LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Hải quan Việt Nam là cơ quan quản lý nhà nước có nhiệm vụ : “....thực
hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng chống buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối
với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, chính sách thuế
đối với hàng hóa xuất khẩu” [8, tr43].
Hiện nay, toàn cầu hoá kinh tế đang là một xu thế tất yếu có ảnh hưởng
đến mọi quốc gia trên thế giới, xu thế này đã tạo ra sự gia tăng mạnh mẽ các
dòng lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn - công nghệ, nguồn nhân lực lao
động,.. giữa các quốc gia cùng với sự tăng lên không ngừng của lượng hành
khách, phương tiện xuất nhập cảnh. Yêu cầu của việc thực hiện lộ trình dỡ bỏ
các rào cản thương mại đang là áp lực rất lớn đối với các quốc gia, đặc biệt là
đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh nêu
trên, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một đòi hỏi tất yếu khách quan, nó
mang lại nhiều cơ hội để phát triển kinh tế đồng thời cũng đặt ra không ít
những thách thức, khó khăn cho Việt Nam nói riêng và các nước đang phát
triển nói chung.
Với những nỗ lực cải cách, mở cửa, tập trung ưu tiên cho hoạt động
kinh tế đối ngoại, phát triển thương mại, thúc đẩy quá trình hội nhập trong
những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát
triển kinh tế đất nước mà rõ nét nhất là nền kinh tế đạt được tốc độ tăng
trưởng cao liên tục trong nhiều năm và đặc biệt là Việt Nam đã trở thành viên
chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, cũng chính
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã kéo theo sự gia tăng của các loại tội
phạm, các hành vi vi phạm pháp luật khác, đặc biệt là hoạt động buôn lậu, vận
chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và gian lận thương mại. Điều này
đang đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và các cơ
quan bảo vệ pháp luật nói riêng cần nghiên cứu, xây dựng các giải pháp tăng
quan và những kết quả, hạn chế trong hoạt động phòng chống buôn lậu, gian
lận thương mại. Thời gian nghiên cứu: từ năm 2002 đến nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn sử
dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic đồng thời còn sử
dụng các phương pháp cụ thể sau: Phương pháp thống kê; phương pháp phân
tích, tổng hợp; phương pháp khảo sát thực tiễn; phương pháp chuyên gia….để
làm rõ nội dung nghiên cứu.
5. Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ thực trạng hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận
thương mại của ngành Hải quan trong thời gian qua.
- Đưa ra các dự báo về tình hình buôn lậu, gian lận thương mại trong
những năm tới đồng thời đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả
công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại của ngành
Hải quan.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo; luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động phòng
chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của ngành Hải quan trong hoạt động
phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại.
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động phòng chống buôn
lậu và gian lận thương mại của ngành Hải quan.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ HOẠT
ĐỘNG PHÒNG CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG
MẠI
1.1. Cơ sở lý luận về hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận thương
mại
mại trở thành ngành sản xuất vật chất thứ hai.
Thương mại có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân thông qua
việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chấn hưng các quan hệ hàng hoá
tiền tệ. Qua hoạt động mua bán tạo ra động lực kích thích đối với người sản
xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy phân
công xã hội tổ chức lại sản xuất, hình thành nên các vùng chuyên môn hoá
sản xuất. Thương mại kích thích sự phát triển lực lượng sản xuất, trong đó lợi
nhuận là mục đích của hoạt động thương mại. Người sản xuất sẽ tìm mọi cách
để cải tiến công tác áp dụng khoa học và công nghệ mới, hạ chi phí để thu
nhiều lợi nhuận. Đồng thời, cạnh tranh trong thương mại bắt buộc người sản
xuất phải năng động, không ngừng nâng cao tay nghề, chuyên môn và tính
toán thực chất hoạt động kinh doanh, tiết kiệm các nguồn lực nâng cao năng
suất lao động. Đó là những nhân tố tác động làm cho lực lượng sản xuất phát
triển. Thương mại kích thích nhu cầu và luôn tạo ra nhu cầu mới, lợi ích của
sản phẩm hay mức độ thoả mãn nhu cầu của sản phẩm sẽ tạo ra khả năng tái
tạo nhu cầu. Thương mại một mặt, làm cho nhu cầu trên thị trường trung thực
với nhu cầu, mặt khác nó làm bộc lộ tính đa dạng, phong phú của nhu cầu.
Thương mại buộc các nhà sản xuất phải đa dạng về loại hình, kiểu dáng, mẫu
mã chất lượng sản phẩm. Điều này tác động ngược lại với người tiêu dùng,
làm bật dậy các nhu cầu tiềm năng. Tóm lại thương mại làm tăng trưởng nhu
cầu và là nguồn gốc rễ cho sự phát triển của sản xuất kinh doanh.
Thương mại góp phần mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho quan
hệ thương mại giữa nước ta với các nước khác không ngừng phát triển. Điều
đó giúp chúng ta tận dụng được ưu thế của thời đại, phát huy được lợi thế so
sánh, từng bước đưa thị trường nước ta hội nhập với thị trường thế giới, biến
nước ta thành bộ phận của phân công lao động quốc tế.
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, thương mại
thể hiện sự tự do mua bán theo giá cả thị trường, người mua và người bán
được tự do lựa chọn bạn hàng, ở đó có sự gắn kết giữa sản xuất với thương
mại. Thương mại cũng là một chức năng của sản xuất hàng hoá, giữa các
chức năng” [27, tr57].
Từ khái niệm nêu trên cho thấy, từ “buôn lậu” được chia làm hai loại
như sau:
- Trốn tránh hoặc tìm có cách trốn tránh nộp thuế/lệ phí theo quy định
hoặc
- Nhập khẩu, xuất khẩu hay có tìm cách nhập khẩu, xuất khẩu hàng hoá
nằm trong những mặt hàng cấm theo quy định của pháp luật, các chính sách
hay hạn ngạch khác.
Từ xa xưa, trong "Quốc triều Hình luật" của triều Lê (1428 - 1788)
được xem là Bộ Luật hình sự hoàn chỉnh nhất của thể chế phong kiến Việt
Nam, tội danh buôn lậu không được quy định. Mặc dù vậy "Quốc triều Hình
luật" đã quy định "những trang trại ven bờ biển mà đón tiếp thuyền buôn,
ngầm dỡ hộ hàng hoá lên bờ thì bị xử biếm (cách chức), phạt gấp 3 tang vật
để sung công …" Những người bán ruộng đất ở bò cõi, binh khí; các thứ chất
nổ có thể chế hoả tiễn, hoả pháo cho người nước ngoài đều phải tội chém",
"bán mắm muối ra nước ngoài … thì bị xử đi Châu Xa". Các mặt hàng cấm
xuất khẩu lúc đó được quy định gồm: ruộng đất, thuốc nổ, vũ khí, sắt, đồng,
vàng da trâu, gỗ lim, vỏ quế, trân châu, ngà voi … Những hành vi cụ thể, tách
biệt nói trên trong tiềm thức xã hội đều được gộp chung lại là hiện tượng
buôn lậu chứ không có tội danh buôn lậu.
Trước năm 1985, thuật ngữ "tội buôn lậu" đã được đề cập trong một số
văn bản pháp luật nước ta như Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của lực
lượng cảnh sát nhân dân (20/7/1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn
lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép (30/6/1982). Song về cơ bản tội danh
"buôn lậu" lúc đó chưa được hướng dẫn nhận diện đầy đủ với các yếu tố cấu
thành và dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Phần lớn người ta vẫn chịu ảnh hưởng
của các quan niệm truyền thống, cho rằng buôn lậu bao gồm các hành vi kinh
doanh trái phép, trốn thuế, đầu cơ tích trữ, làm hàng giả, buôn bán hàng cấm.
Từ năm 1985, Bộ luật Hình sự ra đời (27/06/1985) đã chính thức ghi
nhận tội danh buôn lậu. Điều 97 của Bộ Luật Hình sự tội buôn lậu, vận
hoạt động thương mại. Người có hành vi gian lận thương mại gọi là "gian
thương" tức là "người có nhiều mưu mô lừa lọc", "kẻ buôn bán gian lận và
trái phép". Gian lận được coi là hành vi của con người cụ thể có lời nói hoặc
cử chỉ, hành động không đúng với bản chất của sự vật hiện tượng nhằm mục
đích đánh lừa người khác. Trong dân gian gian lận thương mại gắn liền với
thành ngữ "buôn gian, bán lận" và dùng để chỉ những thủ đoạn mánh khóe lừa
lọc khách hàng hoặc người khác để thu lời bất chính. Hành vi "buôn gian, bán
lận" trong dân gian được hiểu bao gồm một số thủ đoạn đơn giản như: hàng
xấu nói tốt, ít nói nhiều, rẻ nói đắt, cân đo điêu, buôn bán hàng cấm, lén lút,
giấu giếm, lậu thuế … Hành vi gian lận thương mại trước hết phải là hành vi
gian lận được thể hiện trong lĩnh vực thương mại. Chủ thể của hành vi gian
lận thương mại là các chủ hàng, có thể là người mua hoặc người bán, cũng có
khi là cả người mua và người bán. Mục đích của hành vi gian lận thương mại
là nhằm thu lợi bất chính từ thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá.
Như vậy, gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là những hành vi
gian lận thương mại của chủ hàng trong hoạt động xuất khẩu để trốn tránh
việc kiểm soát và quản lý của Hải quan. Vấn đề này được Hội đồng Hợp tác
Hải quan (nay là Tổ chức Hải quan thế giới) chú ý từ những ngày mới thành
lập. Trong Bản khuyến nghị về giúp đỡ hành chính lẫn nhau do Hội đồng Hợp
tác Hải quan quốc tế đưa ra ngày 5/12/1975 cũng đã đề cập vấn đề giúp đỡ
hành chính lẫn nhau về chống gian lận thương mại. Qua nhiều lần bổ xung,
thảo luận, đến 9/6/1977 định nghĩa về gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải
quan mới được Hội đồng Hợp tác Hải quan quốc tế đưa ra trong Công ước
quốc tế về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong ngăn chặn, trấn áp và điều tra các
vi phạm Hải quan - Công ước Nairobi. Khái niệm về gian lận thương mại
trong lĩnh vực Hải quan được Công ước Nairobi nêu ra như sau:
"Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi phạm pháp
luật Hải quan trong đó một cá nhân lừa dối Hải quan để nhằm lẩn tránh một
phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, việc áp dụng các biện pháp
cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, hoặc thu được một khoản
Quốc,..).
5. Lợi dụng chế độ ưu đãi đối với hàng hoá gia công.
6. Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập (đây là hàng
hoá được miễn thuế xuất nhập khẩu nhưng đã sử dụng sai mục đích ).
7. Lợi dụng các yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu (thí dụ các loại
giấy phép theo nhu cầu chuyên ngành như hàng cho an ninh, quốc phòng, cho
y tế, văn hoá, xã hội …)
8. Lợi dụng chế độ quá cảnh đem dùng trong nước (ví dụ: hàng của
Lào, Trung Quốc vận chuyển qua lãnh thổ Việt Nam).
9. Khai báo sai về số lượng, chất lượng hàng hoá.
10. Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, buôn bán trái phép hàng hoá
được sử dụng nhất định (ví dụ: Hàng cho đồng bào bị bão lụt, cho các dân tộc
miền núi để xoá đói giảm nghèo, hàng cho các cơ quan ngoại giao…).
11. Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định bảo vệ
người tiêu dùng.
12. Buôn bán hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã.
13. Buôn bán hàng không có sổ sách
14. Làm giả, làm khống việc hoàn hay truy hoàn thuế Hải quan (thí dụ:
Làm giả chứng từ về hàng đã xuất …)
15. Kinh doanh "ma" để hưởng tín dụng thuế trái phép.
16. Thanh lý phá sản có chủ đích để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế (ví
dụ: Công ty đăng ký kinh doanh một thời gian ngắn, nợ thuế rồi tuyên bố phá
sản).
Nhìn chung, đối với các nước trên thế giới, tuỳ thuộc vào mức độ tác
hại, hậu quả của các hành vi gian lận thương mại đó mang lại cho xã hội sẽ bị
xử lý hành chính hay xử lí hình sự. Đối với nhiều nước như Mỹ, Nhật, Pháp
bên cạnh việc áp dụng các công ước quốc tế xử lý 16 hành vi này theo luật
Hải quan, còn quy định trong Luật Hình sự các tội danh cụ thể tương ứng với
những hành vi đó. Hiện nay, một vấn đề mới trong gian lận thương mại mà
Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) cũng đang rất quan tâm đó là gian lận
hiện để nhằm buôn bán trái phép qua biên giới thì đó chính là các hành vi
trong mặt khách quan của tội buôn lậu.
Hội nghị Quốc tế lần thứ năm (1995) về chống gian lận thương mại của
Tổ chức Hải quan thế giới tại Brussels (Bỉ) đã xếp buôn lậu vào trong các
hình thức gian lận thương mại, nhưng coi đó là loại hình gian lận thương mại
nguy hiểm, đặc biệt.
Công ước quốc tế Nairobi cũng đã đưa ra khái niệm buôn lậu và gian
lận thương mại nhằm che dấu sự kiểm tra, kiểm soát của Hải quan bằng mọi
thủ đoạn, mọi phương tiện trong việc đưa hàng hoá lén lút qua biên giới.
Trong Bộ Luật hình sự của nước ta đã ghi nhận tội buôn lậu "….buôn
bán trái phép, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới…..", tổ chức Hải
quan thế giới phân loại các hành vi gian lận thương mại có hành vi "buôn bán
hàng cấm qua biên giới hoặc ra khỏi sự kiểm soát của Hải quan", “khai báo
sai chủng loại hàng hoá", "khai tăng, giảm giá trị hàng hoá".... Đây là những
hành vi buôn bán gian lận trái pháp luật mang tính chất giống như buôn lậu.
"Buôn lậu" từ trước đến nay được nhiều người biết đến hơn là "gian lận
thương mại". Gian lận thương mại là thuật ngữ mới xuất hiện, bao gồm nhiều
hành vi gian lận, trái pháp luật hơn buôn lậu hay nói cách khác nội hàm của
nó rộng hơn nội hàm của buôn lậu. Vì vậy hai thuật ngữ này thường đi kèm
với nhau "Buôn lậu và gian lận thương mại".
1.1.3. Nguyên nhân xuất hiện buôn lậu và gian lận thương mại
Buôn lậu và gian lận thương mại là hiện tượng kinh tế - xã hội xuất
hiện trong hoạt động lưu thông hàng hoá cùng với sự ra đời của hàng rào thuế
quan. Nếu như hoạt động lưu thông hàng hoá góp phần cân bằng quan hệ
cung - cầu trên thị trường thì những nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại và phát
triển của tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại là sự chênh lệch giá cả,
nhu cầu sử dụng hàng hoá ở các vùng địa lý khác nhau, do hành vi kiếm lời
bất chính, cạnh tranh trái pháp luật, không lành mạnh.
Doanh số bán lẻ trên thị trường xã hội là chỉ tiêu phản ánh nhu cầu tiêu
dùng thực đã được thực hiện của toàn xã hội. Còn chỉ số giá cả, và theo đó là
bán phải có phải được sự cho phép của nhà nước (hàng hóa đã qua sử dụng,
biệt dược,…) vẫn bị gian thương tìm mọi cách để buôn bán kiếm lời.
Đối với mỗi quốc gia tuỳ thuộc quy định của pháp luật, chính sách
quản lý kinh tế, yêu cầu bảo hộ nền sản xuất nội địa và khả năng quản lý khác
nhau thì quy mô, tính chất, mức độ buôn lậu và gian lận thương mại cũng
khác nhau. Buôn lậu và gian lận thương mại gắn bó rất chặt chẽ với các tệ nạn
tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội khác. Trong xu thế toàn cầu hóa
hiện nay thì những tệ nạn này không ngừng gia tăng và diễn biến ngày càng
phức tạp.
1.1.4. Ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại
đối với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước
* Hậu quả đối với nền kinh tế
Buôn lậu, gian lận thương mại có tác hại rất lớn đối với nền kinh tế,
những thành tựu của công cuộc đổi mới mà đất nước đang tiến hành. Buôn
lậu, gian lận thương mại có nguy cơ kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh
tế, tạo thành một lực cản lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Hàng hoá nhập lậu là hàng gian lận, trốn thuế sẽ làm mất tính cân bằng
trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại, đồng thời làm thất
thu thuế xuất, nhập khẩu và các sắc thuế khác dẫn đến thất thu cho ngân sách
nhà nước. Thuế quan đánh trên hàng hoá xuất, nhập khẩu, nhằm mục đích làm
tăng giá của hàng nhập khẩu, bảo vệ và kích thích sản xuất nội địa. Vì vậy,
hàng nhập lậu - gian lận trốn thuế đã phá vỡ cạnh tranh lành mạnh giữa hàng
nội và hàng ngoại nhập. Hàng ngoại nhập lậu vào thị trường do trốn thuế nhập
khẩu nên giá rẻ hơn, chất lượng cao hơn hàng nội do có công nghệ sản xuất
tiên tiến, thiết bị khoa học hiện đại. Trong khi đó, những doanh nghiệp, cơ sở
sản xuất trong nước vẫn phải nhập khẩu và chịu thuế một số nguyên vật liệu,
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, họ còn phải nộp các khoản thuế
khác như: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp… Mặt khác, hệ
thống công nghệ kỹ thuật trong một số lĩnh vực sản xuất hiện vẫn còn đang
* Hậu quả về mặt văn hoá - xã hội
Buôn lậu, gian lận thương mại gây nên những hậu quả phức tạp và
nặng nề về mặt văn hoá - xã hội. Đây là một trong những yếu tố làm gia tăng
giữa giàu và nghèo, tạo đà cho việc thuê mướn, bóc lột sức lao động. Một số
tư thương đánh mất khuynh hướng tạo việc làm, chỉ mải mê làm giàu thông
qua buôn lậu, gian lận thương mại. Hiện tượng buôn lậu xuất hiện đã lôi kéo
một lực lượng lao động khá lớn tham gia vào đội quân “cửu vạn” mang vác
hàng qua biên giới. Lực lượng đó không chỉ bao gồm lao động tại chỗ, mà
còn có cả lao động từ nơi khác đến làm cho sản xuất bị buông lỏng, tình hình
trật tự an toàn xã hội cũng bị biến động. Thành phần lao động bị tiền thuê
mướn cám dỗ, có cả trẻ em ở tuổi đến trường, bỏ sản xuất, bỏ học hành làm
“cửu vạn”. Đây là đội ngũ tiếp tay và bao che cho buôn lậu, có những làng
thuộc khu vực biên giới đường bộ người dân ở đây bỏ cả sản xuất, coi việc
mang vác, vận chuyển “thuê” hàng hoá nhập lậu là một nghề để sinh sống.
Tệ nạn buôn lậu, gian lận thương mại là nguyên nhân làm suy thoái đạo
đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục và truyền thống văn hoá
dân tộc. Những kẻ buôn lậu không từ một thủ đoạn nào để thu được nhiều lợi
nhuận bất chính, đồng tiền bất chính đã làm hại những người đi buôn lậu, làm
nẩy sinh các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, rượu chè… ảnh hưởng nghiêm trọng
đến nhân các con người, làm cho đạo đức của nhiều kẻ bị tha hoá. Không chỉ
có thế, buôn lậu và gian lận thương mại bao giờ cũng dẫn đến tiêu cực, tham
nhũng dễ dẫn đến tha hoá một bộ phận cán bộ công chức của Nhà nước. Thực
tế cho thấy những ngành chức năng trong hoạt động chống buôn lậu, gian
thương mại; trong điều hành, thực thi chính sách thương mại hoặc liên quan
đến hoạt động thương mại nếu không vững vàng sẽ bị lôi kéo, mua chuộc và
trở thành nô lệ của đồng tiền. Do bị lôi kéo bởi khoản lợi nhuận khổng lồ,
gian thương tìm mọi mánh khoé, mọi thủ đoạn để móc nối với một số cán bộ
Nhà nước bị tha hoá, biến chất. Do bị sự cám dỗ của đồng tiền mà họ đã lợi
dụng vị trí, quyền lực nhà nước giao cho để cấu kết với buôn lậu, tiếp tay và
bao che cho các buôn lậu, gian lận thương mại và hình thành những đường
Một trong những hậu quả nữa của buôn lậu gây ra về mặt chính trị là
tác hại của nó đối với chủ quyền và an ninh quốc gia. Ngày nay, hoà bình,
hợp tác để phát triển đang trở thành xu hướng của thời đại, sức mạnh quân sự
đang được thay thế bằng sức mạnh kinh tế. Với ưu thế về kinh tế khoa học, kỹ
thuật, các nước tư bản phát triển đã và đang thực hiện chiến lược “biên giới
mềm” đẩy thế giới vào cuộc chiến tranh không có khói lửa - chiến tranh kinh
tế. Kinh tế thị trường là giải pháp hữu hiệu để tăng trưởng kinh tế, nên các
nước chậm phát triển đều có xu hướng phát triển kinh tế thị trường, mở rộng
quan hệ với nước ngoài để thu hút vốn và khoa học kỹ thuật tiên tiến. Với
chính sách mở cửa thì cuộc chiến tranh giành thị trường nổ ra không kém
phần gay go so với các hình thức chiến tranh khác.
Chủ quyền lãnh thổ bị đe dọa với hình thức xâm lăng mới, đó là “diễn
biến hoà bình” và “chiến tranh biên giới mềm”, hàng hoá đến đâu là biên giới
đến đó - dần dần các nước chậm phát triển từng bước phụ thuộc vào kinh tế
và cuối cùng phải phụ thuộc vào chính trị. Trên thực tế, biên giới nhiều quốc
gia vẫn còn nguyên vẹn, bộ máy nhà nước vẫn do những cán bộ trong nước
điều hành, nhưng thực chất độc lập, chủ quyền lãnh thổ bị mất. Vì vậy, bảo vệ
an ninh biên giới không chỉ là việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà thực chất là
bảo vệ các tiềm năng - yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Bảo vệ an ninh
quốc gia góp phần bảo vệ vững chắc nguồn nhân lực, vật lực, tài lực là phục
vụ cho sự phát triển của nền kinh tế và sự vững chắc của chế độ chính trị.
* Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội
Buôn lậu, gian lận thương mại gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối
nền kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị, đây là những hậu quả trực tiếp dễ nhìn
nhận. Một hậu quả khác không kém phần nguy hại là hậu quả của buôn lậu,
gian lận thương mại dưới góc độ cả về vĩ mô và vi mô. Nó làm cho cơ quan
quản lý nhà nước không kiểm soát được tình hình xuất nhập khẩu và liên
doanh đầu tư với ngoài; công tác điều hành của cơ quan chức năng gặp nhiều
khó khăn và hoạt động kém hiệu quả.
Xét về góc độ quản lý vĩ mô, buôn lậu và gian lận thương mại là một
ổn định, giá cả không ổn định nên buôn lậu là nguyên nhân gây nên những
cơn sốt về hàng, về giá cả hàng hoá làm cho thị trường nội địa không thiết
lập, lưu thông hàng hoá bị rối loạn và gây ách tắc cho sản xuất và tiêu dùng
trong nước.
* Ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng
Hành vi buôn lậu có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ, giống nòi của
cộng đồng thông qua việc đưa hàng giả, hàng nhái hoặc những loại hàng kém
phẩm chất, không đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định của nhà nước tuồn
vào tiêu thụ trong nội địa đặc biệt là các loại hàng hoá phải đảm bảo tiêu
chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn về y tế, tiêu chuẩn chất lượng
như: Tân dược, đồ chơi trẻ em, mũ bảo hiểm, rượu, nước giải khát…
Tóm lại những hậu quả và tác hại do buôn lậu, gian lận thương mại gây
nên đó là: Làm mất ổn định giá cả thị trường, kìm hãm sản xuất trong nước,
ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, gây thất thu cho ngân sách cho nhà nước,
tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳng giữa hàng nội và hàng ngoại, là
nguyên nhân phát sinh các tiêu cực trong xã hội. Vì vậy tệ nạn buôn lậu, gian
lận thương mại phải được ngăn chặn một cách triệt để và là nhiệm vụ của toàn
xã hội, trong đó có ngành Hải quan.
1.1.5. Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của ngành Hải quan đối với hoạt
động phòng chống buôn lậu và gian lận thương mại
“Hải quan” theo từ điển tiếng Việt được hiểu là “cơ quan làm công tác
kiểm soát, đánh thuế xuất nhập cảng” [6, tr 771]. Theo nghĩa rộng, khái niệm
Hải quan được hiểu là cơ quan Nhà nước thực hiện quản lý (kiểm tra, giám
sát, kiếm soát) đối với hàng hoá, phương tiện đưa ra, đưa vào lãnh thổ quốc
gia, và thu thuế quan đối với các đối tượng theo quy định phải chịu thuế.
Xét về lịch sử phát triển, thuật ngữ “Hải quan” có nguồn gốc từ
“Douane” (thu quốc gia) của người Ai Cập ngay từ khi Nhà nước của quốc
gia này hình thành. Sau đó, La Mã đã Latinh hoá, và Pháp cũng sử dụng thuật
ngữ này. Hy Lạp và Đức gọi là Rull (thu quốc gia). Anh và các nước nói tiếng
Anh gọi là “Customs” (tập quán) ... .