BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN KẾ TOÁN CÔNG
ĐỀ TÀI 25:
KINH NGHIỆM THỰC TIỂN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH
THEO KẾT QUẢ ĐẦU RA TẠI CÁC QUỐC GIA
GVHD
: PHẠM QUANG HUY
Lớp
: Kế toán ngày – K20
SVTH
: Nguyễn Thị Vị Nhân
Tp.Hồ Chí Minh, 11/2012
0
MỤC LỤC
----MỤC LỤC
1
3
3. Mục đích của phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra
4
4. Vai trò của phương thức lập ngân sách theo đầu ra
4
5. Cách thức tạo lập và quản lý ngân sách theo đầu ra
4
B. KINH NGHIỆM THỰC TIỄN TỪ CÁC QUỐC GIA
5
I. Kinh nghiệm Nhật Bản
5
II. Kinh nghiệm Malaysia
8
III. Kinh nghiệm Singapore
11
Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Khóa 11, ngày 16/12/2002 đã
xác định tại Điều 1, Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH khái niệm
về NSNN như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và
được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước”.
2. Những nguyên tắc cơ bản quản lý ngân sách nhà nước
Quản lý NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc thống nhất: đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, hiệu quả; hạn
chế những tiêu cực và những rủi ro, nhất là những rủi ro có tính chất chủ
quan khi quyết định các khoản chi tiêu.
Nguyên tắc dân chủ: một ngân sách tốt phải phản ảnh lợi ích của các tầng
lớp, các bộ phận, các cộng đồng người trong các chính sách, hoạt động thu
chi ngân sách. Sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện trong
suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân
sách, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách. Sự tham gia
của người dân sẽ làm cho ngân sách minh bạch hơn,
Nguyên tắc cân đối ngân sách: kế hoạch ngân sách được lập và thu, chi
ngân sách phải cân đối. Mọi khoản chi phải có nguồn thu bù đắp.
Nguyên tắc công khai, minh bạch: công khai, minh bạch trong quản lý sẽ
tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định thu
chi tài chính, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hiệu quả và nguyên
tắc này được thực hiện trong suốt chu trình ngân sách.
Nguyên tắc quy trách nhiệm: yêu cầu trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân
trong quá trình quản lý ngân sách, bao gồm:
Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách, chịu trách
nhiệm về các quyết định về ngân sách của mình.
Trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với
công chúng, đối với xã hội.
Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của
những mục tiêu chiến lược phát triển Nhà nước.
II. Phương thức tạo lập và quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra
1. Khái niệm
Lập ngân sách theo kết quả đầu ra (NSĐR) là một hoạt động quản lý ngân
sách dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin đầu ra để phân bổ và đánh giá
sử dụng nguồn lực tài chính nhằm hướng vào đạt được những mục tiêu
chiến lược phát triển của chính phủ.
Lập NSĐR bao hàm một chiến lược tổng thể nhằm đạt được những thay
đổi quan trọng trong việc quản lý và đo lường công việc thực hiện của các
cơ quan nhà nước so với mục tiêu đề ra.
2. Đặc điểm của phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra
Ngân sách lập theo tính chất mở, công khai, minh bạch.
Các nguồn tài chính của Nhà nước được tổng hợp toàn bộ trong dự toán
ngân sách nhà nước.
Ngân sách được lập theo thời gian trung hạn.
Ngân sách được lập căn cứ theo nhu cầu thực tế, hướng tới người thụ
hưởng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Ngân sách được hợp nhất giữa kế hoạch chi thường xuyên và chi đầu tư
phát triển.
Ngân sách được lập dựa trên nguồn lực được tính trong thời gian trung hạn
và do vậy cần có sự cam kết chặt chẽ.
Việc phân bổ ngân sách dựa trên thứ tự ưu tiên chiến lược.
3
Phi tập trung hóa trong quản lý ngân sách, người quản lý được trao quyền
chủ động và trách nhiệm nhiều hơn trong quản lý chi tiêu công.
3. Mục đích của phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra
Tăng cường quản lý chiến lược và tập trung nâng cao hiệu quả của các cơ
quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Đặt ra những mục tiêu rõ ràng
Các đầu ra theo yêu cầu được tài trợ ở những mức độ khối lượng, giá
cả và chất lượng cụ thể.
Các đầu ra hướng tới mục tiêu và được cung cấp trong khuôn khổ thời
gian yêu cầu.
5. Cách thức tạo lập và quản lý ngân sách theo đầu ra
Tạo lập và quản lý NSĐR phải đặt trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn. Quản lý
NSĐR yêu cầu phải thay đổi phương thức soạn lập ngân sách theo khuôn khổ
chi tiêu trung hạn (MTEF: Medium-Term Expenditure Framework) nhằm kết
nối chính sách, lập kế hoạch và lập ngân sách phù hợp với năng lực của quốc
gia.
Khuôn khổ chi tiêu trung hạn là phương pháp soạn lập NSNN được xác định
trong một giai đoạn dài hơn, trong đó nó giới hạn nguồn lực tổng thể từ trên
xuống và kết hợp với các dự toán kinh phí từ dưới lên hợp thành chính sách
4
chi tiêu được phân bổ phù hợp với các ưu tiên chiến lược đã được Chính phủ
chấp nhận.
MTEF được xây dựng dựa trên nhận thức nguồn lực tài chính của quốc gia có
giới hạn và không tăng trong khoảng thời gian trung hạn, ít ra là 3-5 năm. Vì
vậy, để đạt được những kết quả cao hơn từ những nguồn lực hiện có đòi hỏi
phải thiết lập các công cụ để phân bổ nguồn lực này phù hợp với mục tiêu
chiến lược ưu tiên. Nói khác hơn, MTEF yêu cầu:
Đánh giá mọi nguồn lực sẵn có, ước tính chi phí thực tế của việc thực hiện
chính sách.
Tập trung tất cả nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược.
Phân bổ nguồn lực theo các ưu tiên chiến lược của chính sách một cách
minh bạch.
Mục tiêu của MTEF:
Khắc phục phương pháp soạn lập ngân sách tăng thêm, cắt giảm tuỳ tiện,
những năm 60, Chính phủ mới thông qua được chiến lược phát triển kế hoạch quốc
gia nhằm nâng thu nhập lên gấp đôi, với một lộ trình tái cơ cấu ngành công nghiệp
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Sự vận hành PPBS trải
qua các giai đoạn sau:
5
Giai đoạn 1971-1999: khủng hoảng tài chính quốc tế và khủng hoảng năng
lượng trong thập niên 70 đã tác động nghiêm trọng tới kinh tế Nhật. Chính phủ
đã áp dụng hệ thống PPBS để kết hợp giữa việc phân bổ ngân sách với những
chính sách ưu tiên. Các biện pháp hành chính được ban hành để tạo khung pháp
lý cho cải cách chuyển đổi từ phương pháp truyền thống sang hệ thống PPBS.
Đồng thời, triển khai công tác đánh giá ở một số Bộ như Bộ Công nghiệp và
Thương mại (MITI 1997) bằng chương trình “Cải cách hành chính
Hashimoto”. Tuy nhiên, việc đánh giá rất chiếu lệ nên đã dẫn đến mâu thuẫn
chính sách giữa các Bộ. Hàng loạt phản đối từ Bộ Tài chính, các Bộ khác cũng
như các đảng cầm quyền, đảng không cầm quyền khiến OAG phải triển khai
thêm các kiểm toán hành chính ngoài các kiểm toán tài chính. Phải đến 19901991, khi tăng trưởng kinh tế và ngân sách bị suy giảm kéo dài mới có những
biện pháp quyết liệt về cải cách hệ thống tài chính và giám sát đánh giá.
Giai đoạn 1990-2000 là thời kỳ suy thoái kinh tế, phát sinh 3 sức ép là thâm
hụt tài chính tăng cao ở cả cấp độ quốc gia và địa phương; Sự đòi hỏi phải quan
tâm hơn đến bộ phận dân cư yếu thế trong bối cảnh kinh tế trì trệ dẫn đến tỷ lệ
thất nghiệp trong thanh niên cao; Xu hướng thế giới đang thịnh hành áp dụng
phương pháp đánh giá chính sách để quản lý dựa trên kết quả (Policy and
Program Evaluation for Result based Management and Budgeting System PERBM). Do vậy, Chính phủ Nhật phải đưa ra các chính sách mới, trong đó có
việc chính thức áp dụng PERBM nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế có nhiều thay đổi và yêu cầu tăng phúc lợi cho dân
chúng. Năm 2000, Tổng cơ quan hành chính (GAA) đã ban hành Hướng dẫn
đánh giá chính sách
Giai đoạn 2001-2012: Hệ thống đánh giá chính sách và chương trình cho việc
lại những giám sát, đánh giá nội bộ, sử dụng tiêu chí do Bộ Tổng phụ trách hành
chính (MGA) ban hành và công bố trong bản hướng dẫn. Các tiêu chí gồm:Tính
phù hợp; Tính hiệu quả; Tính hiệu lực; Tính tác động; Tính bền vững. Trong
hướng dẫn đánh giá chính sách còn mở rộng thêm một số tiêu chí nữa như: Tính
cần thiết và thiết thực; Tính công bằng, bình đẳng; Sự cấp thiết; Những khía cạnh
đổi mới; Khả năng thay thế; Khả năng vận động đối tác.
Đánh giá chiến lược quốc gia, các chính sách và mục tiêu:
Đầu tháng 6/2010, chính phủ Nhật đã thông qua “Chiến lược tăng trưởng mới” với
các mục tiêu trung hạn, dài hạn đến năm 2020. Hệ thống chính sách vận hành dựa
trên cơ sở kết quả đánh giá, không phụ thuộc vào sự biến động nhân sự của Chính
phủ.
Hội đồng đánh giá chính sách độc lập bên cạnh Văn phòng Chiến lược quốc gia
chịu trách nhiệm xem xét tất cả các báo cáo đánh giá nội bộ của các Bộ trình lên và
nhắc nhở các Bộ xem xét lại các chương trình, dự án (nếu cần thiết) nhằm đạt được
mục tiêu tổng thể của chiến lược tăng trưởng mới:
Đánh giá toàn diện mục tiêu dài hạn và các chỉ tiêu và các biện pháp của các
chính sách/chương trình (CS/CT) trong bối cảnh có nhiều biến đổi về môi
trường chính sách cả ở trong nước và quốc tế;
Xây dựng các chỉ số có thể đo đếm, giải trình và kiểm tra được để đánh giá kết
quả của các CS/CT này;
Làm rõ mức độ đóng góp của CS/CT này cho Chiến lược tăng trưởng mới;
Lập kế hoạch đánh giá CS/CT mức độ hoàn hành các mục tiêu, chỉ tiêu trung
hạn nhằm đảm bảo cho sự thành công của chiến lược tăng trưởng mới vào
2020;
Xây dựng hệ thống số liệu thống kê, điều tra với các chỉ số để đánh giá CA/CT
dựa trên bằng chứng và kết quả;
Lưu giữ các báo cáo này như là tài liệu không tách rời của Chiến lược để minh
chứng cho chu trình PDCA trong tất cả các hoạt động của Chính phủ.
Những khó khăn thách thức trong triển khai PERBM:
Khi áp dụng PERBM, các khó khăn thách thức thường gặp phải là:
nhất và hoàn thiện dự toán ngân sách trình Chính phủ. Đến giữa tháng 12, bản
dự thảo Dự toán ngân sách được trình ra Chính phủ. Ở giai đoạn này, mọi
vướng mắc chưa được thống nhất, chủ yếu những vấn đề mang tính chính trị,
sẽ được Chính phủ quyết định
Chậm nhất đầu tháng 1, Chính phủ trình Dự toán ngân sách mới ra Quốc hội.
Quốc hội sẽ thảo luận và quyết định ngân sách vào tháng 3 hàng năm.
II. Kinh nghiệm Malaysia
Malaysia có diện tích tự nhiên là 329,8 ngàn km2, dân số năm 2011 là 28,9 triệu
người. GDP bình quân gần 8.400 USD/người (theo giá thực tế).
Malaysia là một trong những nước có thành tựu phát triển kinh tế tốt nhất khu vực
Đông Nam Á, GDP tăng trưởng đạt bình quân 6,5% trong suốt 50 năm. Thành tựu
nổi bật này là kết quả của việc đổi mới quản lý kinh tế theo hướng nền kinh tế mở,
công nghiệp hóa và hướng ra xuất khẩu. Trong đổi mới quản lý kinh tế, phương
pháp phân bổ ngân sách dựa trên kết quả chương trình (Program Performance
Budgeting System –PPBS) được áp dụng kể từ năm 1969. Quá trình áp dụng và
phát triển PPBS trải qua các giai đoạn:
Kể từ năm 1969 bắt đầu áp dụng PPBS đến năm 1990, việc phân bổ ngân sách
căn cứ trên cơ sở thiết lập và đo kết quả thực hiện các chương trình và hoạt
động thông qua các chỉ số chính của các chương trình và hoạt động, đánh giá
tác động của các chương trình và hoạt động này. Phương pháp này phát huy ưu
điểm về tính minh bạch và gắn kết giữa kết quả thực hiện chương trình với chi
phí nguồn lực bỏ ra.
Giai đoạn 1990-2010, cùng với đòi hỏi phải phân quyền nhiều hơn cho phù hợp
với yêu cầu của một nền kinh tế ngày một lớn mạnh, năm 1990 hệ thống PPBS
đã được đánh giá và điều chỉnh lại thành Hệ thống phân bổ ngân sách sửa đổi
(Modified Budgeting System-MBS). MBS thể hiện sự gắn kết các nguyên tắc
tài chính trong các kế hoạch chiến lược và chính sách. Đồng thời, tăng cường
phân quyền theo nguyên tắc nâng cao trách nhiệm giải trình, quyền tự quyết, tự
chịu trách nhiệm của các cấp quản lý “để các nhà quản lý tự quản lý”.
Từ 2010 đến nay: dù đã có nền tảng cơ bản, nhưng nền kinh tế Malaysia vẫn
Gắn kết cách tiếp cận tổng hợp trong công tác kế hoạch: Tăng cường công
tác phối hợp giữa các cơ quan trong giai đoạn đầu chuẩn bị kế hoạch để
đảm bảo rằng các nguồn lực được bố trí hợp lý, hiệu quả. Cách tiếp cận
tổng hợp đòi hỏi các thành phần liên quan phải kiểm tra một cách toàn
diện các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, chi phí và lợi ích trước khi
lựa chọn dự án.
Thường xuyên giám sát, đánh giá kết quả: Đây là khâu quan trọng nhất
trong OBA. Hệ thống thông tin quản lý được củng cố để tạo điều kiện cho
việc giám sát, đánh giá và báo cáo.
Công tác đánh giá được coi là mắt xích quan trọng nhất trong chu trình lập kế
hoạch, triển khai và đánh giá. Trước đây, Chính phủ Malaysia thiên về đánh
giá từ bên ngoài để đảm bảo tính công bằng. Tuy nhiên, việc đánh giá từ bên
ngoài cũng có những hạn chế do không đủ số liệu. Hơn nữa, nhận thấy rằng,
các nhà thực thi chương trình, chính sách cũng rất cần tham gia cả công đoạn
đánh giá, bởi họ biết rất rõ cái gì làm được, cái gì không, điểm mạnh, điểm yếu
vv…Vì vậy, Chính phủ đã thể chế hóa tự đánh giá nội bộ (Internalised selfevaluation).
Quản lý ngân sách ở Malaysia
Năm ngân sách của Malaysia được tính theo năm dương lịch. Ngân sách tại
Malaysia bao gồm ngân sách hoạt động (do Kho bạc Nhà nước quản lý, chi thường
xuyên và các khoản nợ nhà nước, lương hưu và các khoản tiền thưởng theo quy
định) và ngân sách phát triển (do Văn phòng Thủ tướng quản lý).
Quản lý ngân sách của Malaysia đang trong giai đoạn chuyển đổi từ mô hình quản
lý “kiểu truyền thống” sang mô hình quản lý “ngân sách mới”, dựa theo kết quả
đầu ra, chú trọng hiệu quả; gắn kế hoạch chi tiêu hàng năm với kế hoạch tài chính
trung và dài hạn. Phương pháp lập ngân sách mới được thực hiện theo phương
pháp cuốn chiếu, có điều chỉnh khi cần thiết. Việc áp dụng hệ thống quản lý ngân
sách theo kết quả đầu ra sẽ khuyến khích cơ quan sử dụng ngân sách tiết kiệm
nguồn lực, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Nếu đạt được kết quả đầu ra theo
9
trên công báo và Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy định chi tiêu, và ngân
sách được chuyển xuống các Bộ, ngành chi tiêu cho năm tài khoá mới
Việc phân bổ ngân sách hoạt động và ngân sách phát triển dựa trên khuôn khổ kinh
tế vĩ mô, nhưng đối với ngân sách hoạt động thì hàng tháng các Bộ, ngành có báo
cáo về tình hình chi tiêu ngân sách nhằm khắc phục tình trạng chi tiêu dồn ép vào
cuối năm. Còn đối với ngân sách phát triển thì sau 2,5 năm sẽ tiến hành đánh giá
lại để xem xét hiệu quả của các dự án, công trình đã được đầu tư từ nguồn ngân
sách này. Uỷ ban Tài khoản công của Quốc hội sẽ xem xét và đánh giá về tình hình
sử dụng ngân sách trong năm tài chính (quyết toán NSNN) trên cơ sở báo cáo tổng
hợp của Bộ Tài chính. Cơ quan Kiểm toán Nhà nước cũng lập báo cáo kiểm toán.
Dựa vào đó, Uỷ ban Tài khoản công yêu cầu các Bộ, ngành giải trình về tình hình
sử dụng ngân sách của Bộ, ngành mình
Thực tế kinh nghiệm của Malaysia cho thấy, lịch biểu tài chính trong năm ngân
sách được phân chia hợp lý, các khâu của mỗi cơ quan tham gia quy trình ngân
sách dàn đều ra các tháng trong năm. Do đó, tránh được tình trạng dồn ép về mặt
thời gian trong khi xây dựng dự toán, thẩm tra, quyết định ngân sách.
Malaysia, cũng như tất cả các nước trong khu vực, quy định một cơ quan cấp bộ
chủ trì việc chuẩn bị và soạn lập dự toán ngân sách. Việc tập trung một đầu mối có
ưu điểm lớn trong việc quản lý thống nhất, cung cấp cái nhìn toàn diện về ngân
sách trên cơ sở nắm chắc nguồn thu, tạo cơ sở tốt cho việc bố trí sử dụng ngân
10
sách. Mức độ tập trung và sự phối hợp giữa nguồn và sử dụng nguồn được đẩy
mạnh hơn, hiệu quả hơn.
III. Kinh nghiệm Singapore
Singapore có diện tích khá nhỏ, chỉ 692,7 km2 với dân số gần 5 triệu người
(2009), GDP bình quân khoảng 48.000 USD/người (2009).
Singapore đã chuyển sang quản lý theo kết quả đầu ra từ những năm đầu của thập
kỷ 90 nhằm tăng cường hiệu quả quản lý khu vực công, khuyến khích tính tự chủ,
Thúc đấy tăng trưởng kinh tế bền vững, không lạm phát;
Bảo đảm cân bằng ngân sách theo chu kỳ kinh doanh, trong đó số thu từ hoạt
động kinh doanh và đầu tư ròng của Nhà nước phải lớn hơn hoặc bằng số chi
thường xuyên và số chi đầu tư, có phần chuyển giao đặc biệt; đồng thời, phải
đảm bảo an toàn dự trữ quốc gia.
Hệ thống phân bổ ngân sách trước đây ở Singapore chủ yếu dựa trên yếu tố đầu
vào, gắn với các nội dung chi cụ thể mà không chú ý đến hiệu quả đầu ra. Hệ
thống lập ngân sách theo kết quả đầu ra hiện nay đã có những thay đổi đáng kể,
Chính phủ xem các Bộ, ngành như là những người cung cấp dịch vụ và phân bổ
ngân sách cho các Bộ, ngành theo mức độ công việc hoàn thành.
11
Với việc thực hiện lập ngân sách theo kết quả đầu ra, các Bộ, ngành sẽ được quản
lý theo mô hình tự chủ tài chính. Các cơ quan tự chủ tài chính là các cơ quan Nhà
nước có “kết quả đầu ra” và “mục tiêu hoạt động” đã được xác định rõ, những cơ
quan này được linh hoạt trong quản lý để có thể cung cấp dịch vụ một cách tốt
hơn. Bên cạnh đó, Nhà nước có cơ chế khuyến khích việc hoàn thành mục tiêu đề
ra, áp dụng cơ chế quản lý linh hoạt: Thủ trưởng cơ quan, đơn vị sẽ được trao
quyền chủ động và linh hoạt tối đa đối với các vấn đề trong phạm vi ngân sách
được duyệt.
Trong quá trình lập ngân sách theo kết quả đầu ra ở Singapore, việc xác định kế
hoạch đầu ra là một công đoạn quan trọng nhất, là cơ sở cho việc thực hiện lập
ngân sách theo kết quả đầu ra. Kế hoạch đầu ra cần được soạn thảo phù hợp với kế
hoạch ngân sách hàng năm và trong chừng mực có thể, việc phân bổ ngân sách
cần gắn liền với mức sản lượng đầu ra. Kế hoạch đầu ra cũng chính là một công cụ
để đánh giá hoạt động của đơn vị nhằm khuyến khích đạt mục tiêu đã đặt ra.
Về các chỉ số đánh giá kết quả đầu ra:
Singapore thường sử dụng 5 chỉ số khác nhau để đánh giá kết quả hoạt động của
một cơ quan, đơn vị tự chủ tài chính áp dụng phương thức lập ngân sách theo kết
12
đó Bộ Tài chính đóng vai trò trung tâm để tổng hợp dự toán và đưa dự toán ra Nội
các thông qua, trình Quốc hội thảo luận và quyết định các hạng mục lớn. Sau khi
Quốc hội thông qua dự toán NSNN sẽ cho phép Chính phủ tổ chức thu và chi
NSNN.
Năm ngân sách của Singapore bắt đầu từ ngày 1/4 và kết thúc vào ngày 31/3 năm
sau. Quy trình ngân sách được chia thành các bước chính:
Dự toán NSNN được trình lên Quốc hội vào khoảng tháng 9. Các nghị sĩ sẽ
xem xét báo cáo ngân sách, sau đó thảo luận về ngân sách. Giai đoạn này, Bộ
trưởng Bộ tài chính sẽ giải trình và tiếp thu ý kiến của các nghị sĩ. Đến tháng
12, dự toán NSNN được trình lên Nội các.
Tháng 1 năm sau, Nội các sẽ xem xét thảo luận về dự toán NSNN.
Đến tháng 3 năm sau, dự toán NSNN được trình lên Quốc hội để biểu quyết và
sau đó Tổng thống phê chuẩn; Sau khi Tổng thống phê chuẩn, dự toán NSNN
có giá trị pháp lý như một đạo luật ngân sách thường niên.
Quốc hội Singapore có 2 Uỷ ban để giám sát về NSNN:
Uỷ ban Tài khoản công: cùng Kiểm toán Nhà nước tiến hành kiểm toán và
thẩm tra quyết toán NSNN để trình Quốc hội xem xét phê chuẩn quyết toán
NSNN hàng năm. Khi Singapore chuyển sang quản lý ngân sách theo kết quả
đầu ra thì công việc của Uỷ ban này và của Tổng Kiểm toán Nhà nước không
chỉ là việc chỉ ra những sai phạm, mà điều quan trọng hơn là cần đánh giá tính
hiệu quả của quản lý NSNN.
Uỷ ban Dự toán: xem xét dự toán chi tiêu của Chính phủ và đánh giá các báo
cáo chi tiêu ngân sách định kỳ 6 tháng của các Bộ. Khi Singapore chuyển sang
quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra thì Uỷ ban này chú trọng vào việc phân
tích các chính sách vĩ mô, mà không đi vào chi tiết dự toán chi tiêu của các Bộ
như trước.
Uỷ ban Dự toán tiến hành bỏ phiếu về ngân sách cho từng Bộ theo 2 lần:
lực cung cấp thông tin về tài chính - ngân sách của các cơ quan, đặc biệt là cơ quan
dân cử.
Một trong những khó khăn và thách thức mà các nước đã gặp phải là tạo lập hệ
thống các chỉ tiêu, chỉ số đo lường và đánh giá kết quả đầu ra. Ở Singapore, các
Bộ, ngành khi trình dự toán ngân sách đã xây dựng hàng nghìn chỉ tiêu đánh giá
kết quả đầu ra, nhưng Quốc hội chỉ xem xét khoảng 150 chỉ tiêu đánh giá kết quả
đầu ra. Như vậy, khi chuyển sang quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra thì công
việc trọng tâm là phải xác lập được các nguyên tắc, phương pháp và cách thức lập
các chỉ tiêu, chỉ số đánh giá kết quả đầu ra. Đây là vấn đề hết sức phức tạp.
Việc lập ngân sách theo kết quả đầu ra là phương thức quản lý ngân sách nhằm
gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị với kết quả hoạt động. Qua
đó gắn bó chặt chẽ giữa việc phân bổ ngân sách cho từng khoản mục chi với các
mục tiêu dự kiến phải đạt được từ những khoản mục chi đó. Chuyển đổi phương
thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra chính là sự chuyển dịch từ việc tập
trung kiểm soát chi tiêu từ “đầu vào” (như yêu cầu phải chi theo đúng khoản mục
và định mức…) sang kiểm soát “đầu ra” gắn với kết quả cụ thể; qua đó thay đổi
quan niệm của các đơn vị sử dụng NSNN từ chỗ chấp hành một cách thụ động,
không bị ràng buộc về kết quả sử dụng nguồn lực sang việc được trao quyền chủ
động, năng động, tự chủ và tự chịu trách nhịêm trong việc thực thi các mục tiêu,
nhịêm vụ trong phạm vi nguồn lực được giao. Các đơn vị sử dụng ngân sách phải
có trách nhiệm giải trình chặt chẽ, minh bạch và có sự giám sát của cơ quan quản
lý cấp trên.
Mục tiêu cơ bản của việc lập ngân sách theo kết quả đầu ra là đòi hỏi các nhà
quản lý khu vực công, thông qua việc được trao quyền tự chủ về tài chính trong
quản lý, phải có trách nhiệm hơn đối với công việc được giao để đạt được mục tiêu
của cơ quan, đơn vị mình. Nói cách khác, việc lập ngân sách theo kết quả đầu ra
nhấn mạnh đến kết quả cần đạt được, đến mục tiêu công việc và sản phẩm đầu ra
cụ thể với các chế độ ưu đãi, khuyến khích nhằm tối đa hoá việc sử dụng các
nguồn lực và phân cấp quản lý đúng mức độ. Tính chịu trách nhiệm là cơ sở, nền
tảng để có được “kết quả” và để đánh giá kết quả đối với hầu hết các hoạt động của
theo quy định của Luật NSNN, Quốc hội phê chuẩn dự toán ngân sách trước 15/11,
vì vậy thời gian cho các cơ quan đánh giá, thẩm định dự toán là rất ngắn, đặc biệt
các cơ quan của Quốc hội, trong khi từ tháng 1 đến tháng 6 của lịch biểu tài chính
còn nhiều tháng trống, chưa đề cập đến những hoạt động về ngân sách của các cơ
quan chức năng. Như vậy, để triển khai các hoạt động xây dựng dự toán ngân sách
nhà nước đạt được kết quả tốt, việc hướng dẫn lập dự toán có thể tiến hành sớm, từ
tháng 1 hoặc tháng 2, để dành thêm thời gian cho các cơ quan Quốc hội thảo luận,
thẩm tra ngân sách Nhà nước do Chính phủ trình, đồng thời các cấp ngân sách
cũng đỡ dồn ép về mặt thời gian khi xây dựng, thảo luận dự toán NSNN.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Báo cáo Kết quả khảo sát tại Malaysia và Singapore. Ủy ban Kinh tế và Ngân sách,
QH11, 2007.
Cải cách quản lý công thông qua hệ thống lập kế hoạch và ngân sách dựa trên kết quả:
Kinh nghiệm của Nhật Bản và Malaysia. Phạm Thị Tước.
Cơ sở lý luận, thực tiễn và đánh giá tình hình thực hiện thí điểm khuôn khổ ngân sách
trung hạn tại Việt Nam. Báo cáo chuyên đề. Vũ Như Thăng, 8/2012.
Implementation of Outcome Based Budgeting (OBB) in the Malaysian Public Sector.
Koshy Slaid.
16