Thực trạng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở một số trường mầm non khu vực Sóc Sơn - Hà Nội - Pdf 27

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
***************
NGUYỄN THỊ CHÚC
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở
MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON KHU
VỰC SÓC SƠN - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
HÀ NỘI - 2010
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: GIÁO DỤC TIỂU HỌC
***************
NGUYỄN THỊ CHÚC
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC
THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở
MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON KHU
VỰC SÓC SƠN - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Thạc sĩ: Đỗ Xuân Đức
HÀ NỘI - 2010LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.s Đỗ Xuân
Đức đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa
luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các cô giáo trong 2 trường: MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU.................................................................................... 1
I. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 1
II. Lịch sử nghiên cứu đề tài ...................................................................... 3
III. Mục đích nghiên cứu đề tài .................................................................. 3
IV. Khách thể nghiên cứu của đề tài........................................................... 3
V. Đối tượng nghiên cứu của đề tài............................................................ 4
VI. Mức độ, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 4
VII. Giả thuyết khoa học của đề tài ............................................................ 4
VIII. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................ 4
IX. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 4
X. Dự kiến nội dung công trình ................................................................. 5
XI. Kế hoạch triển khai ............................................................................. 6
PHẦN II: NỘI DUNG............................................................................... 7
Chƣơng 1: Một số vấn đề về giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo .............. 7
1.1. Ý nghĩa .............................................................................................. 7
1.2. Nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ....................................... 8
1.2.1. Bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khoẻ, đảm bảo sự tăng
trưởng hài hoà của trẻ.............................................................................. 9
1.2.2. Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm
chất vận động ....................................................................................... 10
1.2.3. Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và các kỹ năng, kỹ
xảo vệ sinh ........................................................................................... 10
1.3. Nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo............. 11
1.3.1. Giáo dục các kỹ xảo và thói quen vệ sinh...................................... 11
1.3.2. Tổ chức cho trẻ ăn ....................................................................... 13

Chƣơng 3: Nguyên nhân và giải pháp .................................................... 44
3.1. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ... 44
3.2. Giải pháp ......................................................................................... 45
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................... 47
1. Kết luận .............................................................................................. 47
2. Kiến nghị ............................................................................................ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 51 1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Vì vậy,
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp
có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ cho đất nước. Đại hội Đảng khoá IX đã xác
định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục - đào tạo là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người” [1]. Vì vậy, hiện nay giáo
dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt, giáo dục mầm non có
một vị trí rất quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc
học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Chăm sóc - giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của cuộc sống
là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp
chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của
đất nước. Việt Nam đang có một bước chuyển mình mạnh mẽ trên con đường đi
đến xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc. Trẻ em hôm nay là thế
giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được tồn tại,
được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng. Vì thế, giáo dục con người ở lứa
tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗi con người đối với xã hội,

và đề xuất một số giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể
chất cho trẻ mầm non. Nhưng do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu
mới chỉ dừng lại ở một số trường mầm non khu vực Sóc Sơn - Hà Nội.

3
II. Lịch sử nghiên cứu đề tài
– Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trẻ
trong các trường mẫu giáo quận Thanh Xuân - Hà Nội (Luận văn thạc sĩ
Dương Thuý Quỳnh - 1999)
– Một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo bé nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ (Huỳnh Kim Vui, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2005)
– Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề (Lục Thị Trung Hải, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2005)
– Một số biện pháp phát huy tính tích cực của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi trong
hoạt động chung có mục đích giáo dục thể chất (Lý Thị Anh, Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2005)
Như vậy, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề thể chất nhưng chưa có
ai nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu
giáo ở một số trƣờng mầm non khu vực Sóc Sơn - Hà Nội”. Vì vậy, tôi
chọn đề tài này để nghiên cứu.
III. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nhằm tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở
một số trường mầm non khu vực Sóc Sơn - Hà Nội đồng thời phát hiện ra
nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở các trường
mầm non.
IV. Khách thể nghiên cứu của đề tài
Khách thể nghiên cứu của đề tài là vấn đề giáo dục thể chất cho trẻ ở lứa

Chương 1: Một số vấn đề về giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
1.1. Ý nghĩa
1.2. Nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
1.3. Nội dung và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
Chương 2: Thực trạng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo ở một số trường
mầm non khu vực Sóc Sơn - Hà Nội
2.1. Thực trạng về cơ sở vật chất và không gian
2.2. Thực trạng về công tác quản lý và đội ngũ giáo viên
2.3. Thực trạng thực hiện các nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mẫu
giáo
2.4. Thực trạng thực hiện nội dung và phương pháp giáo dục thể chất
cho trẻ mẫu giáo trong các trường mầm non
2.5. Thực trạng về sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và địa
phương về công tác giáo dục mầm non
2.6. Thực trạng kết quả giáo dục thể chất của trẻ mẫu giáo
Chương 3: Nguyên nhân và giải pháp
3.1. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng giáo dục thể chất cho trẻ mẫu
giáo
3.2. Giải pháp
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

6
XI. Kế hoạch triển khai
– Tháng 11/2009 - 12/2009: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương
– Tháng 12/2009 - 01/2010: Tìm hiểu cơ sở lý luận
– Tháng 02/2010 - 4/2010: Tìm hiểu thực trạng
– Tháng 4/2010 - 5/2010: Hoàn thành đề tài nghiên cứu


thần kinh khoẻ mạnh cho trẻ. Khi đứa trẻ khoẻ mạnh, hiển nhiên sẽ có ảnh
hưởng tốt đến sự phát triển chung của trẻ.
Giáo dục thể chất có mối quan hệ mật thiết tới việc giáo dục đức, trí, thẩm
mỹ và lao động cho trẻ. Bởi sự thành công của bất cứ hoạt động nào của trẻ
đều phụ thuộc vào trạng thái sức khoẻ của nó. Nếu cơ thể khoẻ mạnh sẽ làm
cho trẻ yêu đời hơn, tri giác cái đẹp sâu sắc, tinh tế hơn và trẻ có khả năng tạo
ra cái đẹp trong mọi hoạt động và đời sống. Giáo dục thể chất còn có mối liên
hệ chặt chẽ với giáo dục lao động. Thể dục giúp trẻ có sức khoẻ dẻo dai, vận
động nhanh nhẹn, chính xác hơn, trẻ có cảm giác về nhịp điệu và sự định
hướng không gian tốt hơn.
Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã đặc biệt chú trọng tới
công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
còn gặp nhiều khó khăn, tình hình sức khoẻ còn nhiều vấn đề đáng lo ngại.
Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh đường hô hấp, các
bệnh đường ruột… các điều kiện đảm bảo và chăm sóc sức khoẻ của trẻ còn
nhiều thiếu thốn. Cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá chật hẹp,
chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt, học tập. Vì vậy, giáo dục
thể chất cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một cách mạnh mẽ toàn
diện, cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ được
phát triển tốt nhất.
1.2. Nhiệm vụ giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo
Quyết định 55 của Bộ giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của
Nhà trẻ - Mẫu giáo Hà Nội, 1990, trang 6 ghi rõ mục tiêu giáo dục mầm non
là “… Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới
XHCN Việt Nam:
– Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối.

9
– Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người
gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo), thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.

– Cùng với việc bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khoẻ, đảm bảo sự
tăng trưởng hài hoà của trẻ thì chúng ta cần hình thành, phát triển và hoàn
thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, leo trèo, ném,
trườn. Rèn luyện kỹ năng phối hợp cảm giác với vận động, phối hợp các vận
động của các bộ phận cơ thể với nhau như đầu, thân mình, chân, tay; năng lực
định hướng trong vận động như trái, phải, trước, sau… để vận động của trẻ
được nhanh nhạy, chính xác hơn.
– Tiếp tục hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động đồng thời rèn luyện
những phẩm chất vận động cho trẻ, dần hoàn thiện các động tác để các động
tác trở nên nhanh nhạy, chính xác, linh hoạt, gọn gàng, dẻo dai, không còn
những động tác thừa như nghoẹo cổ, thè lưỡi, xô người về phía trước hay phía
sau khi không cần thiết. Trẻ biết thực hiện các bài tập vận động một cách hợp
lý trong các điều kiện khác nhau và biết kết hợp các bài tập vận động đã học
khác.
1.2.3. Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và các kỹ năng, kỹ xảo
vệ sinh
– Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra
trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất
định. Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thường gắn với nhu cầu cá
nhân. Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên ổn định, cân
bằng và khó loại bỏ.
– Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ, thức
đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động

11
khác. Thói quen này giúp đưa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêu hoá, có
khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra
bình thường và sức khoẻ của trẻ được củng cố.
– Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với
việc bảo vệ sức khoẻ và tăng cường thể lực. Bởi khi trẻ biết vệ sinh thân thể,

Vệ sinh môi trƣờng: Đi vệ sinh đúng nơi quy định, không vứt rác bừa
bãi, không làm bẩn nhà, lớp học. Trẻ biết giúp đỡ người lớn một số công việc
nhẹ nhàng: nhổ cỏ, nhặt lá trong trường, quét nhà…
Chúng ta cần giáo dục trẻ cả bốn kỹ xảo và thói quen trên, đồng thời cần
tăng dần lên tính phức tạp mức độ yêu cầu, và tính độc lập khi thực hiện các
thói quen đó theo độ tuổi. Để hình thành tốt kỹ xảo và thói quen văn hoá - vệ
sinh cần phải:
– Sắp xếp các thao tác nên hành động theo một thứ tự nhất định, hợp lý.
– Lập kế hoạch thứ tự các hành động.
– Ở giai đoạn đầu tiên phải lặp đi lặp lại các kỹ năng cách nhau không xa,
cho trẻ thường xuyên được luyện tập với trình tự nhất định của hành động.
– Người lớn phải là tấm gương mẫu mực về các thói quen văn hoá vệ sinh
để cho trẻ noi theo.
– Cần cho trẻ thấy được ý nghĩa và sự hợp lý của các thao tác và các hành
động văn hoá vệ sinh để từ đó hình thành nhu cầu về thói quen văn hoá vệ
sinh.
– Phối hợp với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vận dụng,
củng cố những kỹ năng đã học ở gia đình để những kỹ xảo và thói quen vệ
sinh nhanh chóng được hình thành và bền bỉ hơn.

13
Do khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế, trẻ mau quên, dễ chán, chưa
hiểu được hết ý nghĩa của thói quen vệ sinh ấy nên người lớn cần hướng dẫn
tỉ mỉ, kiên trì và nhẹ nhàng với trẻ.
1.3.2. Tổ chức cho trẻ ăn
Để giúp cơ thể trẻ phát triển tốt, đảm bảo phát triển bình thường của các
cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể, cần tổ chức chế độ ăn uống hợp lý cho
trẻ. Khẩu phần ăn phải hợp lý, cân đối giữa các thành phần protit, gluxit, lipit,
muối khoáng, vitamin… Đồng thời, phải quan tâm đến cách chế biến các loại
thực phẩm sao cho phù hợp với khả năng tiêu hoá của từng lứa tuổi cũng như

+ Cho trẻ lau miệng, rửa tay, uống nước, súc miệng bằng nước muối.
+ Cho trẻ ngủ, nghỉ ngơi sau khi ăn.
1.3.3. Tổ chức cho trẻ ngủ
Ngủ là nhu cầu sinh lý không thể thiếu được của cơ thể. Trẻ sơ sinh ngủ
20 giờ trong ngày, người lớn ngủ từ 7 đến 8 giờ. Trẻ càng lớn ngủ càng ít. Sự
thức của trẻ có liên quan đến hoạt động tích cực - kích thích các tế bào thần
kinh vỏ não, được hình thành chủ yếu do ảnh hưởng của các tác động từ bên
ngoài vào vỏ đại não thông qua các cơ quan cảm giác. Trung ương thần kinh
của trẻ hoạt động còn rất yếu và rất dễ bị mệt mỏi khi trẻ thức. Để có thể khội
phục lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh, việc tổ chức giấc ngủ
tốt cho trẻ là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn đối với việc bảo vệ sức khoẻ của
trẻ.
Phương pháp tổ chức giấc ngủ cho trẻ mầm non:
Ngủ là một phản xạ có điều kiện, vì vậy cần cho trẻ ngủ đúng giờ tạo thói
quen cho trẻ. Để tạo ra nhu cầu ngủ ở trẻ một cách đúng đắn thì chúng ta cần
xây dựng một chế độ sinh hoạt hợp lý phù hợp với từng lứa tuổi đồng thời cần

15
tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ ngủ nhanh, ngủ sâu vào những giờ giấc đã định
cho giấc ngủ.
Muốn vậy, khi tổ chức cho trẻ ngủ chúng ta cần lưu ý những công việc
sau:
Trƣớc khi ngủ:
+ Vệ sinh phòng ngủ nhằm loại trừ tối đa những kích thích bên ngoài.
Phòng ngủ sạch sẽ, yên tĩnh, có diện tích phù hợp, phòng ngủ cần thoáng mát
về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Phòng ngủ đảm bảo lưu thông không khí tốt,
hạn chế ánh sáng trong phòng ngủ. Các trang thiết bị trong phòng ngủ có kích
thước phù hợp, sạch sẽ, an toàn với trẻ.
+ Không cho trẻ ăn quá no, vận động quá nhiều, uống các chất kích thích
trước khi ngủ.

mỗi một giai đoạn thì nhu cầu vận động của trẻ là khác nhau. Vì vậy, khi lập
chương trình giáo dục thể chất nhằm phát triển vận động cần dựa trên những
cơ sở sau:
Các bài tập vận động phải phù hợp với từng độ tuổi làm sao gây được hứng
thú với trẻ.
– Các bài tập vận động có tác dụng chung đến toàn bộ cơ thể, kích thích
được nhiều cơ bắp tham gia thúc đẩy sự hoạt động của toàn bộ các hệ cơ quan
trong cơ thể.
– Cùng với việc dạy trẻ dạy trẻ các bài tập vận động chúng ta cũng phải
chú ý đến việc phát triển các kỹ năng, tố chất vận động.
– Cần tăng cường ưu tiên các nhóm cơ bắp còn yếu về mặt sinh lý và giáo
dục tư thế đúng cho trẻ, giúp trẻ có một thân hình cân đối, các động tác nhẹ
nhàng, chính xác.

17
– Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong
phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo như trò chơi vận động,
thể dục buổi sáng, tiết học thể dục, dạo chơi, các trò chơi thể thao lao động.
Trong đó, trò chơi vận động, trò chơi thể thao là các hình thức hoạt động hấp
dẫn trẻ em và có tác dụng giáo dục nhiều tới các vận động cơ bản và sự phối
hợp các vận động ấy.
1.3.5. Chế độ sinh hoạt của trẻ ở trƣờng mẫu giáo
Chế độ sinh hoạt là sự luân phiên rõ ràng và hợp lý các dạng hoạt động và
nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày, nhằm thoả mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ,
vệ sinh cá nhân, hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng
thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể phát triển tốt.
Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để giáo dục thể chất cho trẻ có
kết quả. Khi chế độ sinh hoạt đã trở thành thói quen thì nó giúp trẻ phát triển
tính độc lập tích cực, sáng tạo của trẻ, giúp trẻ có được những phẩm chất thói
quen đạo đức, sinh hoạt có nề nếp theo trật tự thời gian.

theo lứa tuổi.Chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc giáo dục
do Bộ giáo dục - đào tạo ban hành cụ thể như sau:

19
TT Nội dung
Thời gian
Bé Nhỡ Lớn
1 Đón trẻ, chơi tự do, thể dục sáng, điểm danh 1h15 1h15 1h
2 Các tiết học 30ph 1h 1h20p
3 Hoạt động ngoài giờ 50ph 30ph 30ph
4 Trò chơi sáng tạo 50ph 50ph 50ph
5 Vệ sinh ăn trưa 1h 50ph 40ph
6 Ngủ trưa 2h50ph 2h50ph 2h40ph
7
Vệ sinh, vận động nhẹ, ăn quà chiều (ăn xế
chiều)
50ph 40ph 30ph
8
Sinh hoạt chiều (nêu gương bé ngoan chiều thứ
bảy)
50ph 1h 1h10ph
9 Hoạt động tự chọn, vệ sinh trả trẻ 1h20ph 1h20ph 1h20ph
Việc thực hiện chế độ sinh hoạt không cứng nhắc, khi áp dụng với mỗi em
cần có sự linh hoạt thích đáng. Có thể xê dịch thời gian biểu ở mức độ cần
thiết. Chẳng hạn, khi trẻ đang quá ham chơi và mệt mỏi, thì có thể kéo dài
thời gian chút ít, nếu cần ngủ sớm hay dậy sớm khi có yêu cầu, một số trẻ suy
dinh dưỡng cần ăn bữa bổ sung…

Trích đoạn Thực trạng đảm bảo chế độ sinh hoạt hợp lý Thực trạng tổ chức cho trẻ ăn Thực trạng tổ chức cho trẻ ngủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status