CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI - Pdf 67

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG
PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận thương
mại
1.1.1. Kinh tế thị trường và vấn đề buôn lậu, gian lận thương mại
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong đó sản xuất,
phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều gắn chặt với thị trường: Sản xuất ra hàng hoá
- dịch vụ gì, khối lượng bao nhiêu ? sản xuất bằng cách nào ? ai sẽ nhận hàng
hoá - dịch vụ sau khi sản xuất ra ? tất cả đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường
và thông qua thị trường. Thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình sản xuất
và tái sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho xã hội. Thị trường là tập
hợp các thoả thuận thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để
trao đổi hàng hoá - dịch vụ. Trong thị trường, người mua và người bán hàng hoá
- dịch vụ tác động với nhau hình thành cung cầu hàng hoá - dịch vụ, sự tương
tác giữa cung - cầu hàng hoá - dịch vụ trên thị trường hình thành giá cả thị
trường. Thị trường điều tiết cung - cầu - hàng hoá - dịch vụ, mối quan hệ kinh tế
giữa người mua, người bán, giữa nhà sản xuất kinh doanh với khách hàng thông
qua mua bán bằng tiền trên thị trường. Trong kinh tế thị trường các mối quan hệ
kinh tế đều tiền tệ hoá, khi tiền tệ tham gia vào quá trình lưu thông hàng hoá thì
trao đổi hiện vật trực tiếp cũng không tồn tại. Tiền tệ có mặt trong lưu thông,
làm cho quá trình trao đổi nhanh hơn, thúc đẩy quy mô sản xuất tăng lên và đời
sống nhân dân được nâng cao.
Trong nền kinh tế thị trường hoạt động thương mại phát triển và nó có vị
trí rất quan trọng. Thương mại là một bộ phận hợp thành của tái sản xuất, nối
liền giữa sản xuất với tiêu dùng. Dòng vận động của sản phẩm hàng hoá qua
khâu thương mại hoặc để tiếp tục cho sản xuất hoặc đi vào tiêu dùng cá nhân. Ở
vị trí cấu thành của tái sản xuất, thương mại được coi như hệ thống dẫn lưu tạo
ra sự liên tục của quá trình tái sản xuất, khâu này bị ách tắc sẽ dẫn tới sự khủng
hoảng của sản xuất và tiêu dùng. Sản xuất hàng hoá có mục đích từ trước là để
thoả mãn nhu cầu của người khác, để trao đổi mua bán hàng hoá. Không thể nói
đến sản xuất hàng hoá mà không nói đến thương mại. Thương mại là lĩnh vực

do lựa chọn bạn hàng, ở đó có sự gắn kết giữa sản xuất với thương mại. Thương
mại cũng là một chức năng của sản xuất hàng hoá, giữa các doanh nghiệp, các
vùng và quốc gia thực hiện cơ chế mở trong mua bán trao đổi hàng hoá.
Thực tế, trong kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường, thương mại phát triển có những mặt tích cực nhưng bên cạnh đó có
những mặt tiêu cực. Vì mục tiêu lợi nhuận đã làm phát sinh tư tưởng sùng bái
đồng tiền, chạy theo cuộc sống giàu có mà không tôn trọng pháp luật, làm giàu
bất chính, đó là tệ nạn “buôn lậu và gian lận thương mại”. Từ lợi dụng cơ chế tự
do buôn bán lưu thông hàng hoá, một số người đã kinh doanh trái pháp luật,
gian lận thương mại để kiếm lời. Tệ nạn buôn lậu và gian lận thương mại là một
nhược điểm rất lớn trong nền kinh tế thị trường, nó bóp méo vai trò của thương
mại đi ngược lại với bản chất của thương mại. Thương mại có tác động tích cực
đối với nền kinh tế, ngược lại tệ nạn buôn lậu và gian lận thương mại lại tác
động tiêu cực đối với nền kinh tế.
Việc nghiên cứu hoạt động phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại
để hạn chế tác hại của nó là rất cần thiết. Do vậy, để đấu tranh chống buôn lậu
và gian lận thương mại đem lại hiệu quả trước hết phải có nhận thức đầy đủ về
buôn lậu và gian lận thương mại trong kinh tế thị trường như thế nào?
* Khái niệm về buôn lậu
Thuật ngữ buôn lậu được sử dụng với những ý nghĩa rất khác nhau. Từ
góc độ của khoa học về ngôn ngữ, cụm từ "buôn lậu" có ý nghĩa là buôn bán
những hàng hoá trốn thuế và hàng cấm. Đây là một khái niệm kế thừa những
hiểu biết xưa nay của cụm từ này và khá phù hợp với quan niệm phổ thông hiện
nay.
Theo tài liệu của Tổ chức Hải quan thế giới dành cho các điều tra viên về
gian lận thương mại thì hành vi buôn lậu được khái niệm như sau:
“Đó là hành vi đưa hàng hoá vào trong lãnh thổ một quốc gia hay đưa
hàng hoá ra khỏi lãnh thổ đó mà vi phạm pháp luật hay các quy định hiện hành
của quốc gia đó, trốn tránh hay có ý định trốn tránh nộp thuế Hải quan bằng
cách không khai báo hoặc trốn tránh không chịu sự kiểm tra của cơ quan chức

trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới được quy định: "Người nào buôn bán
trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hoá, tiền Việt Nam,
ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá thì bị
phạt tù từ hai năm đến bảy năm …". Bắt đầu từ đây, tội danh buôn lậu đã được
xác định với bốn yếu tố cấu thành tội phạm (các mặt khách thể, mặt khách quan,
mặt chủ thể, mặt chủ quan) và những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, nên đã có tác
dụng hướng dẫn nhận thức cũng như chỉ đạo thực phi pháp luật.
Từ năm 1986, đất nước chuyển sang phát triển kinh tế thị trường, tình
hình buôn lậu có xu hướng gia tăng. Đến năm 1999, trước yêu cầu của thực tiễn
đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá 10,
ngày 21/12/1999, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung, sửa đổi Bộ luật
hình sự, tại Điều 153 của Bộ luật, tội buôn lậu được quy định thành một tội độc
lập (đã tách tội vận chuyển trái hàng hoá, tiền tệ qua biên giới được quy định tại
Điều 154 Bộ luật hình sự):
Như vậy, về mặt khách quan của tội buôn lậu được thể hiện ở hành vi
“buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý hoặc
những vật phẩm có giá trị khác.....”. Hành vi “buôn bán trái phép qua biên giới”
là cấu thành cơ bản của tội buôn lậu, được xác định như sau:
- Buôn bán qua biên giới, trái với quy định về quản lý hải quan những
hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên hoặc
hàng hóa là các vật phẩm thuộc di tích, lịch sử văn hóa hay hàng cấm có số
lượng lớn. Hành vi đó thường được thể hiện dưới một số hình thức như: không
khai báo, khai báo gian dối; giả mạo giấy tờ dùng trong xuất, nhập khẩu; giấu
hàng hoá tiền tệ; không đi qua các cửa khẩu hoặc trốn tránh sự kiểm tra, giám
sát của Hải quan, Thuế vụ, Bộ đội biên phòng, Công an.....
- Không có đầy đủ các giấy tờ hợp lệ của các cơ quan có thẩm quyền khi
thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
* Khái niệm về gian lận thương mại
Gian lận thương mại theo Từ điển tiếng Việt là "dối trá, lừa lọc" trong
hoạt động thương mại. Người có hành vi gian lận thương mại gọi là "gian

Về khái niệm này đã khái quát được hành vi gian lận thương mại trong
lĩnh vực Hải quan, hành vi đó được thể hiện bằng sự lừa dối thông qua hành
động lẩn tránh việc nộp thuế và tuân thủ pháp luật hải quan nhằm mục đích thu
được một khoản lợi nào đó. Thực tế, trong bối cảnh hoạt động thương mại quốc
tế ngày càng phát triển, song song với xu thế này là những hoạt động gian lận
thương mại cũng ngày càng phức tạp, tinh vi. Điều đó cho thấy, khái niệm trên
chưa thể hiện được một cách đầy đủ, chính xác hành vi gian lận thương mại
trong lĩnh vực hải quan. Vì vậy, tại hội nghị quốc tế lần thứ V về chống gian lận
thương mại trong lĩnh vực hải quan do Tổ chức Hải quan thế giới triệu tập tại
Brussels (Bỉ) từ ngày 9/10/1995 đến ngày 13/10/1995 đã xem xét lại khái niệm
về gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan và thống nhất đưa ra một khái
niệm mới như sau:
"Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm các điều
khoản pháp quy hoặc pháp luật hải quan nhằm:
- Trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh việc nộp thuế hải quan, phí và các khoản
khu khác đối với việc di chuyển hàng hoá thương mại và/hoặc:
- Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá
không thuộc đối tượng đó và/hoặc:
- Đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại
cho các nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh thương mại chân chính".
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động
gian lận thương mại ngày càng đa dạng và tình tinh vi phức tạp hơn. Hội nghị
đã thống nhất phân chia các hình thức gian lận thương mại thành 16 loại:
1. Buôn bán hàng cấm qua biên giới hoặc ra khỏi sự kiểm soát của Hải
quan (thí dụ: Buôn bán động vật quý hiếm, sản phẩm văn hoá …)
2. Khai báo sai chủng loại hàng hoá.
3. Khai tăng, giảm giá trị hàng hoá.
4. Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ hàng hoá (ví dụ: Nhà nước ta có chính
sách ưu đãi về thuế đối với hàng hoá của các nước ASEAN, Trung Quốc,..).
5. Lợi dụng chế độ ưu đãi đối với hàng hoá gia công.

hàng sử dụng hoạt động chuyển tải để che giấu xuất xứ thực sự của hàng hoá và
đó là gian lận thương mại trong chuyển tải. Do vậy, gian lận thương mại trong
chuyển tải được hiểu như sau “Gian lận trong chuyển tải là việc sử dụng một
nước thứ 3 để giấu nguồn gốc thực sự của hàng hoá, che mắt Hải quan của nước
nhập khẩu”. Tại nước thứ 3, người ta cung cấp các tài liệu giả hoặc có hoạt
động gian dối nhằm thay đổi nguồn gốc hàng từ xuất khẩu sang nước quá cảnh
(hay nước thứ 3). Như vậy đến khi nhập vào, họ tránh được hạn chế đặt ra của
nước nhập như: hạn ngạch, li xăng, chế độ ưu đãi.,…
Qua thực tế cho thấy, một số dạng gian lận thương mại qua chuyển tải là :
- Hàng hoá đưa vào một cảng hoặc một kho ở nước chuyển tải ở đây
chúng có thể thay thế được nhãn rồi lại bốc lên tàu và xem như sản phẩm của
nước chuyển tải hoặc một số nước nào đó.
- Hàng đưa vào nước chuyển tải là hàng hoàn chỉnh hoặc bán sản phẩm
nhưng được khai là nguyên nhiên phụ kiện được coi là nguyên liệu để sản xuất
hoặc để chế biến và nghiễm nhiên trở thành sản phẩm của nước chuyển tải.
- Hàng mang giấy tờ giả để chứng minh là hàng của nước thứ 3 trên
đường đi từ nước xuất hàng đến nước nhập hàng.
1.1.2. Mối quan hệ giữa buôn lậu và gian lận thương mại
Gian lận thương mại dù không phải là một tội danh trong Bộ luật hình sự,
nhưng các dấu hiệu đặc trưng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu và buôn lậu
cũng bao gồm gian lận thương mại.
Theo nghiên cứu khoa học về tội phạm thì gian lận thương mại thực chất
là những hành vi, thủ đoạn cụ thể để gian dối nhằm có được lãi suất cao trong
kinh doanh, buôn bán nói chung, nhưng nếu sự gian lận đó được thực hiện để
nhằm buôn bán trái phép qua biên giới thì đó chính là các hành vi trong mặt
khách quan của tội buôn lậu.
Hội nghị Quốc tế lần thứ năm (1995) về chống gian lận thương mại của
Tổ chức Hải quan thế giới tại Brussels (Bỉ) đã xếp buôn lậu vào trong các hình
thức gian lận thương mại, nhưng coi đó là loại hình gian lận thương mại nguy
hiểm, đặc biệt.

này không phải là việc dễ dàng và lại nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
hiện nay. Một trong những hiện tượng cạnh tranh, kinh doanh để kiếm lời nhưng
trái pháp luật là lao vào "buôn lậu và gian lận thương mại". Một số nhà kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế, dù ở mức độ khác nhau đã tìm đủ mọi cách
luồn lách để thắng trong cuộc chạy đua " một vốn bốn lời", chạy theo lối sống
giàu sang nhưng lại không đủ khả năng làm giàu hợp pháp mà kinh doanh một
cách bất hợp pháp để kiếm lời nhanh và dễ dàng. Lợi ích cá nhân của họ đặt lên
quá cao mà không nghĩ đến lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia. Từ đó mà buôn lậu
và gian lận thương mại ngày càng nảy sinh và phát triển, hành vi buôn lậu và
gian lận thương mại ngày càng tinh vi, diễn biến ngày càng phức tạp là điều bức
xúc đối với xã hội hiện nay.
Nhu cầu sử dụng hàng hoá ở các vùng địa lý khác nhau và hàng hoá có
chất lượng cao, giá thấp hơn ở nơi này sẽ có xu hướng chuyển sang nơi khác có
hàng hoá với chất lượng thấp hơn, giá cao hơn. Đây cũng là quy luật cạnh tranh
trong lưu thông hàng hoá. Tuy nhiên trong một số trường hợp để bảo vệ sản
xuất nội địa Nhà nước phải dùng đến hàng rào thuế quan (thậm chí thuế rất
cao), gian thương tìm mọi thủ đoạn để tàng trữ buôn bán, vận chuyển hàng hoá
qua biên giới, cũng như lợi dụng mọi khe hở để gian lận số lượng, chủng loại,
đánh lẫn hàng hoá … để trốn thuế kiếm lời bất chính. Một số loại hàng hoá nhà
nước cấm buôn bán vì lý do bảo vệ an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ sức khỏe cộng đồng (ma túy, vũ khí, rác thải…), trên thực tế một số loại
hàng hóa cấm nhu cầu vẫn có nên giá cao, việc buôn bán trái phép những hàng
hoá này mang lại lợi nhuận rất cao lại càng thúc đẩy gian thương buôn bán để
kiếm lời bất chính. Hoặc có những loại hàng hoá buôn bán phải có phải được sự
cho phép của nhà nước (hàng hóa đã qua sử dụng, biệt dược,…) vẫn bị gian
thương tìm mọi cách để buôn bán kiếm lời.
Đối với mỗi quốc gia tuỳ thuộc quy định của pháp luật, chính sách quản
lý kinh tế, yêu cầu bảo hộ nền sản xuất nội địa và khả năng quản lý khác nhau
thì quy mô, tính chất, mức độ buôn lậu và gian lận thương mại cũng khác nhau.
Buôn lậu và gian lận thương mại gắn bó rất chặt chẽ với các tệ nạn tham nhũng,

công nhân trong các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước.
Cạnh tranh giữa hàng nội và hàng nhập lậu không chỉ gây thiệt hại cho
người sản xuất, mà còn ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Hàng ngoại tràn ngập
thị trường với giá rẻ tạo nên thị hiếu, tâm lý ưa dùng hàng ngoại. Tuy hàng
ngoại với giá rẻ hơn giá thành hàng nội là do trốn được thuế nhưng rất bấp bênh
vì không phải lúc nào nhập hàng cũng trốn được thuế. Mặt khác, các hoạt động
tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian thương mại của các lực lượng chức
năng sẽ làm cho nguồn hàng khan hiếm, vì vậy trong từng thời kỳ sẽ nẩy sinh
cơn sốt về giá, về hàng, làm đảo lộn sự ổn định giá cả trên thị trường. Với cạnh
tranh đó, kết cục tất yếu là hàng ngoại lấn át hàng nội địa, phá vỡ thế bình ổn
giá cả, sản xuất trong nước bị đình đốn. Nhập lậu hay xuất lậu cũng gây thiệt
hại như nhau về kinh tế, bởi nhập lậu ồ ạt biến nước ta thành thị trường tiêu thụ
hàng hoá của nước ngoài, đặc biệt là hàng dư thừa, ế ẩm. Còn xuất lậu hàng
hoá, đặc biệt là nguyên liệu, khoáng sản, nhiên liệu thô, các mặt hàng chiến
lược, hàng quốc cấm sẽ làm cho tài lực của đất nước cạn kiệt. Hậu quả rõ nhất
làm mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm chệch hướng phát triển của nền
kinh tế.
Mặt khác, buôn lậu và gian lận thương mại còn làm cho đất nước thất thu
lớn về thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác gây ảnh hưởng đến quá trình
cân đối thu - chi ngân sách của Nhà nước, làm thất thoát ngoại tệ mạnh ra ngoài
biên giới.
* Hậu quả về mặt văn hoá - xã hội
Buôn lậu, gian lận thương mại gây nên những hậu quả phức tạp và nặng
nề về mặt văn hoá - xã hội. Đây là một trong những yếu tố làm gia tăng giữa
giàu và nghèo, tạo đà cho việc thuê mướn, bóc lột sức lao động. Một số tư
thương đánh mất khuynh hướng tạo việc làm, chỉ mải mê làm giàu thông qua
buôn lậu, gian lận thương mại. Hiện tượng buôn lậu xuất hiện đã lôi kéo một lực
lượng lao động khá lớn tham gia vào đội quân “cửu vạn” mang vác hàng qua
biên giới. Lực lượng đó không chỉ bao gồm lao động tại chỗ, mà còn có cả lao
động từ nơi khác đến làm cho sản xuất bị buông lỏng, tình hình trật tự an toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status