Dạy trẻ mẫu giáo lớn một số thủ thuật kể chuyện nhằm phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ - Pdf 31

Më §ÇU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em hôm nay là chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Khi nền kinh tế
ngày một phát triển thì trẻ em cũng ngày càng đƣợc quan tâm hơn. Nhu cầu
ăn, học, vui chơi, giải trí của trẻ em - đặc biệt là trẻ ở tuổi mầm non đƣợc các
bậc cha mẹ hết sức chú ý, quan tâm và chăm lo. Nếu ví rằng quá trình học của
con ngƣời là một cuộc chạy việt dã thì bậc học mầm non chính là giai đoạn
“khởi động”. Trong cuộc chạy việt dã ấy sẽ có những vận động viên không
cần khởi động nhƣng vẫn có thể tham gia, cũng giống nhƣ trƣớc đây có
những ngƣời không cần học mầm non vẫn có thể học ở những bậc học tiếp
theo. Song ngày nay thì bậc học mầm non không thể thiếu, vì nếu trẻ không
trải qua bậc học này thì lên phổ thông trẻ sẽ khó hoà nhập cùng các bạn. Trẻ
sẽ kém tự tin, không mạnh dạn và thấy mọi thứ xung quanh “cái gì cũng thật
lạ lẫm”. Nhƣ vậy có thể nói bậc học mầm non là bƣớc đệm, là tiền đề vô cùng
quan trọng cho trẻ trƣớc khi đến trƣờng phổ thông .
Trẻ em ngày nay đƣợc quyền phát triển về mọi mặt : đức, trí, văn,
thể, mỹ. Trong mục tiêu giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non thì phát triển
ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Những
nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực nhƣ : tâm lý học, giáo dục học, sinh lý học,
ngôn ngữ học,… đã chỉ ra vai trò to lớn của ngôn ngữ đối với sự phát triển
của trẻ - đặc biệt là với sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ thơ. Phát
triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi này là một việc làm vô cùng quan trọng và
không hề đơn giản. Không chỉ dừng lại ở việc phát triển ngôn ngữ mà đối với
trẻ 5-6 tuổi chúng ta còn phải phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ. Ở trƣờng
mầm non thì vui chơi là hoạt động chủ đạo. Trẻ “học bằng chơi, chơi mà
học”. Nhƣng ở 5-6 tuổi, trẻ chuẩn bị bƣớc vào lớp một, bƣớc vào giai đoạn

1


học tập là hoạt động chủ đạo nên chúng ta cần phải chuẩn bị tốt tâm thế cho


năng bộc lộ thái độ, cảm xúc với những sự vật, hiện tƣợng vẫn chƣa phát triển
đầy đủ. Đây chính là thời điểm rất tốt để chúng ta dạy trẻ kể chuyện. Dạy trẻ
mẫu giáo lớn kể chuyện trƣớc hết giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, quan trọng hơn
nó sẽ góp phần trang bị những kỹ năng, kỹ xảo để trẻ phát triển lời nói mạch
lạc, nghệ thuật.
Để trẻ không chỉ thích nghe kể chuyện, không chỉ biết kể chuyện mà
còn trở thành ngƣời kể chuyện hay, hấp dẫn, ngƣời lớn chúng ta cần ph¶i
trang bị cho trẻ những kinh nghiệm c¬ bản và cần thiết - có thể gọi là những
“thủ thuật” kể chuyện. Dạy trẻ những thủ thật kể chuyện sẽ giúp trẻ chọn lựa
những viên gạch tốt nhất xây nên lâu đài ngôn ngữ cho riêng mình. Vai trò
của ngƣời giáo viên trong việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ - cụ thể
chúng tôi muốn nói đến ở đây là việc dạy trẻ kể chuyện là vô cùng quan
trọng. Giáo viên mầm non là những ngƣời trực tiếp thắp lên ngọn lửa phía
bình minh của cuộc đời mỗi trẻ.
Là sinh viên ngành mầm non, tƣơng lai sẽ đƣợc chăm lo đến từng
giấc ngủ, từng bữa ăn, uốn nắn, chăm sóc những mầm xanh của cuộc đời
chúng tôi thực sự rất chú ý đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non đặc biệt là việc phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn. Chúng tôi
mong muốn rằng ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc sống trẻ em đã
đƣợc quan tâm và chăm lo bằng tình thƣơng của tất cả mọi ngƣời.
Chính vì những ly do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Dạy trẻ
mẫu giáo lớn một số thủ thuật kể chuyện nhằm phát tiển lời nói mạch lạc cho
trẻ” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình. Chúng tôi nghĩ rằng đây sẽ
là một đề tài rất hấp dẫn và thiết thực với những ngƣời quan tâm đến trẻ em
và ngành giáo dục mầm non.
2. Lịch sử vấn đề
Trẻ em luôn giành đƣợc rất nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trƣờng
và xã hội. Những vấn đề về trẻ em đã đƣợc các nhà nghiên cứu khoa học hết
sức quan tâm. Riêng về phát triển ngôn ngữ và lời nói mạch lạc cho trẻ đến
3

dạy trẻ kể chuyện với đồ chơi nhằm phát triển lêi nói mạch lạc ở các trƣờng
4


mầm non hiện nay. Bên cạnh đó, trong luận án của mình, Vũ Thị Hƣơng
Giang còn xây dựng đƣợc một số biện pháp kể chuyện với đồ chơi rất sáng
tạo, phát huy tốt khả năng sử dụng lời nói mạch lạc của trẻ.
Cũng nghiên cứu về việc dạy trẻ 5 - 6 tuổi dạy trẻ kể chuyện theo
tranh, Nguyễn Thùy Linh lại có cái nhìn ở góc độ khác. Với: “Một số biện
pháp d¹y trẻ mẫu giáo kể chuyện theo tranh liên hoàn có chủ đề”, Nguyễn
Thùy Linh đã tìm đƣợc phƣơng thức hiệu nghiệm dùng tranh liên hoàn có chủ
đÒ trong việc dạy trẻ mẫu giáo lớn kể lại chuyện.
Năm 2005, với việc bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: “Một
số biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua kể
chuyện theo tranh”, Nguyễn Thị Xuân, ĐHSP Hà Nội đã điều tra đƣợc thực
trạng về việc sử dụng các biện pháp dạy trẻ kể chuyện theo tranh và thực
trạng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi. Nguyễn Thị Xuân đã đƣa
ra đƣợc kết luận khoa học về đề xuất những kiến nghị về biện pháp phát triển
ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Dạy trẻ kể chuyện theo kinh nghiệm cũng giúp phát triển ngôn ngữ
mạch lạc cho trẻ. Nghiên cứu vấn đề này, luận án của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
đề cập đến thực trạng việc dạy trẻ kể chuyện theo kinh nghiệm của giáo viên
mầm non và mức độ phát triển ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn.
Ở hầu hết các công trình nghiêm cứu của mình, các nhà khoa học đều
đƣa ra đƣợc những biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển ngôn ngữ mạch lạc
cho trẻ. Ở mỗi một công trình là những góc nhìn, những ý kiến khác nhau của
từng ngƣời. Cũng nghiên cứu mảng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo, luận án:“ Một
số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi kể lại truyện văn học nhằm phát triển
lời nói mạch lạc” của Âu Thị Hảo đã điều tra thực trạng sử dụng ngôn ngữ
mạch lạc cho trẻ, tiến hành thực nghiệm sƣ phạm để đánh giá và kiểm tra giả

3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Với lòng yêu nghề mền trẻ, say mê tìm tòi chúng tôi đi vµo nghiên cứu
đề tài nhằm tìm ra những thủ thuật hay nhất dạy trẻ 5 - 6 tuổi, giúp các em có
kỹ năng kể chuyện một cách hào hứng, lôi cuèn ngƣơì nghe hơn, giúp trẻ

6


mạnh dạn, tự tin, thích giao tiếp hơn và quan trọng nhất là phát triển ngôn ngữ
mạch lạc cho trẻ, chuÈn bị cho trẻ tâm thế trƣớc khi đến trƣờng phổ thông.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các thủ thuật kể chuyện cho trẻ mẫu
giáo.
Phạm vi nghiên cứu: Trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi.
5. Nhiệm vụ
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài .
5.2. Tìm hiểu một số thủ thuật cơ bản khi kể chuyện.
5.3. Nghiên cứu một số hình thức dạy trẻ kể chuyện nhằm phát triển
ngôn ngữ mạch lạc.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ph-¬ng ph¸p chung : Quy n¹p
Ph-¬ng ph¸p cô thÓ
+ Ph©n tÝch
+ Tæng hîp
+ Nghiên cứu lý thuyết
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung của khóa luận gồm ba
chƣơng : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận; chƣơng 2. Một số thủ thuật kể chuyện cơ
bản; chƣơng 3.Các hình thức, phƣơng pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ.




1.1.5. Đặc điểm tưởng tượng
Trẻ mẫu giáo là tuổi thần tiên, lứa tuổi có nhiều trí tƣởng tƣợng
phong phú nhất, trẻ có thể tƣởng tƣợng mình đƣợc gặp Hoàng tử, Công chúa,
đƣợc đi chơi cùng Lọ Lem, cô Tấm,… Đó là những giấc mơ hết sức hồn
nhiên, hết sức đáng yêu của trẻ. Song tƣởng tƣợng của trẻ cßn tản mạn.
Những đồ dùng trực quan sinh động, những cử chỉ điệu bộ, ngôn ngữ giàu
nhạc điệu của giáo viên là điều kiện tốt để trẻ hình thành tƣởng tƣợng.
1.1.6. Sự phát triển nhân cách
Trẻ từ 3-6 tuổi là thời điểm quan trọng cho việc hình thành và phát triển
nhân cách. Ở lứa tuổi này, những tác động giáo dục từ phía nhà giáo dục ảnh
hƣởng chủ đạo đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ thơ. Trong
giai đoạn 5-6 tuổi, sự phát triển nhân cách của các em tƣơng đối êm đềm,
phẳng lặng. Tuy nhiên cũng có những biểu hiện rõ nét mới: trẻ dễ xúc động,
khó kìm hãm cảm xúc. Tình cảm của trẻ gắn liền với đặc điểm trực quan, hình
ảnh cụ thể.
1.1.7. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi
Trẻ 5-6 tuổi thì não bộ và hệ thần kinh đã phát triển và dần hoàn thiện
nên trẻ rất dễ bị kích động. Do vậy ngƣời lớn và giáo viên cần tránh quát
mắng, nạt nộ trẻ, ngắt lời thô bạo khi trẻ đang tham gia học tập, vui chơi.
Giáo viên cần nhẹ nhàng, dịu dàng, tế nhị trong quá trình dạy trẻ kể chuyện.
1.2. Cơ sở giáo dục học
Giáo dục mầm non là quá trình trong đó dƣới tác động chủ đạo của giáo
viên , trẻ hoạt động, học tập, vui chơi. Hoạt động chủ đạo của trẻ là hoạt động
vui chơi. Trẻ học tập thông qua hoạt động với đồ vật. Quá trình giáo dục hình
thành hành vi và thói quen hành vi, những chuẩn mực hành vi đã đƣợc quy
định, đáp ứng đƣợc mục đích và nhiệm vụ giáo dục trong trƣờng mầm non:

9

đề ra.
10


1.3. Cơ sở ngôn ngữ
Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngƣời.
Ngoài ra ngôn ngữ còn là phƣơng tiện biểu lộ tâm trạng, tình cảm. Bởi thế,
Lê - Nin đã từng nói: “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” .
Hàng vạn năm, khi con ngƣời còn ở thời kỳ nguyên thủy thì ngôn ngữ
chƣa hề xuất hiện. Trải qua quá trình lao động và sản xuất con ngƣời cần trao
đổi những thứ thu lƣợm đƣợc. Cuộc sống đã cho con ngƣời âm thanh trong
giao tiếp, để trao đổi những ý tƣởng hay, những kinh nghiệm lịch sử và cho
con ngƣời cách ghi lại, truyền lại cho đời sau những kinh nghiệm lịch sử xã
hội đó. Âm thanh chữ viết đó chính là ngôn ngữ. Thật vậy: “ Cùng với lao
động, ngôn ngữ là yếu tố làm cho con vật trở thành con người” ( F. Ăng ghen). Nói cách khác ngôn ngữ góp phần quan trọng, tích cực cho quá trình
hình thành tâm lý con ngƣời. Tiến xa hơn nữa, ngôn ngữ có vai trò rất quan
trọng trong đời sống.
1.4. Kể chuyện và vai trò kể chuyện trong đời sống
1.4.1. Phân biệt đọc và kể
1.4.1.1. Đọc
Ngƣời đọc sử dụng mọi sắc thái giọng của mình và các phƣơng diện
đọc biểu cảm khác làm cho tác phẩm cất tiếng nói. Công việc của ngƣời đọc
hết sức nghiêm túc, thể hiện giọng phải chính xác nguyên văn từng c©u, từng
chữ trong văn bản, không đƣợc thêm cũng nhƣ bớt một từ nào trong văn bản
đọc. Việc thể hiện một văn bản đọc đều phải đảm bảo số lƣợng từ, đọc chính
xác không đƣợc thoát ly văn bản.
1.4.1.2. Kể
Kể cũng dùng âm thanh, các sắc thái ngữ điệu khác nhau để thể hiện
một văn bản nhƣng khi kể so với đọc thì hoàn toàn khác nhau về mặt biểu
cảm. Bởi khi kể chuyện, ngƣời kể không phải kể đúng từng từ, từng chữ trong

sống, chẳng hạn nhƣ cách đối xử giữa con ngƣời với con ngƣời. Thạch Sanh
và Lý Thông trong truyện“Thạch Sanh” là hai nhân cách hoàn toàn trái
ngƣợc. Lý Thông là kẻ tham lam, độc ác không làm mà muốn hƣởng giàu
sang còn Thạch Sanh lại là ngƣời hiền lành, tốt bụng chăm chỉ làm việc. Còn
12


rất nhiều các câu chuyện có nội dung nhƣ thế: Sọ Dừa, Tấm Cám, Cây
khế,…Ngoài bài học đối nhân xử thế, khi kể chuyện cho nhau, con ngƣời còn
lƣu lại cho thế hệ sau một nền văn hóa của dân tộc để rồi mãi đến bây giờ con
ngƣời hiện đại vẫn giữ đƣợc nét văn hoá đó và trở thành phong tục tập quán
ngàn đời của dân tộc. Cỗ xe văn hóa phong phú, sâu sắc ấy vấn ch¹y m·i với
thời gian nhƣ truyện : “Bánh chưng, bánh dầy”, “Sự tích trầu cau”, “Sự tích
ông Táo lên chầu trời”, …Ngƣời lớn trong mỗi gia đình luôn lấy những câu
chuyện đó làm gƣơng để giáo dục con cái về lòng tốt, về tấm gƣơng anh hùng
nhƣ truyện : “Thánh Gióng”, “Quạ và Công”, “Ông Trạng thả diều”,…Có
thể nói qua các câu chuyện có ý nghĩa giáo dục đạo đức, không chỉ nhằm giáo
dục trẻ mà ngay cả ngƣời trƣëng thành cũng đƣợc cảm hóa.
1.4.2.2. Vai trò cña kể chuyện trong trường mầm non
Đối với trẻ thơ, mỗi câu chuyện kể giúp trẻ có những ƣớc mơ bay bổng.
Chúng ảnh hƣởng chủ đạo đến sự phát triển toàn diện cho trẻ. Mỗi câu chuyện
kể đều có thể đánh thức ƣớc mơ của trẻ làm cho trẻ nhận thức đƣợc thế giới
xung quanh, có biểu tƣợng về thực tế xã hội, từng bƣớc cung cấp cho trẻ
những kh¸i niệm mới mở rộng và những khái niệm sống mới.
Cũng nhƣ ngƣời lớn, thông qua những câu chuyện đó trẻ có đƣợc
những nhận xét về con ngƣời, trẻ biết yêu cô Tấm, thƣơng ngƣời em trong
“ Cây khế”, biết ghét mụ dì ghẻ độc ác và những ngƣời anh tham lam,…Qua
đó đạo đức của trẻ dần đƣợc hoàn thiện.
Kể chuyện có vai trò giúp trẻ nhận thức thế giới không chỉ bó hẹp trong
những câu chuyện trong nƣớc mà còn cả những câu chuyện nƣớc ngoài có

trẻ. Kể chuyện góp phần chủ đạo trong việc phát triển khả năng tƣ duy, phát
triển ngôn ngữ - nhất là lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn, chuẩn bị tâm
thế cho trẻ vào lớp Một. Vốn ngôn ngữ ban đầu còn rất ít nhƣng qua kể
chuyện, các em sẽ tăng thêm rất nhiều. Đó là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật
làm nền tảng, làm vốn sống của trẻ phong phú thêm, là nền tảng của ngôn ngữ
mạch lạc và là hành trang chắp cánh cho những ƣớc mơ của trẻ.
1.5. Thế nào là thủ thuật kể chuyện
1.5.1. Kh¸i niÖm cèt truyÖn
14


Theo từ điển thuật ngữ văn học, chủ biên Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi thì : Cốt truyện là hệ thống những sự kiện cụ thể đ-ợc tỗ
chức theo yêu cầu của hệ thống t- t-ởngvà nghệ thuật nhất định, tạo thành
một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức động của tác phẩm văn
học thuộc các loại tự sự và kịch.[Trang 88 /NXB ĐHQG / 1999 ].
1.5.2. Ngh thut k chuyn
Nh chỳng ta ó bit, trong cuc sng hng ngy con ngi thng k
cho nhau nghe rt nhiu truyn khỏc nhau. Cú mt iu m chỳng ta d nhn
thy l cỏch k chuyn ca mi ngi. Mc dự c nghe cựng mt cõu
chuyn nhng do nhiu ngi k khỏc nhau m cõu chuyn cng c xy ra
trong mt khụng gian hay thi gian nht nh. Vớ d nh cựng k v chuyn
i Sa Pa ca on thc tp nghe ngi A k thỡ ta thy nú l mt s vic ht
sc bỡnh thng nhng khi nghe ngi B k thỡ ú li l mt cõu chuyn ht
sc thỳ v v hp dn. Nh vy cú to ra c iu ny l do õu? ú chớnh l
nh vo ngh thut k chuyn ca ti tỡnh ca ngi B.
Theo cun : Vn dy tỏc phm v th loi ca tỏc gi Nguyn Vit
Ch - HSP H Ni thỡ : Ngh thut k chuyn l bit chn lc v sp xp.
Ngi k chuyn khộo lộo thỡ bit dng li ch no, lt qua ch no, cỏi gỡ
l chớnh, cỏi gỡ l ph, cỏi gỡ núi trc, cỏi gỡ núi sau sao cho cõu chuyn cú

chuyện chính là chiếc cầu nối giúp nhà văn và bạn đọc xích lại gần nhau hơn.
Vì thế, việc khám phá ra ngôn ngữ kể chuyện, tìm ra đƣợc thủ thuật kể
chuyện chính là một điều kiện tốt để ta có thể khám phá ra tài năng thật sự
của các nhà văn.

16


CHƢƠNG 2
MỘT SỐ THỦ THUẬT KỂ CHUYỆN CƠ BẢN
2.1. Thanh điệu cơ bản
2.1.1. Khái niệm
“ Thanh điệu cơ bản là thanh âm co bản của một tác phẩm văn học
nghệ thuật. Nó tựa hồ như một cái nền trên đó người đọc dựng lên những bức
tranh, những sự kiện, những nhân vật tham gia vào những sự kiện đó”.
2.1.2. Thanh điệu cơ bản trong tác phẩm văn học
Chúng ta đã biết nhiều tác phẩm văn học khác nhau: truyện cƣời, thơ
trữ tình, truyện ngụ ngôn,...Phụ thuộc vào những thể loại ấy mà thanh điệu cơ
bản khi trình bày phải trầm tĩnh, hoành tráng, buồn rầu hoặc mỉa mai.
Thanh điệu cơ bản do nội dung và hình thức của tác phẩm qui định.Tùy
theo tính chất của bài đọc văn học(chủ đề, nội dung tƣ tƣởng), tùy theo phong
cách ngôn ngữ của tác phẩm mà định ra cái thanh âm cơ bản lúc trình bày.
Thanh âm êm nhẹ đƣợc sử dụng để đọc phần lớn những truyện ngắn
viết cho thiếu nhi. Thanh điệu vui tƣơi cần đƣợc dùng đến khi trình bày một
bài văn, trong đó cã khung cảnh nhộn nhịp của thiên nhiên mùa xuân chắc
chắn sẽ gây cho chúng ta tình cảm vui sƣớng, hạnh phúc vì mùa xuân đang
tới. Thanh âm buồn là đặc trƣng của một số tác phẩm thơ trữ tình.
Nhiệm vụ của ngƣời đọc khi chuẩn bị bài đọc là phải phân tích bài cho
kỹ, hiểu nội dung, chú ý đến hình thức nghệ thuật và định ra thật đúng thanh
điệu cơ bản của tác phẩm đó cho phù hợp.

lớn thƣờng phù hợp với giọng chậm rãi, nhẹ nhàng, đều đều,...
Ví dụ : Ngày xưa / ở một làng nọ / có hai anh em nhà kia sống trong
một túp lều nhỏ /. Cha mẹ qua đời sớm / nên hai anh em phải sống trong cảnh
mồ côi /. Người anh tham lam / chiếm hết gia tài / chỉ chia cho người em một
cây khế ở góc vườn /....”
(Trích Cây khế )

18


Thanh điệu ở đoạn kết của các câu chuyện cổ tích lại đƣợc thể hiện bằng
giọng vui vẻ, thoải mái vì phần kết bao giờ cũng có hậu. Kẻ độc ác sẽ bị trừng
trị, ngƣời hiền lành sẽ đƣợc sống hạnh phúc, sung sƣớng.
Truyện cƣời, truyện đồng thoại thƣờng đƣợc thể hiện bằng giọng sảng
khoái, vui vẻ còn truyện thần thoại lại đƣợc kể với giọng nhanh, dồn dập khẩn
trƣơng ở những đoạn miêu tả cuộc giao tranh, thi tài.
Muốn kể chuyện hay, hấp dẫn ngƣời nghe thì việc cần làm trƣớc tiên là
phải tìm hiểu và nắm chắc đƣợc thanh điệu cơ bản của tác phẩm văn học đó.
Tùy vào từng thể loại truyện mà chúng ta dùng những giọng kể khác nhau.
Xác định đƣợc những thanh điệu cơ bản thật chính xác sẽ giúp ngƣời kể
chuyệntự tin và nhập tâm vào truyện. Vậy làm thế nào để có thể dạy trẻ tìm
ra thanh điệu cơ bản của một tác phẩm văn học?
Chúng ta biết rằng, tâm lý của trẻ thơ ở giai đoạn này là rất thích đƣợc
nghe kể chuyện - đặc biệt là trẻ rất thích đƣợc tự mình kể chuyện cho ngƣời
khác nghe. Vì thế, ngƣời lớn - nhất là giáo viên mầm non cần nắm đƣợc đặc
điểm này, tạo ra hứng thú cho trẻ trong các giờ làm quen với tác phẩm văn
học. Trẻ say mê, hứng thú nghe cô kể chuyện thì sẽ nắm đƣợc các tình tiết
trong truyện từ đó mà trẻ có thể nhanh chóng thuộc truyện và dễ dàng kể lại
đƣợc câu chuyện đó. Khi trẻ đã thuộc truyện thì chúng ta mới có thể dạy trẻ
cách xác định thanh điệu cơ bản của truyện đó. Trẻ mẫu giáo rất hay bắt

điệu càng phức tạp và phong phú bao nhiêu thì nghệ thuật biểu diễn của ng-ời
đọc càng tế nhị và khéo léo bấy nhiêu. A.P.Tsêkhôp trong truyện ngắn:
Những cảm xúc mãnh liệt viết: Tôi dám chắc rằng một từ nào cũng đều có
một nghìn nghĩa và sắc thái khi ta xem xét từ góc độ nó đ-ợc đọc lên nh- thế
nào. Muốn cho sắ c thái ngữ điệu đ-ợc phong phú, nguời ta sử dụng những
yếu tố: trọng âm, c-ờng độ, cửa giọng, ngắt hơi, lên và xuống giọng, nhịp
điệu, âm sắc. Tâm trạng, những suy nghĩ của các nhân vật gắn chặt với hành
vi của họ và đ-ợc phản ánh vào ngữ điệu của ng-ời kể.
2.2.3. Dạy trẻ sử dụng ngữ điệu khi kể chuyện
Ngữ điệu có thể coi là hồn của câu chuyện. Trẻ biết sử dụng đúng ngữ
điệu khi kể chuyện thì đã thực sự làm sống lại đ-ợc câu chuyện đó. Tuy
nhiên, trẻ nắm đ-ợc tính chất biểu cảm của ngữ điệu hầu nh- một cách trực
20


giác. Trẻ cảm thụ tác phẩm thông qua giọng kể của cô giáo. Bởi vậy, giọng kể
chuyện biểu cảm của giáo viên là ph-ơng thức dẫn trẻ đến sắc thái tình cảm
bao gồm trong tác phẩm, là ph-ơng thức phát triển và hoàn thiện tình cảm của
trẻ. Giáo viên phải trình bày lời nói của nhân vật trong truyện sao cho ng-ời
nghe không những hiểu đ-ợc ý nghĩa mà còn phải hình dung đ-ợc cá tính của
nhân vật, trạng thái tinh thần, hình thức bề ngoài và cách giao tiếp của họ nữa.
Có một lời khuyên của những ng-ời nghệ sĩ kể chuyện văn học dành
cho những ng-ời kể chuyện: chúng ta không nên có tham vọng nhập vai hoàn
toàn vào hình t-ợng nhân vật khi truyền đạt lời nói trực tiếp của họ nh- các
nghệ sĩ sân khấu đã làm khi nhập vai vào nhân vật. Khi kể chuyện cho trẻ giáo
viên không đ-ợc biến mình thành Sói, thành Cáo, thành Gấu hoặc những nhân
vật hoang đ-ờng khác với những tính chất mà ng-ời ta thêm thắt. Song ng-ời
giáo viên cũng không thể kể một cách khô khan (kể khác với đọc) theo trật tự
có sẵn, theo nguyên văn lời nói của các nhân vật. Chúng ta cần phải mở ra
đ-ợc tâm trạng (nội tâm) của các nhân vật. Ng-ời kể không chỉ truyền đạt ý

Nh-ng ngắt giọng không chỉ đơn giản là nghỉ, là dừng lại. Ngắt giọng là một
ph-ơng tiện để bộc lộ ý tứ của ng-ời đọc của câu chuyện.
Khi đọc và kể chuyện văn học, ng-ời ta sử dụng ba hình thức ngắt
giọng: ngắt giọng lôgic, ngắt giọng tâm lý v ngắt giọng thơ ca.
2.3.2. Ngắt giọng lôgic
Ngắt giọng lôgic là những chỗ dừng lại giữa các nhóm từ có ý nghĩa
liên quan đến nhau. Đó là hình thức đ-ợc sử dụng rộng rãi nhất trong lời nói
của chúng ta.
Nhờ có ngắt giọng lôgic, ngắt giọng theo ý nghĩa mà bài văn đ-ợc hiểu
chu đáo hơn. Chúng ta hãy thử đọc liền không ngắt giọng cả câu sau:
Các em dậy sớm ra sông lúc năm giờ bắt đầu câu cá.
Nếu đọc liền cả câu nh- thế sẽ rất khó hiểu. Từ sớm ở trong câu
không biết ngắt vào vế tr-ớc hay vế sau. Ng-ời nghe sẽ có thể hiểu rằng: Các
em dậy/ sớm ra sông lúc năm giờ/ bắt đầu câu cá!. ý của câu này chỉ rõ
nghĩa nếu sử dụng đúng cách ngắt giọng.
Các em dậy sớm,/ ra sông,/ lúc năm giờ bắt đầu câu cá.
Nh- vậy, khi đọc và kể chuyện văn học chúng ta cần xác định đúng ý
của câu, từ trong truyện, cần ngắt giọng lôgic, đúng nội dung cần diễn đạt.

22


2.3.3. Ngắt giọng tâm lý
Ngắt giọng tâm lý đ-ợc sử dụng phù hợp nhất trong những loại văn học
nh- ngụ ngôn. Sức biểu cảm của thanh âm, xu thế hài h-ớc của nó đ-ợc nâng
lên nhờ sự sử dụng đúng chỗ ngắt giọng tâm lý.
Ngắt giọng tâm lý tác động mạnh đến ng-ời nghe, vì thế không đ-ợc
lạm dụng nó. Ng-ời đọc phải làm ra vẻ rất tự nhiên khi áp dụng nó. Việc ngắt
giọng tâm lý ở các truyện dành cho lứa tuổi mẫu giáo chủ yếu là ở giọng của
các nhân vật trong truyện.

thay đổi.
Ví dụ :
Trong truyệnBa cô gái, bà mẹ viết cho ba cô gái một bức th- báo tin
bà bị ốm và nhắn các cô về thăm bà. Bà nhờ Sóc con đ-a th- đến cho ba cô
gái. Sóc đến nhà cô chị cả báo tin, chi cả nói là còn phải cọ cho xong mấy cái
chậu đã rồi mới đi đ-ợc. Nghe chị cả nói, Sóc con giận dữ :
_ Thương mẹ! Thương mẹ mà lại cọ chậu đã rồi mới đi thăm mẹ. Thôi cứ
ở nhà mà cọ chậu suốt đời đi.
Có thể ngắt giọng sau các từ thương mẹ để nhấn mạnh tâm trạng của
nhân vật.
Thương m/ Th-ơng mẹ/ mà lại còn cọ cho xong chậu rồi mới đi thăm
mẹ.
Ngắt giọng sau từ thương mẹ đồng thời nhấn giọng một chút sẽ bộc
lộ đ-ợc cảm xúc và thái độ của Sóc con đối với cô chị cả và cô chị hai.
Hoặc trong truyện Chú Dê đen, đoạn Dê trắng gặp Sói :
Sói quát : Dê kia/ ngươi đi đâu?
- Tôitôiđi tìmlá non để ăn và nước suối mát để uống ạ!
- Trên đầu ng-ơi có gì?
- Trêntrênđầu tôi có sừng ạ!
Cần ngắt giọng ở những đoạn nh- sau:
- Dê kia/ ng-ơi đi đâu?
-

Tôi/ tôi/ đi tìm/ tìm lá non để ăn và n-ớc suối mát để uống ạ.

- Trên/ trên/ đầu tôi có sừng ạ.

24



25


Trích đoạn Đặc điểm của phương phỏp dạy trẻ kể lại truyện văn học Đặc điểm của phương phỏp dạy trẻ sỏng tạo Cỏc biện phỏp dạy trẻ kể chuyện sỏng tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status