện pháp
nghệ thuật sáng tạo chính là ở khía cạnh này.

18


Chuyển đổi ngôi kể là một biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện cho học
sinh các kỹ năng làm văn kể chuyện, trong đó có kỹ năng nhập vai vào nhân
vật trong truyện. Để viết được truyện Trận bóng dưới lòng đường theo lời của
nhân vật Vũ, em học sinh phải đọc kĩ truyện, sau đó em sẽ tưởng tượng mình
là Vũ, đưa được những cảm xúc, ý nghĩ của nhận vật vào bài kể.
* Chuyển đổi ngôi kể là chuyển cách nhìn toàn bộ câu chuyện, là nhận
ra những điểm nhấn mới trong các tình tiết của truyện trên cơ sở không được
thay đổi cốt chuyện và ý nghĩa câu chuyện.
Trong truyện “ Trận bóng dưới lòng đường” nếu chuyển từ lời kể của
tác giả sang lời kể của nhân vật Vũ, điểm nhấn cũ của truyện (sự lo lắng sợ
sệt của Long) bị bỏ qua, điểm nhấn mới của truyện (tâm trạng, cảm nhận của
Vũ) được làm rõ. Cũng như vậy, nếu kể lại chuyện “ Cuộc chạy đua trong
rừng” (Tiếng Việt 3, tập 2, trang 80) theo lời kể của Ngựa Con thì điểm nhấn
mới sẽ xuất hiện (tâm trạng của Ngựa Con trước ngày thi, sự ăn năn, hối hận
của Ngựa Con khi không nghe lời khuyên của cha…). Xét về mặt lý luận, sự
thay đổi ngôi kể dẫn tới sự thay đổi mối quan hệ, sự thay đổi khoảng cách
giữa người kể với toàn bộ câu chuyện, với từng nhân vật và chi tiết trong
chuyện.

kể phải nhập vai, đóng vai nhân vật, và kể như đang giao tiếp với người nghe.
Ví dụ, kể bằng lời Ngựa Con thì phải xưng hô là “tôi” để kể lại câu chuyện.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Chương trình kể chuyện lớp 3
* Mục tiêu chung về chương trình tiểu học được xác định trong điều 25
của Luật giáo dục như sau:
“Giáo dục tiểu học nhằm giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban
đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”.
*Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện ở lớp 3 được xác định.

20


- Phát triển kỹ năng nói và nghe cho học sinh bao gồm:
Kỹ năng độc thoại: Kể lại câu chuyện đã đọc hay đã nghe theo những
mức độ khác nhau.
Kỹ năng độc thoại được rèn luyện qua loại bài tập kể lại câu chuyện đã
học trong giờ tập đọc. Các mức độ kể chuyện đó là:
+ Kể từng đoạn hoặc toàn bộ câu chuyện.
+ Kể theo lời văn trong bài tập đọc, kể bằng lời của mình hoặc kể có
chi tiết tưởng tượng thêm.
Kỹ năng đối thoại: Tập dựng lại câu chuyện theo các vai khác nhau,
bước đầu biết sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu
bộ… )
Kỹ năng nghe: Theo dõi được câu chuyện bạn kể, để kể tiếp, nêu được
ý kiến bổ sung nhận xét.
- Củng cố mở rộng và tích cực hóa vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình
tượng và tư duy logic, nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống qua nội
dung câu chuyện.

với nhà trường và xã hội.
1.2.2. Những kỹ năng kể chuyện ở lớp 3
Kể chuyện ở lớp 3 chỉ gồm một kiểu bài, kể lại câu chuyện đã được học
trong giờ tập đọc để tập trung rèn cho học sinh nhiều kỹ năng khác nhau, từ
kỹ năng đơn giản nhất đến những kỹ năng đòi hỏi học sinh đạt đến sự sáng
tạo.
1.2.2.1. Kỹ năng 1: Dựa vào tranh, quan sát tranh để kể lại câu chuyện
Ở dạng kể chuyện theo tranh có 2 yêu cầu cơ bản là dựa vào tranh để
kể lại một đoạn truyện và dựa vào tranh để kể lại toàn bộ câu chuyện. Đây là
kiểu bài đơn giản nhất mà học sinh nào cũng có thể kể lại được. Các em phải
quan sát tranh, nhớ lại nội dung bài tập đọc đã được học. Hầu hết học sinh

22


trong lớp đều đạt được mức tối thiểu khi thực hiện kỹ năng này. Trong kể
chuyện theo tranh còn có kiểu bài yêu cầu ở mức độ cao hơn để phát triển tư
duy cho các em, để các em nhớ diễn biến cốt truyện, đó là sắp xếp các bức
tranh theo nội dung câu chuyện rồi kể lại.
1.2.2.2. Kỹ năng 2: Dựa vào câu hỏi hoặc dàn ý để kể lại câu chuyện
Kể chuyện ở lớp 3 có 7 bài rèn cho học sinh kỹ năng này. Đó là Chiếc
áo len, Nắng phương Nam, Đôi bạn, Hội vật… Đối với học sinh lớp 3 cùng
với kể chuyện theo tranh còn có một kiểu bài đòi hỏi sự nhạy bén của học
sinh, đó là kể chuyện bằng gợi ý. Ở dạng này, để kể được học sinh phải dựa
vào dàn ý hoặc câu hỏi, nhớ lại nội dung và diễn biến câu chuyện, rồi kể lại.
Kỹ năng này đòi hỏi học sinh phân biệt hai dạng. Dựa vào dàn ý để kể
lại câu chuyện. Học sinh phải suy nghĩ theo dàn bài, phải có trí nhớ tốt, nhớ
các nhân vật, nhớ diễn biến câu chuyện để kể lại. Đây là kiểu bài khó đối với
học sinh yếu và với học sinh có vốn ngôn ngữ ít như những trẻ ở vùng sâu,
vùng xa . Ví dụ: bài Đôi bạn (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 132) học sinh phải kể

Bố nói gì?

23


Cũng trong kỹ năng này còn có một dạng bài không theo dàn ý mà theo
câu hỏi. Học sinh phải tập trung kể theo câu hỏi, ví dụ: bài Chiếc áo len
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 21). Dựa vào gợi ý dưới đây, kể lại từng đoạn câu
chuyện:
a. Đoạn 1: Chiếc áo len.
- Mùa đông năm ấy lạnh như thế nào?
- Áo len của bạn Hòa đẹp và ấm ra sao?
- Lan nói gì với mẹ?
b. Đoạn 2: Dỗi mẹ.
- Mẹ nói gì khi Lan đòi mua chiếc áo ấm đắt tiền?
- Lan trả lời ra sao?
- Lan dỗi mẹ như thế nào?
1.2.2.3. Kỹ năng 3: Kể chuyện theo lời một nhân vật trong truyện
Kể chuyện ở lớp 3 có 11 bài rèn cho học sinh kỹ năng này, gồm: Chiếc
áo len, Bài tập làm văn, Trận bóng dưới lòng đường, Các em nhỏ và cụ già,
Người con của Tây Nguyên, Cuộc chạy đua trong rừng, Buổi học thể dục,
Bác sĩ Y éc xanh, Người đi săn và con vượn, Cóc kiện trời. Với số lượng bài
nhiều như vậy chứng tỏ đây là kỹ năng cơ bản, có nhiều ý nghĩa giáo dục đối
với học sinh. Đối với kỹ năng này, ngoài việc nắm bắt nội dung câu chuyện,
đòi hỏi học sinh phải cảm thụ được câu chuyện, kể như sống với câu chuyện.
Học sinh phải biết chuyển đổi ngôi kể trong cách xưng hô. Tức là tùy theo
ngôi mà học sinh kể chuyện. Nếu kể bằng lời của tác giả, ở ngôi ba, học sinh
không cần phải chuyển ngôi. Còn nếu kể theo lời nhân vật - kể ở ngôi thứ
nhất hoặc ngôi thứ hai của câu chuyện, lập tức học sinh phải chuyển ngôi và
hầu hết là xưng “tôi” hoặc “chúng tôi” theo nhân vật đang kể. Trong truyện

được quên người dẫn chuyện).

25


Trích đoạn Khảo sát từ giáo viên và học sinh Thực hành xác định cách xưng hô khi kể chuyện bằng lời của nhân vật Kể câu chuyện bằng lời một nhân vật trong buổi ngoại khóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status