giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam - Pdf 23

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
____________________________
Họ và tên tác giả luận văn: Phan Đăng Lưu
Lớp: Cao học 13.01 A
ĐTDĐ: 0913 010 504
Cơ quan công tác: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS Tô Ngọc Hưng
Học viện Ngân hàng – Hà Nội
HÀ NỘI – 2013
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
ATM Máy rút tiền tự động
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam
CBTD Cán bộ tín dụng
CIC Trung tâm thông tin tín dụng
Cty CP Công ty cổ phần
DPRR Dự phòng rủi ro
GDP Tổng sản phẩm quốc dân
HĐQT Hội đồng quản trị
HĐTV Hội đồng thành viên
HTX Hợp tác xã
HTXHTDNB Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
NHTM Ngân hàng Thương Mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
PN&XLRR Phòng ngừa và xử lý rủi ro

của các ngân hàng Việt Nam trước yêu cầu mở cửa thị trường tài chính dịch vụ
theo các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Từ thực tiễn trên, là một nhân viên đang làm việc tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tôi chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện
công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh kế tài chính ngân
hàng. Hy vọng luận văn sẽ đóng góp những giải pháp thiết thực, từng bước hoàn
thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng để đầu tư cho vay ngày một tốt hơn, hoạt
động ngân hàng luôn an toàn, hiệu quả tương xứng với vị thế của Ngân hàng
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
3
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế
đất nước.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần hệ thống hoá để từng bước hoàn thiện lý luận cơ bản về quản
trị rủi to tín dụng của ngân hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín
dụng, củng cố, hoàn thiện nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của
Agribank.
- Nâng cao kỹ năng, phương pháp nghiên cứu.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về công tác quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng trong hệ thống
Agribank.
Sử dụng các Báo cáo thường niên, báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề…
của Agribank, kỷ yếu hội thảo khoa học và các tài liệu có liên quan đến đề tài.
Phạm vi nghiên cứu từ thực tiễn của công tác tín dụng và quản trị rủi ro tín
dụng trong hệ thống Agribank từ năm 2009 đến năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu:

chứa đựng nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra
khi cấp tín dụng cho khách hàng. Bất kỳ một khoản tín dụng nào được cấp ra đều
phải tuân thủ theo nguyên tắc sau đây:
- Khoản tín dụng đó phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
- Khoản tín dụng đó phải được hoàn trả cả vốn và lãi đúng kỳ hạn đã cam
kết.
Trên thực tế, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vì một lý do
nào đó có thể là chủ quan hoặc là khách quan khiến cho nguyên tắc thứ hai bị vi
phạm tức là khoản tín dụng đó không được hoàn trả đúng kỳ hạn đã cam kết.
Điều này sẽ làm cho ngân hàng chịu mọi khoản tổn thất như thiếu vốn khả dụng,
mất khả năng thanh toán. Những tổn thất này người ta gọi là rủi ro tín dụng. Vậy
từ đây ta có thể rút ra một khái niệm đầy đủ về rủi ro tín dụng:
“Rủi ro tín dụng là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu
do người vay vốn hay người sử dụng vốn của ngân hàng không trả đúng hạn,
không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng tín dụng với bất kỳ lý
do nào”.
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
6
1.1.2.1. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng (RRTD)
được phân chia thành hai loại:
- Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá
trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba
bộ phận:
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín
dụng, khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định
cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức
đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.

- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm phát luật
trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Chậm hoặc trì hoãn các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng
mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục.
- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh các khoản nợ nhiều lần không rõ lý do.
- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng.
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn thanh toán.
- Xuất hiện nợ quá hạn vì : tiêu thụ hàng chậm, thu hồi công nợ chậm
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, vượt quá nhu cầu dự kiến.
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so
với định giá cho vay, có các dấu hiệu cho người khác thuê, bán hoặc trao đổi
- Dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ vào các nguồn thu nhập ngoài
sản xuất kinh doanh hoăc tìm kiếm sự tài trợ từ nhiều nguồn.
- Dấu hiệu đầu tư các khoản tiền ngắn hạn cho hoạt động đầu tư dài hạn.
- Chấp nhận nguồn sử dụng lãi suất cao với mọi điều kiện.
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
8
b. Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính và
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng:
- Có sự chênh lệch lớn giữa doanh thu thực tế so với mức dự kiến.
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản.
- Xuất hiện phí bất hợp lý: quảng cáo, tiếp khách quá mức, phô trương…
- Thay đổi thường xuyên tổ chức hoặc ban điều hành
- Bỏ hợp đồng nhỏ và vừa có tỷ suất lợi nhuận cao, để tìm hợp đồng lớn
nhưng tỷ suất lợi nhuận lại thấp.
- Quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đến đầu tư không hiệu quả.
- Khó khăn khi phát triển sản phẩm dịch vụ mới.
- Tung sản phẩm ra thị trường quá sớm hoặc đặt áp lực thời gian sinh lời.
- Thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, dẫn đến mất mùa, thất thu, mất tài sản.
- Đối với khách hàng là tư nhân, có dấu hiệu của bệnh kéo dài hoặc chết.

không tiêu thụ được làm suy giảm khả năng tài chính của khách hàng, khả năng
trả nợ của khách hàng kém đồng nghĩa với tăng RRTD.
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển quá nóng, ngân hàng nhà nước sẽ áp
dụng chính sách tiền tệ thăt chặt, lãi suất thị trường tăng, doanh nghiệp sẽ phải đi
vay với lãi suất cao hơn dẫn đến chi phí tài chính tăng. Trong khi đó thì doanh
thu của doanh nghiệp giảm một cách rõ rệt, vì vậy RRTD sẽ gia tăng.
- Môi trường chính trị, pháp luật:
Khi một quốc gia có nền chính trị không ổn định, có chiến tranh, hay xảy
ra các cuộc bạo loạn, đình công, tranh chấp giữa các đảng phái thì việc triển
khai dự án đầu tư của các doanh nghiệp chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn và ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng.
- Do môi trường pháp lý:
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
10
Cơ chế chính sách của nhà nước tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất
kinh doanh và môi trường đầu tư vốn của các ngân hàng. Khi có sự thay đổi, điều
chỉnh luật pháp, chính sách, chế độ của Nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành
chính của các địa phương, sự sát nhập hay chia tách của các cơ quan, bộ ngành
mặc dù những thay đổi và điều chỉnh đó là tất yếu trong quá trình phát triển của
một đất nước nhưng sẽ tác động trực tiếp tới mọi cá nhân, tổ chức kinh tế - các
khách hàng của ngân hàng, đó cũng là nguyên nhân có thể mang đến rủi ro.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) bước đầu đã cung cấp
thông tin khá kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên thông tin cung
cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật. Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng
trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng trong điều kiện thiếu một hệ thống
thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng
tín dụng với những thông tin không đầy đủ thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ
thống ngân hàng.
- Môi trường quốc tế:

kém phẩm chất, không phù hợp với thị trường, khó tiêu thụ; hoặc do: cạnh tranh
trên thị trường, thị hiếu thay đổi,… Tất cả các nguyên nhân này làm doanh thu
của doanh nghiệp giảm sút.
+ Khách hàng sử dụng sai mục đích, do đó mất vốn hoặc hiệu quả đầu tư
thấp không trả đươc nợ dẫn đến nợ quá hạn.
+ Khả năng quản lý điều hành: Trình độ, năng lực quản lý hạn chế, thiếu
trình độ, kinh nghiệm chuyên môn dẫn tới việc tổ chức và việc điều hành sản
xuất kinh doanh yếu kém, tài chính không rõ ràng minh bạch, hiệu quả sử dụng
vốn giảm, khả năng trả nợ giảm.
+ Do sự thay đổi nhân sự hoặc thay đổi sở hữu doanh nghiệp: có sự thay
đổi về đội ngũ chủ chốt trong doanh nghiệp, bộ máy quản lý không đồng bộ, điều
hành kém, hiệu quả sản xuất không cao, giảm số lượng và chất lượng sản phẩm.
Lúc đó doanh nghiệp sẽ không thu được lợi nhuận sự kiến hoặc bị thua lỗ.
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
12
+ Do tình trạng tham nhũng diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp.
1.1.4.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Nguyên nhân rủi ro từ phía ngân hàng hết sức quan trọng do ngân hàng là
chủ thể của các hoạt động tín dụng. Theo đánh giá của quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì
50% ngân hàng phá sản trên thế giới là do năng lực quản lý yếu kém. Nguyên
nhân cụ thể như sau:
-Ngân hàng thiếu một chính sách cho vay rõ ràng, chính sách cho vay
không phù hợp với thực trạng nền kinh tế. Thực tế chứng minh sự hoạt động của
một ngân hàng dựa trên cơ sở chính sách thống nhất hiệu quả nhiều hơn là dựa
trên cơ sở kinh nghiệm và trao quyền quyết định cho giám đốc. Chính sách cho
vay ở đây phải được hiểu theo nghĩa đầy đủ, bao gồm: định hướng chung cho
việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, các quy định về
bảo đảm tiền vay, về loại khách hàng mà ngân hàng cho vay quan tâm, ngành
nghề được ưu tiên, quy trình xét duyệt cho vay cụ thể Chính sách cho vay có
thể ví như kim chỉ nam cho hoạt động kinh doanh của một ngân hàng.

- Thiếu sự hợp tác, phối hợp giữa các ngân hàng:
Hoạt động ngân hàng là một nghề kinh doanh đặc biệt, các ngân hàng cần
phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro. Sự hợp tác nảy sinh do nhu
cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng có quan hệ tín
dụng với nhiều ngân hàng. Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một
khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Do thiếu trao đổi
thông tin, nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng dẫn đến mức vượt quá
giới hạn tối đa, khi có rủi ro mọi ngân hàng đều phải gánh chịu.
1.1.4.4. Nguyên nhân từ các bảo đảm tín dụng
- Trường hợp bảo đảm bằng tài sản:
+ Do sự biến động của giá trị tài sản đảm bảo theo chiều hướng bất lợi. Tài
sản đảm bảo khó định giá, khó phát mại
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
14
+ Do doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận, nắm giữ các tài sản
đảm bảo để xử lý chúng. Có những tranh chấp tài sản về mặt pháp lý.
- Trường hợp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh): Người bảo lãnh không thực
hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho người vay ngân hàng khi người này không có
khả năng trả nợ.
Tóm lại, RRTD có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc
khách quan. Trong phạm vi quản lý của các ngân hàng, RRTD phụ thuộc vào
năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ khâu xem
xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay. Khả năng cấp tín dụng
phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng và các bộ phận có liên
quan đồng thời phụ thuộc vào nguồn vốn của ngân hàng.
1.1.5. Ảnh hưởng của RRTD đến nền kinh tế và ngân hàng
1.1.5.1. Đối với nền kinh tế
- RRTD có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính của cả một quốc
gia. Do sự ràng buộc chặt chẽ giữa các trung gian tài chính trong hệ thống tài
chính, rủi ro tín dụng có thể châm ngòi cho hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền khiến hệ

nhập.Vì vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng tập trung chủ yếu ở danh
mục tín dụng. Khi ngân hàng rơi vào tình trạng khó khăn, nguyên nhân thường
phát sinh từ hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, trong hoạt động, các ngân hàng chỉ
chấp nhận RRTD mà mức độ thiệt hại tối đa không cao hơn mức lợi nhuận mong
đợi. Thực tế, mọi trường hợp các ngân hàng đều có thể tính toán khả năng chấp
nhận rủi ro qua mô hình dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Mô hình khả năng rủi ro của ngân hàng
Khả năng thiệt hại của ngân hàng
Lợi nhuận Chi phí Vốn tự có
Vùng rủi ro cho phép Vùng rủi ro nguy hiểm Vùng rủi ro thảm khốc
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
16
Đ
i

m

b

t

đ

u

g
i

m


i

m

k
h
ô
n
g

c
ó

d
o
a
n
h

t
h
u
Đ
i

m

m

t

mức độ nghiêm trọng, hiện tượng rút tiền hàng loạt có thể xảy ra. Nếu không có
đủ ngồn dự phòng và được xử lý kịp thời, ngân hàng có thể sụp đổ và gây ra hiệu
ứng lan truyền đặc trưng của hệ thống ngân hàng, ảnh hưỏng một cách sâu rộng
đến nền kinh tế và toàn xã hội.
Khi năng lực QTRRTD chưa tốt, mở rộng tín dụng cũng đồng nghĩa với
gia tăng thua lỗ. Năng lực quản trị rủi ro yếu kém dẫn đến hạn chế tăng trưởng tín
dụng, hậu quả ngân hàng mất dần những khách hàng tốt, giảm thị phần và đến
một thời điểm nào đó ngân hàng có thể thua lỗ thậm chí phá sản. Do đó hoàn
thiện và nâng cao năng lực quản trị tín dụng là tiền đề của việc mở rộng tín dụng
có hiệu quả, tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Theo đó cũng cũng cần xét sâu hơn
khi cấp tín dụng, về nguyên tắc, mức lãi suất phải đủ trang trải chi phí bao gồm
cả phần bù đắp rủi ro và cộng thêm phần lợi nhuận mong đợi. Với sự cạnh tranh
của các tổ chức tín dụng, nếu ngân hàng cấp những khoản tín dụng ít rủi ro thì lợi
thế trong kinh doanh của ngân hàng sẽ tăng. Thể hiện ở chỗ ngân hàng có thể thu
hút khách hàng bằng cách giảm mức lãi suất cho khách hàng so với đối thủ cạnh
tranh. Thêm nữa thông qua mở rộng tín dụng ngân hàng có cơ hội mở rộng cung
cấp những sản phẩm dịch vụ khác của mình. Do vậy QTRRTD giúp ngân hàng
xử lý tốt mối quan hệ giữa RRTD và lợi nhuận, qua đó đánh giá được thiệt hại và
đem lại lợi ích cho bản thân và các đối tác trong quan hệ tín dụng.
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
17
1.2.3. Đo lường rủi ro tín dụng
Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng người ta có thể
nghiên cứu để nhận biết nó, từ đó có thể đưa ra các biện pháp nhằm phòng ngừa
và hạn chế rủi ro, giảm thiểu mức độ thiệt hại đến mức thấp nhất. Muốn dự đoán
được rủi ro chính xác thì ngân hàng phải đo lường được rủi ro một cách cụ thể.
Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu mà ngân hàng nào cũng áp
dụng vì nó có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý kinh doanh.
Đo lường RRTD là cơ sở để ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp

phương pháp: phương pháp định lượng (Điều 6 Quyết định 18) và phương pháp
định tính (Điều 7 Quyết định 493); theo đó TCTD phân loại nợ thành 5 nhóm, nợ
xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5.
Tỷ lệ nợ xấu là một trong các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng
TCTD, tỷ lệ này cao đồng nghĩa với rủi ro tín dụng cao.
Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu/Tổng dư nợ
Nợ xấu gây khó khăn lớn trong việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của ngân hàng. Nếu nợ xấu không giải quyết kịp thời đến một thời điểm nào
đó khả năng trích lập sự phòng rủi ro sẽ không đủ để bù đắp phần tổn thất và việc
nâng cao tiềm lực tài chính đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn lại càng là vấn đề khó thực
hiện cho ngân hàng.
1.2.3.3. Tỷ lệ mất vốn
Tỷ lệ mất vốn = Dư nợ mất vốn/Tổng dư nợ
Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5 bao gồm: Các khoản nợ quá
hạn trên 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90
ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu
Tỷ lệ mất vốn càng cao thì thiệt hại của ngân hàng càng lớn, nó phản ánh
những khoản tín dụng không thu hồi được, phải dùng quỹ dự phòng để bù đắp.
1.2.3.4. Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD so với tổng dư nợ kỳ báo cáo
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
19
Dự phòng RRTD là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra do khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam
kết.
Tỷ lệ trích lập = Dự phòng RRTD/ Tổng dư nợ kỳ báo cáo
dự phòng RRTD được trích lập
Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt
động của TCTD, dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng cụ thể và dự phòng chung:
- Dự phòng cụ thể:
Theo quy định tại Quyết định 493của NHNN, dự phòng cụ thể được trích

nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất.
- Dự phòng chung:
Theo Điều 9 Quyết định 493, các NHTM thực hiện trích lập và duy trì dự
phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.
Như vậy tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD so với tổng dư nợ càng lớn càng
làm cho chi phí hoạt động tăng, lợi nhuận giảm, các NHTM phải tìm mọi biện
pháp để giảm mức trích lập dự phòng RRTD; tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
1.2.4. Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và lĩnh vực tín dụng nói
riêng, từ thực trạng của các NHTM Việt Nam, để hạn chế các rủi ro, đặc biệt là
RRTD, các ngân hàng phải nắm rõ các nguyên tắc quản lý rủi ro sau:
1.2.4.1. Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng
Theo nguyên tắc này thì hệ thống quản lý rủi ro cần phải được dựa trên nền
tảng những tiêu chí chung của chiến lược phát triển của ngân hàng cũng như
chính sách điều hành từng hoạt động riêng biệt của ngân hàng.
1.2.4.2. Nguyên tắc chấp nhận rủi ro
Các nhà quản trị ngân hàng cần phải chấp nhận rủi ro ở mức cho phép nếu
mong muốn có một thu nhập phù hợp từ những hoạt động nghiệp vụ của mình.
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
21
Mỗi nghiệp vụ cụ thể sau khi đánh giá mức độ rủi ro, các NHTM cần xây dựng
chiến thuật phòng chống rủi ro, tuy nhiên loại bỏ hoàn toàn rủi ro trong hoạt động
ngân hàng là không thể vì rủi ro ngân hàng là sự hiện hữu khách quan vốn có
trong các nghiệp vụ của ngân hàng. Do đó, nguyên tắc đầu tiên trong quá trình
QTRR đối với các nhà quản trị ngân hàng là phải biết nhận biết những rủi ro cho
phép. Việc chấp nhận mức độ, loại rủi ro nào chính là điều kiện quan trọng để
điều tiết những tác động tích cực của chúng trong quá trình quản lý rủi ro.
1.2.4.3. Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép
Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro trong “gói rủi ro cho phép” phải có
khả năng điều tiết trong quá trình quản lý mà không phụ thuộc vào những hoàn

hiệu quả của QTRR càng thấp. Khi bắt buộc phải thực hiện các nghiệp vụ này thì
ngân hàng phải bảo đảm có mức thu nhập phụ trội cần thiết không chỉ vì lợi
nhuận mà còn vì mục đích bù đắp những chi phí để điều tiết tác động của rủi ro
trong trường hợp chúng xảy ra.
1.2.4.9. Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép
Nguyên tắc này đòi hỏi các loại rủi ro nằm trong “gói rủi ro cho phép” phải
có tính chuyển đẩy cao. Các loại rủi ro không tương thích với khả năng điều tiết
hay không phù hợp với những yêu cầu cụ thể trong chiến lược và chính sách điều
hành hoạt động của ngân hàng cần phải được loại bỏ khỏi gói rủi ro cho phép.
Hay nói cách khác, chúng chỉ được chấp thuận khi có khả năng chuyển đẩy cao
sang các đối tác hoặc các công ty bảo hiểm bên ngoài.
Trên đây là 9 nguyên tắc cơ bản để từ đó mỗi ngân hàng xây dựng cho
mình một chính sách QTRR ngân hàng riêng biệt. Chính sách QTRR phải được
xem là một cấu phần trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng và nó đòi
hỏi phải xây dựng được một hệ thống phòng chống từ xa, đưa ra được giải pháp
nhằm điều tiết các tác động xấu đến tình hình tài chính của ngân hàng. Các
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
23
nguyên tắc này cần phải được kết hợp áp dụng một cách đồng bộ và hài hòa trong
quá trình QLRRTD.
1.2.4. Những nội dung cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng
1.2.4.1. Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng
Chiến lược QTRRT của ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các mục
đích và mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một các tốt
nhất các nguồn lực, lợi thế của NHTM nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu đặt
ra trong việc kiểm soát RRTD của ngân hàng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường biến động phức tạp, một chiến lược
quản trị rõ ràng, chính xác trong dự báo, đảm bảo cho ngân hàng có thể linh hoạt
trong phòng ngừa và xử lý rủi ro. Nó góp phần định hướng cho các hoạt động tín
dụng trong tương lai nhằm đảm bảo mục tiêu an toàn và lợi nhuận cao. Chiến

quyền hợp lý, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích và trách nhiệm trên cơ
sở thực hiện toàn bộ danh mục cho vay cũng như đối với từng khoản vay riêng lẻ.
Xây dựng QTRRTD phải được đặt trong mối quan hệ với các loại rủi ro khác,
phải được thực hiện đồng thời các công việc như xác định, định lượng, giám sát
và QTRRTD cũng như thực hiện dự phòng rủi ro đủ để bù đắp tổn thất khi rủi ro
tín dụng xảy ra.
Khi xây dựng chiến lược QTRRTD cần phải thực hiện cân bằng giữa chi phí
và lợi ích thu về. Chi phí QTRR phải thấp hơn thu nhập mang lại từ việc thực hiện
công việc này.
1.2.4.2. Phân tích rủi ro tín dụng
Thực hiện phân tích tín dụng một cách đầy đủ và toàn diện là nhằm đánh
giá khách hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho vay. Việc phân tích,
thẩm định được thực hiện trước, trong và sau khi cấp tín dụng là yêu cầu bắt buộc
đối với mỗi khoản tín dụng nhằm đảm bảo sự chính xác, tính hiệu quả sử dụng
vốn, nhằm đánh giá mức sinh lời của tín dụng, đảm bảo được mục đích kinh
doanh của ngân hàng, xác định những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho ngân
Luận văn QTRRTD – PĐL- tháng 06/2013
25

Trích đoạn Cho vay theo các chương trình: lương thực, thủy sản, cà phê, chăn nuôi,… Các giải pháp trước mắt về quản trị rủi ro tín dụng Chính sâch quản lý rủi ro những năm tiếp theo Kiến nghị đối với Chính phủ, các bộ, ngành Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status