Tìm hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo trong gia đình khu vực vĩnh yên vĩnh phúc - Pdf 31

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta hiện nay thì giáo dục mầm
non được coi là bậc học quan trọng, đặt nền móng cho sự hình thành và phát
triển nhân cách của trẻ. Lịch sử giáo dục mầm non đã ghi nhận “Giáo dục
mầm non là khâu đầu tiên trong quá trình đào tạo nhân cách con người Việt
Nam với mục tiêu là: “giúp trẻ phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm
mĩ và hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào
lớp một (Điều 21 – Luật giáo dục 2005).
Lứa tuổi mầm non – lứa tuổi bình minh của cuộc đời, đây là độ tuổi mà
các tố chất trở nên hết sức quan trọng để về sau trẻ có thể phát triển lành
mạnh, hài hòa và toàn diện.
Ông cha ta có câu:
“Uốn cây từ thuở còn non
Dạy con từ thuở con còn trẻ thơ”
Câu ngạn ngữ đúc kết kinh nghiệm của ông cha ta đến nay vẫn còn
nguyên giá trị, điều này chứng tỏ cha ông ta từ xưa đã có ý thức nuôi dạy
con cái ngay từ khi trẻ mới lọt lòng. Tuy nhiên, trẻ nhỏ ở mỗi gia đình lại
được nuôi dạy khác nhau phụ thuộc vào trình độ nhận thức, điều kiện kinh
tế, truyền thống sinh hoạt của gia đình đó.
A.C Makaren đã nói “Những gì mà bố mẹ làm cho con trước 5 tuổi đó là
90% kết quả của quá trình giáo dục”, điều này khẳng định được vai trò to
lớn của bố mẹ, hay nói cách khác là vai trò của giáo dục gia đình đối với sự
phát triển của trẻ.
Đối với trẻ nhỏ, gia đình là môi trường lí tưởng cho việc chăm sóc giáo dục
trẻ, gia đình là tổ ấm được hình thành nên bởi những người thương yêu, ruột
thịt. Sống trong gia đình trẻ được sống trong môi trường an toàn cả về thể
chất lẫn tâm lý, chỉ có trong gia đình đứa trẻ mới được hưởng đầy đủ tình
yêu thương, mới có những phút vui đùa thích thú bên bố mẹ, trò chuyện thủ
thỉ với người thân, được âu yếm, vỗ về khi ăn, khi ngủ.
Người lớn trong gia đình tiếp xúc trực tiếp và thường xuyên với trẻ, điều này

Bởi vậy nhận thức của giáo viên mầm non – những người hàng ngày
trực tiếp tiếp xúc và dạy trẻ, về các nội dung giáo dục trẻ, đặc biệt là nội
dung giáo dục trẻ trong gia đình là rất quan trọng, đóng vai trò chủ đạo và
có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ sau
này.
Là một giáo viên mầm non trong tương lai, tôi thấy mình cần tìm hiểu nhận
thức của chính những đồng nghiệp của tôi – những giáo viên mầm non, đồng
thời cũng là những phụ huynh để biết được nhận thức của họ đã đúng, đã
phù hợp chưa, để từ đó đóng góp ý kiến cho các giáo viên, giúp họ giáo dục


trẻ tốt hơn, đẻ trẻ có thể phát triển toàn diện. Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Tìm
hiểu nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo
trong gia đình khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Đã có rất nhiều các nhà giáo dục, tâm lí cũng như các văn bản pháp luật
của nhà nước nghiên cứu về nội dung giáo dục trẻ mầm non trong gia đình
và các khía cạnh của nó.
Theo Aristot – nhà giáo dục Hy Lạp cổ đại, ông đánh giá rất cao vai trò
của gia đình trong việc giáo dục trẻ, nhất là giáo dục ban đầu.
Theo J. A. Comenxki: Muốn giáo dục trẻ em thì phải dựa vào mặt tâm lí
và sinh lí của trẻ để giáo dục.
Ở Việt Nam, mục tiêu cao cả của giáo dục gia đình được thể hiện ở
chương IV – Quan hệ giữa cha mẹ và con, Điều 34 – Nghĩa vụ và quyền của
cha mẹ trong luật hôn nhân và gia đình: “....giáo dục để con phát triển lành
mạnh về thể chất, trí tuệ, và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia
đình, công dân có ích cho xã hội”.
Theo PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết: “Gia đình có ảnh hưởng tuyệt đối
trong quá trình phát triển của trẻ thơ, sống trong môi trường giáo dục của gia
đình trẻ được thỏa mãn mọi nhu cầu về thể chất và tinh thần để lớn lên khỏe

- Nghiên cứu những tài liệu liên quan đến giáo dục trẻ em, tâm lý học trẻ
em.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra và điều tra.
- Phát hiện thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung giáo
dục trẻ mẫu giáo trong gia đình khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của những giáo viên
mầm non về nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo trong gia đình khu vực
Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
a. Đối tượng nghiên cứu.
- Nhận thức của giáo viên mầm non khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về
nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo trong gia đình.
b. Khách thể nghiên cứu.
- Những giáo viên mầm non khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
Giả thuyết khoa học.
Cùng với hình thức giáo dục trẻ ở trường mầm non, hiện nay các giáo
viên mầm non có trẻ từ 3 đến 6 tuổi đã ý thức được vị trí, vai trò của giáo
dục gia đình đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là nội dung giáo dục trẻ
trong gia đình. Song, do điều kiện kinh tế, do trình độ, do cách sống và sinh
hoạt của từng gia đình là khác nhau nên nhiều giáo viên mầm non còn chưa
nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và vai trò của các nội dung giáo dục trẻ trong
gia đình. Tuy nhiên, nếu họ được tư vấn và cung cấp nhứng kiến thức khoa
học về lĩnh vưc này họ sẽ biết giáo dục trẻ bằng những nội dung đúng đắn
nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Việc tìm hiểu nhận thức của những giáo viên mầm non về nội dung giáo
dục trẻ trong gia đình là rất quan trọng và cần thiết, trên cơ sở tìm hiểu sẽ
phát hiện ra những nhận thức tích cực và tiêu cực của giáo viên mầm non về
nội dung giáo dục trẻ trong gia đình. Từ đó tư vấn những nội dung giáo dục


2.2.3. Nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung giáo dục tinh thần hợp
tác, giúp đỡ những người xung quanh; giáo dục các tính cách tốt và giáo dục
đạo đức cho trẻ mẫu giáo trong gia đình.
2.2.4. Nhận thức của giáo viên mầm non về nội dung giáo dục giới tính cho
trẻ mẫu giáo trong gia đình.
Chương 3: Một số tác động thử nghiệm nhằm nâng cao nhận thức về nội
dung giáo dục trẻ mẫu giáo trong gia đình của những giáo viên mầm non
khu vực Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc.
3.1. Mục tiêu thử nghiệm.
3.2. Nội dung thử nghiệm.
3.3. Kết quả của quá trình nghiên cứu.
Kết luận và kiến nghị.
Tài liệu tham khảo.
Trưng cầu ý kiến.


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.

1.2.

Nhận thức là gì?
Để phản ánh hiện thực khách quan, con người không chỉ bày tỏ thái
độ của mình với nó mà trước hết là nhận thức về thế giới đó. Để có một
hành vi văn hóa đẹp, biết tôn trọng lễ phép với người lớn, thể hiện bằng
cử chỉ, hành động, lời nói thì trước hết chúng ta phải nhận thức được
người lớn là những người trên, là người lớn tuổi hơn mình. Những hiện
tượng tâm lí của con người (cảm giác, tri giác, tư duy....) nhằm phản ánh
hiện thực khách quan, gọi là hoạt động nhận thức của con người. Hoạt
động này mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan

mực đạo đức.
Giáo dục gia đình là gì?
Giáo dục gia đình được hiểu là toàn bộ những tác động của gia đình
đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, trước hết là
của lớp trẻ.
Không thể có sự hình thành và phát triển nhân cách đầy đủ và vững bền
nếu không có một môi trường giáo dục gia đình thuận lợi. Bởi vì gia
đình là thể chế đầu tiên, quan trọng nhất in dấu lên nhân cách đang hình
thành vào lứa tuổi còn non dại, khi trẻ em chưa có ý thức về điều đó.
Những mối quan hệ của trẻ em với môi trường nguyên thủy này, đặc
biệt là bố và mẹ, quyết định phương thức ứng xử, nhất là về mặt tình
cảm mà chúng trải qua sau này trong những mối quan hệ với những cá
nhân khác. Một mối liên hệ tốt với bố mẹ, nhất là với người mẹ nếu
được coi là “tốt” sẽ đem lại cho trẻ sự phấn chấn, tin cậy, lòng biết ơn
và sự hào hiệp sau này. Còn như mối liên hệ ấy bị trẻ coi là “xấu” thì sẽ
đem lại cho chúng nỗi lo sợ bị mất đi cái đang có, sự bất an, sự ganh tức,
sự nghi ngờ, thậm chí cả sự co mình lại kiểu tinh thần phân lập.
Vai trò của giáo dục gia đình với tuổi Mầm non.
Tổ ấm gia đình là “cái nôi”, là một bến đỗ để từ đó con người bước ra
ngoài xã hội. Một trong những chức năng cơ bản, quan trọng của gia
đình – đó là chức năng nuôi nấng và giáo dục con cái. Nếu con người
sinh ra mà không được nuôi nấng, dạy dỗ trong một gia đình thật sự thì
khó có điều kiện trở thành người bình thường. Nếu từ nhỏ con người
không được giáo dục đầy đủ thì lớn lên sẽ trở thành “hoang dã” không
có gia giáo, nề nếp:
“Bé không vin, cả gẫy cành”.
Giáo dục gia đình có tác động mạnh mẽ, có ý nghĩa sâu sắc với trẻ thơ
và có ý nghĩa to lớn của cả cuộc đời con người ngay cả lúc trưởng thành
đến khi về già. Trong giáo dục trẻ em, người mẹ có ảnh hưởng rất lớn
đến những phẩm chất đạo đức, những nét tính cách và năng lực của con

hơn rất nhiều cải tạo một đứa con hư trở thành một người bình thường.
Giáo dục trẻ trong gia đình là một khoa học và là một nghệ thuật, nó
mang ý nghĩa thời sự, nó luôn nảy sinh những điều mới mẻ nên đòi hỏi
các gia đình phải luôn khám phá, tìm hiểu.
1.5. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi mầm non.
1.5.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ 3 – 4 tuổi.
Như chúng ta đã biết, cuối tuổi ấu nhi ( tuổi lên 3) ở trẻ xuất hiện một
mâu thuẫn, đó là mâu thuẫn giữa một bên là tính độc lập đang được phát
triển mạnh , muốn tự mình làm tất cả mọi việc như người lớn với một


bên là khả năng còn quá non yếu của trẻ, không thể làm được những
việc đó. Trong trường hợp này người lớn không thể dùng biện pháp cấm
đoán, vì như vậy là ngăn chặn bước phát triển của trẻ.
Tình trạng trẻ em luôn đòi hỏi “để con làm lấy” đã dẫn đến hiện tượng
khủng hoảng. Để giải quyết mâu thuẫn này, trẻ phải tìm đến một hoạt
động mới: không làm được mọi việc thật như người lớn thì trẻ làm giả
vờ (tức là làm chơi) vậy. Do đó trò chơi đóng vai theo chủ đề xuất hiện.
Những phẩm chất tâm lí và những đặc điểm nhân cách của trẻ được
phát triển mạnh mẽ, nhất là trong hoạt động vui chơi. Trò chơi đóng vai
theo chủ đề không chỉ có ý nghía quyết định đến sự phát triển trí tưởng
tượng của trẻ, mà còn tác động rất mạnh đến đời sống tình cảm của trẻ.
Mối quan hệ người – người được phản ánh trong trò chơi, những rung
động, thái độ buồn rầu, vui vẻ gợi lên ở trẻ. Qua trò chơi, trẻ còn được
hình thành những phẩm chất, ý chí như tính mục đích, tính kỉ luật, tính
dũng cảm. Nếu trẻ đóng vai người lính gác thì phải thực hiện tính kỉ luật
nghiêm minh, vào vai lái xe thì phải bình tĩnh, nhanh nhẹn.... Vì vậy mà
A. C. Makarenco đã viết “Trò chơi có một ý nghĩa quan trọng đối với
trẻ, đứa trẻ thể hiện như thế nào trong trò chơi thì sau này nó cũng thể
hiện như thế trông công việc. Vì vậy, một nhà hoạt động trong tương lai

công việc hết sức quan trọng, có ý nghĩa giáo dục lớn lao.
1.5.2. Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ 4 – 5 tuổi.
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bức
bách đối vởi trẻ, từ đó “xã hội trẻ em” được hình thành. Nỗi đau khổ,
điều làm cho trẻ buồn rầu, ỉu xìu là thiếu bạn bè cùng chơi. Nếu người
lớn không thấy được nhu cầu ấy của trẻ để tạo điều kiện cho trẻ cung
chơi với nhau thì đó là một sai lầm trong giáo dục. Tính a dua trở thành
một tật xấu trong nhân cách của trẻ nếu người lớn không kịp thời hướng
dẫn cho trẻ biết nhận xét một cách độc lập về các sự việc xảy ra xung
quanh trẻ.
Tư duy của trẻ mẫu giáo nhỡ có sự phát triển mạnh mẽ của tư duy trực
quan hình tượng. Trẻ đã bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận
thức, tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà trẻ nhìn thấy. Phần lớn
trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận.
Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh mẽ giúp trẻ giải được
nhiều bài toán thực tiễn trong cuộc sống. Tuy nhiên, vì chưa có khả năng
tư duy trừu tượng nên những điều mà trẻ suy luận mới chỉ dừng lại ở các
hiện tượng bên ngoài mà chưa đi vào bản chất bên trong. Do đó, nhiều
khi trẻ giải thích các hiện tượng một cách ngộ nghĩnh: Một cháu bé đi
tắm biển, nếm thấy nước biển mặn liền hỏi: “Ai cho muối vào biển thế”.
Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh đó là điều kiện thuận
lợi nhất để trẻ cảm nhận tốt những hình tượng nghệ thuật được xây dựng


nên các tác phẩm văn học. Đồng thời giúp trẻ tạo ra những tiền đề cần
thiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy – trừu tượng.
Đời sống tình cảm của trẻ phát triển mạnh mẽ, trẻ thèm khát sự trìu
mến, yêu thương của người lớn, đồng thời rất lo lắng trước thái độ thờ ơ,
lạnh nhạt của những người xung quanh, đáng lưu ý là sự bộc lộ tình cảm
mạnh mẽ của trẻ với những người xung quanh, trước hết là với ông bà,

cần coi trọng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội
dung quan trọng nhất của giáo dục mầm non.
Trẻ cũng bắt đầu ý thức được về giới tính của mình, trẻ không chỉ
nhận ra mình là trai hay gái, mà còn biết rằng nếu mình là trai hay là gái
thì hành vi phải thể hiện như thế nào cho phù hợp với giới tính của
mình. Do đó những nhận xét, đánh giá của trẻ cũng bắt đầu mang sắc
thái giới tính. Trẻ thường nói “con trai mà lại khóc à ”, hay “ con gái mà
lại đánh nhau à?”.
Trẻ bắt đầu hiểu mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì,
mọi người cung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình lại có
hành động này hay hành động khác... Trẻ bắt đầu đánh giá người khác,
nhưng ban đầu sự đánh giá này còn bị tình cảm, xúc cảm chi phối mạnh
mẽ, chẳng hạn, mọi đứa trẻ thường đáng giá rất tốt về mẹ của mình.
Trẻ biết điều khiển hành vi của mình theo mục đích đã định, sự tập
trung, tính bền vững của chú ý tăng lên. Điều đó được thể hiện ở thời
gian chơi được tăng lên, đặc biệt khi trẻ xem tranh. Ngôn ngữ phát triển
cũng giúp trẻ biết điều khiển sự chú ý của mình, biết tự giác hướng sự
chú ý của mình vào những đội tượng nhất định.
Nhu cầu nhận thức của trẻ phát triển mạnh, hoạt động vui chơi không
thỏa mãn nhu cầu này, trẻ phải tìm đến một hoạt động mới – đó là hoạt
động học tập. Vì vậy, việc chuẩn bị tâm lí cho trẻ đến trường phổ thông
là việc làm quan trọng.
1.6. Nội dung giáo dục trẻ mẫu giáo trong gia đình.
1.6.1. Giáo dục thể chất.
Trẻ mẫu giáo, quá trình sinh trưởng và phát triển diễn ra nhanh, quá
trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ, do vậy nhu cầu dinh dưỡng của trẻ
là rất lớn. Gia đình cần phải cung cấp đầy đủ, hợp lí các chất dinh
dưỡng: Prootit, Lipit, Gluxit, nước, muối khoáng và vitamin cho trẻ.
Đồng thời gia đình cần tạo điều kiện cho trẻ được vận động (chạy
nhảy, leo trèo, chui, trườn, bò...), tổ chức cho trẻ được vui chơi, đặc biệt

Đôi khi cũng cần đưa trẻ vào những tình huống khó xử để dạy trẻ hợp
tác với mọi người xung quanh: trẻ muốn xem đồ chơi của bạn, muốn
tham gia chơi cùng bạn mà bạn không cho trẻ chơi....
Các phương tiện để hợp tác, giao tiếp với mọi người xung quanh:
phương tiện ngôn ngữ, phương tiện vật chất, hoặc bằng kí hiệu ngôn
ngữ: cử chỉ, nét mặt, điệu bộ...
Tất cả những việc làm trên sẽ tạo thành thói quen tốt, nét tính cách tốt
trong nhân cách của trẻ sau này. Chính gia đình là môi trường giáo dục
tình đoàn kết, thương yêu, sự hợp tác với mọi người cho trẻ thuận lợi
nhất.


1.6.4. Giáo dục các tính cách tốt cho trẻ.
 Sự công bằng:
Trong gia đìnhphải quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng giáo dục
trẻ để đáp ứng những nhu cầu cần thiết của trẻ, thỏa mãn mong muốn
được cư xử công bằng và được quan tâm như mọi người trong gia
đình.
Tuy nhiên, có những hoàn cảnh, những tình huống, những giai
đoạn trẻ không được đối xử công bằng như: mẹ mới sinh em bé nên
mẹ sẽ dành tình cảm, thời gian nhiều hơn cho em bé, lúc này đòi hỏi
những người lớn trong gia đình phải thay mẹ quan tâm, chăm sóc, trò
chuyện với trẻ, tạo ra sự công bằng để trẻ cảm nhận được trẻ vẫn
được mọi người yêu thương, quan tâm.
 Lòng can đảm:
Gia đình cần giáo dục cho trẻ biết đương đầu với những khó khăn,
thử thách, dám chấp nhận thất bại để đi đến thành công. Giáo dục trẻ
không nên sợ hãi trước những thay đổi của cuộc sống mà hãy bình
tĩnh suy nghĩ và tìm cách giải quyết.
 Sự chăm chỉ.

cho trẻ mẫu giáo chính là giúp trẻ học tâp, bắt chước và lĩnh hội kiểu
hành vi con người để trẻ thành người phù hợp với giới tính của mình. Cụ
thể: trẻ em gái phải nhẹ nhàng, duyên dáng, biết nhường nhịn, biết quan
tâm đến mọi người…, trẻ trai phải mạnh mẽ, quyết đoán, đá nghĩ, dám
làm....
Giáo dục hành vi giới tính diễn ra nhanh, mạnh và có sức thuyết phục
rất lớn từ gia đình. Thông qua hành vi mẫu cảu mẹ và cua cha mà trẻ trai
bắt chước cha, trẻ gái bắt chước mẹ, để từ đó trẻ học được, nhập tâm
được các hành vi ứng xử phù hợp với giới tính.
Gia đình nên giao cho trẻ những công việc đòi hỏi trẻ phải thực hiện
các công việc theo giới, ví dụ: con gái giúp mẹ làm nội trợ: nhặt rau, rửa
rau...., con trai cùng bố sửu chữa đồ đạc... , lựa chọn trang phục, giầy
dép, cắt tóc phải phù hợp với giới tính của trẻ.
Gia đình cần nhắc nhở, sửa chữa, uốn nắn những hành vi không phù
hợp với giới tính của trẻ, nếu để thành thói quen sau này sẽ rất khó sửa.
Cần thường xuyên khích lệ, khen ngợi những hành vi phù hợp với các
chuẩn mực hành vi giới tính ở trẻ, để trẻ sớm nhận thức được hành vi
tốt, xấu, nên và không nên, để từ đó trẻ điều chỉnh hành vi của mình phù
hợp với chuẩn mực xã hội.
1.6.6. Giáo dục thẩm mĩ trong gia đình.
Trẻ 3 – 6 tuổi đã hình thành tình cảm thẩm mĩ. Trẻ xuất hiện những
rung cảm, xao xuyến...với những cái đẹp: bông hoa đẹp, tiếng chim hót,
mặt trời, bình minh đang lên...


Gia đình cần giáo dục trẻ co cách cảm thụ cái đẹp, thích cái đẹp và
biết bảo vệ cái đẹp, từ đó kích thích ở trẻ óc thẩm mĩ. Trong gia đình
nên thường xuyên cắm hoa, trồng hoa, trồng cây cảnh, trang trí phòng
khách, phòng ngủ...hợp thẩm mĩ.
Gia đình cần cho trẻ tiếp xúc với những lời nói, hành vi đẹp, bài hát,

THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON KHU
VỰC VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC VỀ NỘI DUNG GIÁO DỤC TRẺ
MẪU GIÁO TRONG GIA ĐÌNH.
2.1. Một số nét khái quát về khách thể nghiên cứu.
Trong thời gian thực tập mười tuần tại trường mầm non Hoa Sen – Vĩnh
Yên – Vĩnh Phúc, tôi đã có điều kiện tiếp xúc, trò chuyện với những giáo
viên của trường. Tất cả những giáo viên ở đây đều đạt trình độ chuẩn (tốt
nghiệp trung cấp sư phạm) và trên chuẩn ( cao đẳng, đại học tại chức ), có
kinh nghiệm giảng dạy tư 3 đến 10 năm, nên tôi đã có được những thuận lợi
nhất định khi tiến hành điều tra, tuy nhiên, do trình độ không đồng đều nên
nhận thức của các giáo viên ở đây cũng có nhiều ý kiến trái chiều, nhất là về
cách thức mà họ đưa các nội dung về giáo dục gia đình trong giảng dạy cho
trẻ.
Qua trao đổi, trò chuyện, tôi nhận thấy phần đông các giáo viên ở đây có
rất ít thời gian và điều kiện để học tâp, trau dồi thêm kiến thức. Có nhiều
giáo viên tuy đã nắm rõ được phương pháp nhưng do kiến thức còn hạn chế
nên họ chưa thể đưa được đầy đủ các nội dung giáo dục trẻ vào trong
chương trình giảng dạy.
Có không ít giáo viên chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc giáo
dục trẻ mẫu giáo trong gia đình, họ mới chỉ chú trọng đến việc giáo dục trẻ ở
trên lớp, họ cho rằng giáo dục trẻ trong gia đình là trách nhiệm của cha mẹ
trẻ và những người lớn trong gia đình. Điều này đã dẫn đến một thực trạng
là không có sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường – mà ở đây trực tiếp là
các giáo viên trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ, từ đó dẫn đến còn
nhiều thiếu xót trong quá trình giáo dục trẻ.
Trải qua thời gian thực tập, tôi cũng đã có thời gian để tìm hiểu, trò
chuyện với trẻ ở các lứa tuổi khác nhau. Là một trường đặt tại trung tâm
thành phố, tuy nhiên bố mẹ của các cháu đang theo học ở đây lại xuất thân
từ nhiều thành phần khác nhau, có cháu bố mẹ đều là viên chức nhà nước, có
cháu bố mẹ là công nhân, có cháu bố mẹ làm kinh doanh...., điều này đã gây

cho trẻ mẫu giáo.
Bảng 1: Nhận thức của các giáo viên mầm non về nội dung giáo dục thể
chất cho trẻ mẫu giáo trong gia đình.
STT
Câu hỏi
Phương án lựa chọn
Số ý
Tỉ lệ
kiến
(%)
1

Là một giáo viên, chị Cho trẻ ăn uống đầy đủ, 0
sẽ trao đổi với phụ hợp lí

0


huynh của mình nội
dung nào dưới đây
để thể lực của trẻ
được phát triển toàn
diện?

2

3

Cho trẻ tập thể dục, vận 0
động.


1

2,5

4

10

Hướng dẫn và khuyến 35
khích trẻ chơi

80
2,5

87,5

Với câu hỏi 1: Là một giáo viên, chị sẽ trao đổi với phụ huynh của mình
nội dung nào dưới đây để thể lực của trẻ được phát triển toàn diện?
Có 40 giáo viên, tức 100% các giáo viên cho rằng cần phải cho trẻ ăn
uống đầy đủ, hợp lí, kết hợp với vận động, chơi các trò chơi. Điều này chứng
tỏ các giáo viên đã nhận thức rất đúng đắn về tầm quan trọng của giáo dục
thể chất đối với trẻ. Là người hàng ngày tiếp xúc trực tiếp vơi trẻ, nắm được
tình hình sức khỏe, trạng thái thể lực của từng cháu, các giáo viên là những
người hiểu rõ hơn bất kì ai vai trò của giáo dục thể chất đối với sức khỏe và
thể chất của trẻ. Trẻ còn nhỏ, muốn có một thể lực tốt ngoài việc ăn uống đủ
chất, đủ lượng thì trẻ cần phải được vận động, được chơi phù hợp với lứa
tuổi và thể chất của mình. Qua các hoạt động vận động ấy sẽ giúp trẻ khỏe
mạnh, nhanh nhẹn, cân đối, hấp thu tốt các chất dinh dưỡng.
Với câu hỏi 2: Chị sẽ hướng dẫn các bậc phụ huynh tổ chưc bữa ăn cho

hướng dẫn và khuyến khích trẻ chơi, với cá nhân tôi, tôi nhận thấy đây là
cách giáo dục trẻ rất khoa học. Trẻ nhỏ cần phải được chơi, nhưng không
phải trò chơi nào trẻ cũng biết chơi, do đó người lớn cần phải hướng dẫn trẻ,
đặc biệt là các trò chơi vận động, phải leo trèo, chạy nhảy, bò, trườn..., nếu
người lớn mà ở đây là cô giáo không hướng dẫn trẻ chơi đúng cách thì rất có
thể sẽ dẫn đến tai nạn. Hơn thế nữa, trong khi chơi trẻ cũng rất cần được
người lớn động viên, khích lệ để tạo hứng thú khi chơi, vì đặc điểm tâm lý
của trẻ ở lứa tuổi này là rất thích được người lớn khen ngợi, động viên.


Có 4 giáo viên, chiếm 10% đồng ý với phương án nên để trẻ tự chơi, đây
là những giáo viên đang giảng dạy ở khối lớp mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi. Theo
ý kiến của những giáo viên lựa chọn phương án này thì họ cho rằng nên để
trẻ tự khám phá, mày mò, phát hiện những điều mới lạ, có như thế trẻ mới
nhớ lâu, và khi gặp những tình huống tương tự như thế trong cuộc sống hằng
này trẻ sẽ biết cách giải quyết mà không bỡ ngỡ. Điều này cũng hoàn toàn có
lý, vì đặc điểm tâm lý của lứa tuổi mẫu giáo là thích được khám phá, tìm tòi
những điều mới lạ, có điều nếu không có sự hướng dẫn của người lớn trẻ sẽ
dễ có những nhầm lẫn, và khi để trẻ tự tìm hiểu cách chơi nếu trẻ không tự
tìm được cách chơi đúng trẻ sẽ mau chán và bỏ chơi.
Còn lại 1 giáo viên, chiếm 2,5% lựa chọn phương án hạn chế cho trẻ
chơi. Theo ý kiến chủ quan của giáo viên này thì họ đang giảng dạy ở lớp
mẫu giáo bé, hầu hết trẻ chưa có khả năng điều khiển những hành động của
bản thân, hơn nữa lớp có số lượng trẻ đông nên nếu tổ chức chơi các trò chơi
vận động nhiều họ lo lắng sẽ không bao quát, hướng dẫn được hết tất cả số
trẻ trong lớp của mình, có thể gây ra những tai nạn khi cho trẻ chơi.
Để tìm hiểu xem các giáo viên có tổ chức các hoạt động để chăm sóc sức
khỏe cho trẻ hay không, tôi đã đưa ra một câu hỏi mở đó là: Chị có thường
xuyên tổ chức các hoạt động rèn luyện thể chất cho trẻ không? Đó là
những hoạt động nào?


4.

Theo chị việc gia Cần thiết
đình giáo dục xúc
cảm tình cảm cho trẻ
ngay từ khi còn nhỏ Không cần thiết
có cần thiết không?
Là một giáo viên, chị
đã giáo dục xúc cảm,
tình cảm cho trẻ như
thế nào?

Với người tàn tật,
người có hoàn cảnh
khó khăn anh, chị đã
dạy trẻ phải có thái
độ như thế nào?

40

100

0

0

Dạy trẻ biết giúp đỡ ông 32
bà, cha mẹ những công
việc phù hợp với lứa

kính trọng những câu chuyện kể.
người xung quanh?
Để cho trẻ tự học từ 2
những
người
xung
quanh.

17.5

5


Cả 2 phương án trên
31
77.5
Với câu hỏi 1: Theo chị việc gia đình giáo dục xúc cảm, tình cảm cho trẻ
ngay từ khi còn nhỏ có cần thiết không?
Câu trả lời mà tôi nhận được là 100% các giáo viên ở đây nói rằng việc
giáo dục xúc cảm, tình cảm cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ là hết sức cần thiết,
bởi vì lứa tuổi mẫu giáo là độ tuổi mà trẻ đang phát triển mạnh về xúc cảm,
tình cảm, trẻ rất dễ rung động trước những cái đẹp xung quanh mình, trẻ vui
mừng và có thể ngồi nhìn ngắm rất lâu khi thấy một bông hoa vừa nở.... Vì
vậy, nhiệm vụ của người lớn chúng ta là phải giáo dục cho trẻ những xúc
cảm, tình cảm tốt đẹp với quê hương, đất nước, Bác Hồ, với thiên nhiên
xung quanh trẻ, góp phần làm phong phú thêm những biểu tượng cho trẻ.
Với câu hỏi 2: Là một giáo viên, chị đã giáo dục xúc cảm, tình cảm cho
trẻ như thế nào?
Kết quả thu được là 32% giáo viên, chiếm 80% chọn đáp án sẽ dạy trẻ
phải biết thương yêu, quan tâm, thăm hỏi khi ông bà, cha mẹ đau ốm, giúp

huynh để họ tạo điều kiện cho con của mình có điều kiện tham gia những
đợt ủng hộ, quyên góp sách vở cho các bạn nhỏ vùng sâu, vùng xa mà nhà
trường phát động, mỗi lần như vậy trẻ tham gia rất nhiệt tình và hứng thú.
Cháu Đức Long – một học sinh lớp 5 tuổi đã nói rằng: “ mỗi lần nghe cô
giáo cháu nói ủng hộ sách, truyện cho các bạn nhỏ khó khăn, cháu lại về nói
với bố mẹ cháu, bố mẹ cho cháu mang đi những quyển truyện cháu đã được
bố mẹ kể cho nghe để ủng hộ các bạn, chắc các bạn cũng thích nghe những
câu truyện ấy như cháu”.
Chị Hồng – một giáo viên đang dạy ở lớp 5 tuổi đã kể lại rằng: trong một
lần tổ chức cho trẻ đi tham quan gần trường, trên đường về nhìn thấy một
người ăn xin, khi ấy trẻ đã bàn tán rất nhiều và có ý chê bai vì người này ăn
mặc không được sạch sẽ, nhìn rất khổ sở, nghe được những lời ấy của trẻ chị
đã nói rằng: “ đó là những người có hoàn cảnh khó khăn, họ không có điều
kiện như chúng mình, các con không được chê bai, hay cười họ, nếu có thể
khi gặp những người như thế này chúng mình hãy cùng bố mẹ giúp họ như
cho họ một ít tiền, hay một bát gạo”..., chị kể tiếp: sau đấy một cháu trong
lớp đã mang cho người ăn xin này một gói bim bim mà cháu đang cầm trên
tay.
Với câu hỏi 4: Chị làm thế nào để dạy trẻ biết lễ phép, kính trọng những
người xung quanh?
Với câu hỏi này, có 7 giáo viên, chiếm 17,5% nói rằng họ đã dạy trẻ biết
lễ phép, kính trọng những người xung quanh thông qua các câu truyện kể,
các trò chơi, theo họ, khi lắng nghe những câu truyện này trẻ như được thấy
mình trong những nhân vật, và đồng thời qua những nhận vật có tính cách



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status