BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
---------------
HỌ TÊN HỌC VIÊN: NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
ĐỀ TÀI :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHI NHÁNH TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
TP. HCM – THÁNG 8 NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu nêu trong luận văn này được thu thập từ nguồn thực
tế, được công bố trên các báo cáo của các cơ quan nhà nước; được đăng tải trên các tạp
chí, báo chí, các website hợp pháp. Những thông tin và nội dung nêu trong đề tài đều
dựa trên nghiên cứu thực tế và hoàn toàn đúng với nguồn trích dẫn.
Tác giả đề tài
Nguyễn Thị Lan Phương
i
1.1.2. Rủi ro tín dụng ...............................................................................................6
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng.......................................................................................16
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng................................................................ 16
1.2.2. Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng .......................................................16
1.2.3. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng ...........................................................17
1.2.4. Nội dung Quản trị rủi ro tín dụng ................................................................ 17
1.2.5. Một số công cụ cần thiết trong quản trị rủi ro tín dụng ............................... 20
1.2.6. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng tại một số Ngân hàng trong nước: ....22
1.3. Kết luận chương 1 ..............................................................................................25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK
TỈNH QUẢNG NGÃI..................................................................................................27
2.1. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank chi nhánh
Quảng Ngãi ........................................................................................................27
2.1.1. Đặc điểm quá trình hình thành, chức năng, nhiệm vụ của Agribank ...........27
iii
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Agribank chi nhánh Quảng Ngãi ...28
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank chi nhánh Quảng Ngãi ......29
2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Quảng Ngãi. ......................34
2.2.1. Các rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Quảng Ngãi ............................34
2.2.2. Hậu quả từ rủi ro tín dụng ............................................................................39
2.3. Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh
Quảng Ngãi ........................................................................................................40
2.3.1. Định hướng, mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng .............................................40
2.3.2. Thực trạng công tác triển khai thực thi các nội dung quản trị rủi ro tín dụng
tại Agribank Chi nhánh Quảng Ngãi ...........................................................40
2.4. Đánh giá chung về công tác quản trị rủi ro tại Agribank Chi nhánh Quảng Ngãi
thời gian qua .......................................................................................................46
2.4.1. Về tổ chức điều hành QTRR tín dụng..........................................................46
: Quản trị rủi ro tín dụng
TCTD
: Tổ chức tín dụng
NH
: Ngân hàng
TSBĐ
: Tài sản bảo đảm
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới
v
BẢNG BIỂU
(Đơn vị tính: tỷ đồng)
Bảng 1: Tình hình huy động vốn tại Agribank chi nhánh Quảng Ngãi giai đoạn
2012 – 6/2015 ....................................................................................... 30
Bảng 2: Dư nợ cho vay tại Agribank chi nhánh Quảng Ngãi giai đoạn 2012 –
6/2015 ................................................................................................... 32
Bảng 3: Tình hình thu nhập - chi phí giai đoạn 2013 -6/2015 ............................... 33
Bảng 4: Nợ quá hạn theo thời hạn cho vay .......................................................... 34
chính Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh đó, đầu tư trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng
cũng đặt ra nhiều thách thức và rủi ro đối với các ngân hàng thương mại của Việt
Nam. Trong thời gian qua, hoạt động kinh doanh tiền tệ - ngân hàng của Việt Nam
phát triển mạnh mẽ. Tính hấp dẫn của kinh doanh tiền tệ - ngân hàng được đánh giá là
cao hơn so với các ngành kinh tế khác thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu. Thách thức lớn nhất đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam nằm ở nội lực
của chính các ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ, nguồn nhân lực hạn chế, trình độ công
nghệ còn chậm tiến so với các nước trong khu vực. Mặc dù vốn điều lệ của các ngân
hàng đã tăng mạnh so với trước đây nhưng còn nhỏ bé so với thế giới và khu vực. Hệ
thống ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm thị phần chủ yếu về thị trường huy động
vốn đầu vào và thị trường tín dụng. Trong khi đó, hệ số an toàn vốn bình quân của các
ngân hàng thương mại Việt Nam thấp, chưa đạt tỷ lệ theo yêu cầu của ngân hàng Nhà
nước và thông lệ quốc tế (8%). Chất lượng và hiệu quả sử dụng tài sản thấp, lại phải
đối phó với rủi ro lệch kép là rủi ro kỳ hạn và rủi ro tỷ giá. Tình hình nợ quá hạn vẫn
có xu hướng giảm nhưng chưa chắc chắn, trong đó đáng chú ý là các Tổ chức tín dụng
Nhà nước. Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nợ quá hạn gia tăng tại các ngân
hàng thương mại Nhà nước là do: việc cho vay chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, trong
khi thị trường bất động sản và thị trường hàng hóa chưa phát triển và còn nhiều biến
động phức tạp; tự do hóa lãi suất có xu hướng làm cho mặt bằng lãi suất trong nước
tăng lên, tạo điều kiện thu hút thêm nguồn vốn nhàn rỗi vào hệ thống ngân hàng. Tuy
nhiên, lãi suất tiền gửi tăng lên làm cho lãi suất cho vay cũng tăng, tạo thêm gánh nặng
về chi phí cho các doanh nghiệp phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn vay từ ngân hàng.
1
Hậu quả là, ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay để nuôi nợ, dẫn đến tình trạng mất vốn
ngày càng lớn. Theo các chuyên gia kinh tế cho rằng nếu trích lập đầy đủ những khoản
nợ khoanh và nợ khó đòi thì vốn tự có của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam,
nhất là ngân hàng thương mại Nhà nước ở tình trạng âm. Một yếu điểm nữa của thị
trường tài chính nước ta là cơ cấu hệ thống tài chính còn mất cân đối, hệ thống ngân
định tính trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy
vật lịch sử. Kết nối mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, nghiên cứu trong một thời
gian nhất định.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: trên cơ sở thực tiễn tại Agribank chi nhánh
Quảng Ngãi về Công tác quản trị rủi ro tín dụng qua quá trình thực tiễn, quan sát, điều
tra, trao đổi thông tin với những người có trách nhiệm và liên quan.
Phương pháp xử lý tài liệu: khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu tại Agribank chi
nhánh Quảng Ngãi với phương pháp thống kê, so sánh và phân tích các yếu tố để đưa
ra nhận xét tổng thể, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả
Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Quảng Ngãi.
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Phân tích, đánh giá một cách có hệ thống thực trạng hoạt động tín dụng, rủi ro
tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Quảng Ngãi, tìm ra các
nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại ngân hàng trong thời gian
qua và hiện tại.
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân
hàng hướng đến thực hiện thành công các mục tiêu kinh doanh của Agribank Chi
nhánh Quảng Ngãi trong thời gian tới.
1.5. Kết cấu luận văn:
-
Giới thiệu nghiên cứu.
-
Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank Chi nhánh Quảng
Ngãi.
-
Thời hạn cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì liên quan mật
thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách
hàng. Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay ≤ 12 tháng và thường
được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh
nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng. Tín dụng
trung hạn nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định như: cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ
và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 60 tháng, tín dụng dài hạn được sử
dụng để tài trợ vốn cho các dự án đầu tư có quy mô lớn, cấp vốn xây dựng cơ bản như:
4
đầu tư xây dựng các doanh nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng( đường sá,
bến cảng, công trình thủy lợi, thủy điện...)
* Căn cứ vào hình thức tài trợ:
Tín dụng ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ như: chiết khấu thương phiếu hoặc
giấy tờ có giá ngắn hạn, cho vay, bảo lãnh và cho thuê tài chính.
- Chiết khấu: là việc tổ chức tín dụng mua thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn
hạn khác của người thụ hưởng chưa đến hạn thanh toán.
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu
một thương phiếu chưa đến hạn thanh toán. Về mặt pháp lý, thì ngân hàng không phải
đã cho vay đối với chủ thương phiếu mà chỉ là hình thức trao đổi trái quyền. Tuy
nhiên, đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong
tương lai với lãi suất xác định trước là hoạt động tín dụng.
- Cho vay: là việc ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử
dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả
khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản bảo đảm có giá trị lớn..
- Nợ quá hạn khó đòi: là những khoản nợ quá hạn lâu ngày, khả năng trả nợ
kém, không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có nhưng tài sản thế chấp, cầm cố xử lý
không thu hồi đủ nợ gốc, lãi, khách hàng chây ỳ...
- Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: là các khoản nợ do thiên tai bất khả
kháng, người vay chết không còn tài sản, không người thừa kế...
Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn có thể được phân loại theo một số tiêu thức
như: theo ngành kinh tế(cho vay nông nghiệp, công nghiệp, thương mại...); theo đối
tượng tín dụng(tài trợ cho tài sản lưu động, tài sản cố định); theo mục đích sử dụng
vốn vay(cho vay sản xuất, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay nhu cầu đời
sống...); theo phương thức cho vay(cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng,
cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng...).
1.1.2. Rủi ro tín dụng
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là một lĩnh vực hoạt động nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đặc biệt trước xu thế hội nhập các ngân hàng sẽ phải đối phó với cạnh tranh cũng như
nhiều loại hình rủi ro khác. Hơn nữa do nước ta có xuất phát điểm của các ngân hàng
khác thấp so với các nước trong khu vực nên việc phải tập trung phát triển và quan tâm
đến lợi nhuận được xem là ưu tiên số 1, nhiều NHTM đã xem nhẹ rủi ro trong hoạt
6
động tín dụng. Những rủi ro này có thể mang những tổn thất nghiêm trọng, đó là lý do
tại sao tỉ lệ nợ quá hạn rất cao, khả năng kiểm soát thì rất thấp. Để hạn chế bớt rủi ro
cho hoạt động tín dụng trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là rủi ro tín dụng. Có rất
nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng:
-
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng,
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi
NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
-
Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong
hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm
bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
7
-
Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt
động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử
lý các khoản vay có vấn đề.
-
Rủi ro danh mục: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong
quản lý danh mục cho vay của NH, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập
trung.
-
Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể
đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc
đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay.
-
-
Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động
khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận
tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng
tài trợ…
8
1.1.2.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm
của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản
sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng
giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng. Do tình
trạng thông tin bất cân xứng nên thông thường ngân hàng ở vào thế bị động,
ngân hàng thường biết thông tin sau hoặc biết thông tin không chính xác về
những khó khăn, thất bại của khách hàng và do đó thường có những ứng phó
chậm trễ.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự
đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng do
đặc trưng NH là NH trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng
ngừa và xử lý rủi ro tín dụng phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ
nguyên nhân bản chất và hậu quả do rủi ro tín dụng đem lại để có biện pháp
phòng ngừa phù hợp.
- Môi trường pháp lý: Là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro tín
dụng. Đó là sự thiếu đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật, các biện
pháp thi hành pháp luật và sự tuân thủ không nghiêm chỉnh pháp luật của các
chủ thể tham gia kinh doanh và các ngành có liên quan. Chính nhân tố môi
trường này đã không đảm bảo tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa
các doanh nghiệp, không tạo ra tính an toàn cho các hoạt động kinh doanh. Một
môi trường pháp lý không hoàn chỉnh vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp và
ngân hàng, vừa tạo khe hở để kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho cả doanh nghiệp và
ngân hàng.
- Nhân tố xã hội: Là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Tín
dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin. Do đó đạo đức xã hội có liên quan
tới rủi ro tín dụng trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo; hoặc do trình
độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới hiểu chưa đùng đắn bản chất của hoạt
động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng, kinh doanh kém hiệu
quả gây tổn thất với ngân hàng, hoặc do sự thay đổi yếu tố tâm lý xã hội cũng
có khả năng hạn chế việc trả nợ của người vay.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng chịu tác động của các biến cố như thiên tai, chiến
tranh…không thể lường trước có tác động trực tiếp và ảnh hưởng nghiêm trọng tới kế
hoạch trả nợ vay của người đi vay.
10
Bên cạnh đó những thay đổi, điều chỉnh về cơ chế, về chính sách kinh tế vĩ
mô…cũng có thể đặt doanh nghiệp vào những tình huống khó khăn có thể kéo theo
nguy cơ thiệt hại cho ngân hàng.
b) Các nhân tố chủ quan
* Các nhân tố thuộc về khách hàng:
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng luôn có hai chủ thể là ngân khách hàng và
-
Trước tiên, phải kể đến sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Nếu cán bộ làm công
tác ngân hàng, nhất là cán bộ tín dụng, non kém về trình độ, về năng lực nghiệp
11
vụ, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng xử lý thông tin và thẩm định dự
án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, xác định kỳ hạn của các khoản vay
chưa phù hợp, không có khả năng theo dõi các khoản tín dụng đã cấp từ đó dẫn
đến chất lượng tín dụng thấp, mức độ rủi ro cao. Gắn liền với hạn chế về năng
lực, vấn đề về phẩm chất đạo đức của cán bộ. Tư chất đạo đức kém, thiếu tinh
thần trách nhiệm làm cho con người dễ bị lôi cuốn bởi những cán dỗ vật chất có
thể hành động trái đạo lý, trái pháp luật, gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng.
-
Thứ hai là vấn đề chất lượng thông tin thấp. Thông tin ở đây bao gồm cả thông
tin tài chính và phi tài chính. Có thể khái quát là những thông tin liên quan đến
những hoạt động sản xuất kinh doanh trước đây và nhu cầu trong hiện tại của
khách hàng và những thông tin phản ánh trình độ, năng lực quản lý, uy tín, quan
hệ của khách hàng, tình hình kinh tế - xã hội, xu hướng phát triển, quan hệ cung
cầu, cạnh tranh của một ngành kinh doanh trên thị trường. Yêu cầu đối với
thông tin là phải chính xác, đầy đủ, kịp thời.
- Thứ ba là nhân tố chính sách tín dụng của ngân hàng. Nếu không phù hợp sẽ
làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng và có thể tạo ra nhiều rủi ro. Thí dụ
như nhiều ngân hàng lại quá chú trọng vào việc có hay không có tài sản thế
chấp, chỉ đặt ra yêu cầu có thế chấp đầy đủ là được nhận tín dụng, dẫn đến việc
vào tình trạng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến nguy cơ gặp rủi ro thanh
khoản. Và kết quả là làm thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy
tín, sức cạnh tranh giảm không những trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các
nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn ngân hàng đến thua
lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
b) Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Bắt nguồn từ bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài
chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, các doanh
nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do đó, thực chất quyền sở hữu những khoản cho
vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng. Bởi vậy, khi rủi ro tín dụng
xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng
bị ảnh hưởng. Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi
tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân
hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp phải khó khăn. Ngân hàng phá sản
sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không có tiền trả
lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các
ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy
13
thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định. Tóm lại, rủi ro
tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau, nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm
lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu đủ
vốn lãi, hoặc bị mất cả vốn lẫn lãi, dẫn đến ngân hàng bị thua lỗ. Nếu tình trạng này
kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng
cho nến kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các
nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp để
ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
1.1.2.6. Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
e) Nhóm chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro tín dụng
Tỷ lện trích lập DPRR tín dụng = DPRR tín dụng trích lập / Dư nợ bình quân
Tùy theo mức độ rủi ro mà TCTD phải trích lập DPRR từ 0 đến 100% giá trị
khoản vay. Như vậy nếu ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì tỉ lệ này càng
cao.
Tỷ lệ xóa nợ = Nợ đc xóa / Dư nợ BQ
Những khoản nợ khó đòi sẽ bị xóa và bù đắp bởi quỹ DPRRTD. Như vậy nếu 1
ngân hàng có tỷ lệ xóa nợ cao chứng tỏ chất lượng tín dụng không tốt.
f) Nhóm chỉ tiêu phân tán rủi ro
Giới hạn cho vay tối đa đối với một khách hàng theo quy định của pháp luật
Dư nợ cho vay 10 khách hàng lớn nhất trên tổng dư nợ
Phân tán rủi ro theo ngành kinh tế
Phân tán rủi ro theo khu vực địa lý
g) Tỷ lệ nợ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ nợ quá hạn = (Tổng dư nợ nợ quá hạn/Tổng dư nợ) x 100%
1.1.2.7. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Kinh doanh NH là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động NH luôn phải
đối diện với rủi ro. Vì vậy, nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng giúp
NH có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại. Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản
sau đây:
a) Những nguyên nhân thuộc về ngân hàng cho vay
Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn
đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một DN
hoặc một ngành kinh tế nào đó.
Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy
đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý.
15
Do cạnh tranh của các NH mong muốn có tỷ trọng, thị phần cao hơn các NH
16
đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và QTRRTD hiệu quả.
Một khi ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có RRTD cao thì ngân hàng có khả
năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính thanh khoản thấp. Điều này có thể
làm giảm hoạt động kinh doanh cũng như lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí có thể
dẫn đến phá sản. Cho nên, các NHTM cần phải chú trọng hơn nữa đến QTRRTD để có
những giải pháp cụ thể nhằm ngăn ngừa và hạn chế tối đa RRTD xảy ra.
QTRRTD là thước đo năng lực kinh doanh của các NHTM. Tình hình kinh tế
ngày càng có nhiều biến động, thị trường tài chính, tiền tệ và ngân hàng cũng diễn biến
phức tạp hơn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là RRTD. Mặc dù, trước khi cho vay nhân
viên ngân hàng đã tìm hiểu thị trường và dự đoán những rủi ro có thể xảy ra nhưng sự
tiên liệu, phát hiện rủi ro tiềm ẩn và ứng phó của nhân viên ngân hàng là có giới hạn,
trên thực tế RRTD phát sinh do nhiều nguyên nhân, có thể do nguyên nhân khách
quan, chủ quan hay do bất khả kháng… Vì vậy, QTRRTD phải được xem là một
nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo năng lực kinh doanh của các NHTM để ngăn ngừa
và hạn chế tối đa những tổn thất do RRTD gây ra.
QTRRTD tốt là một lợi thế cạnh tranh của các NHTM QTRRTD được thực
hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng sàn lọc được những khách hàng có năng lực
pháp lý tốt, năng lực tài chính tốt, có tiềm năng phát triển… nhằm giúp cho việc tài trợ
vốn của ngân hàng thực sự mang lại hiệu quả, và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các
NHTM trong quá trình cạnh tranh
1.2.3. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng
Mục tiêu của QTRRTD là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở giữ mức độ
RRTD hoặc tổn thất tín dụng ở mức ngân hàng có thể chấp nhận, được kiểm soát và
trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng.
1.2.4. Nội dung Quản trị rủi ro tín dụng
Theo cách tiếp cận của quản trị rủi ro hiện đại, nội dung chính của hoạt động
quản trị rủi ro gồm có bốn bước là nhận diện rủi ro; đo lường rủi ro; kiểm soát rủi ro;