PHẦN 1.MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, thể dục thể thao (TDTT) đã trở
thành một bộ phận của nền văn hoá xã hội loài người. Nó là một trong những bộ phận
không thể thiếu được của nền văn minh nhân loại. Sự phát triển của TDTT là một trong
những dấu hiệu thể hiện trình độ văn hoá và năng lực sáng tạo của mỗi quốc gia trên
thế giới.
Cùng với sự phát triển của các môn thể tho khác, bóng đá là một môn thể thao
được quốc tế hoá và phổ biến rộng khắp trên toàn thế giới.
Ngày nay các kỹ thuật, chiến thuật bóng đá đã có thể nói đạt đến đỉnh cao, vài năm
gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thì bóng đá Việt Nam đã và đang
phát triển một cách đáng kể và đã gặt hái được một số thành công đáng tự hào điều đó
được chứng minh bởi những thành tích mà đội bóng đá nước ta đã đạt trên đấu trường
quốc tế.
Không chỉ dừng lại ở việc đạt được thành tích TDTT nói chung và bóng đá nói
riêng còn là một phương tiện hữu hiệu làm góp phần vào việc nâng cao sức khoẻ, phát
tiển năng lực, ý chí và các phẩm chất đạo đức cho con người.
Hơn nữa nó là nhịp cầu tạo mối quan hệ mật thiết giữa các dân tộc, các quốc gia
trên thế giới.Điều đó được biểu hiện hiệu quả các cuộc thi đấu giao hữu bóng đá nhằm
thiết chặt hơn nữa tình đoàn kết, thân ái và gắn bó giữa các quốc gia trên toàn thế giới .
Cũng như các môn thể thao khác, thi đấu bóng đá là sự biểu hiện của đỉnh cao
trình độ vận động viên về các mặt kỹ, chiến thuật, thể lực, tâm lý và các tố chất vận
động khác. Trong thi bóng đá các cầu thủ thường xuyên phải di chuyển, do vậy đòi hỏi
các cầu thủ phải có thể lực tốt cùng với sự vận dụng các tố chất vận động khác để sử lý
các tình
huống xảy ra trong thi đấu. Trong đó sức bền tốc độ là một trong những tố chất vận
động rất cần thiết không chỉ trong bóng đá mà còn ở các môn thể thao khác.
1
Như chúng ta đã biết, bóng đá là một môn thể thao thi đấu đối kháng trực tiếp,
do vậy mà tình huống diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian rất ngắn và các tình
huống luôn thay đổi đòi hỏi các cầu thủ phải thực hiện các động tác và sử lý tình huống
sinh THCS lứa tuổi 14 - 15 trường THCS”.
PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
2.1.1. Cơ sở lý luận của sức mạnh tốc độ
Bóng đá là một môn thể thao thi đấu được diễn ra trong điều kiện luôn luôn thay
đổi (Các điều kiện này do đối phương tạo ra, do bản thân vận động viên. Khi sử
dụng chiến thuật). Chính vì vậy mà các hoạt động về kỹ, chiến thuật trở nên phức tạp
hơn. nó đòi jhỏi kỹ năng hoạt động thể lực của vận động viênở mức độ rất cao.Tố chất
đặc thù của môn bóng đá là sức mạnh tốc độ.
Vậy quá trình giảng dạy và huấn luyện môn bóng đá bao gồm các mặt huấn
luyện và giảng dạy kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, tâm lý, các mặt này tác động tương
hỗ lẫn nhau trong quá trình tập luyện và thi đấu.
Trong các môn thể thao nói chung bóng đá nói riêng thì sức mạnh tốc độ là một
tố chất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Nhờ tố chất thể lực này mà các nhiệm vụ hầu
hết các môn thể thao được giải quyết một cách tương đối tốt. Hơn nữa bóng đá là một
môn thể thao đối kháng, các tố chất cá nhân trực tiếp.
Đặc điểm hoạt động thi đấu của nó là khi thực hiện kỹ thuật tấn công phòng thủ,
hay phòng thủ phản công, phần lớn các cầu thủ sút bóng, chuyền bóng hay thực hiện
các kỹ thuật cá nhân thì đopói phương lôi kéo, du đẩy kháng cự lại. Bởi vậy trong công
tác huấn luyện và hoạt động thi đấu cần phải đòi hỏi về tố chất sức mạnh tốc độ cao
hơn.
Là một môn đặc thù của môn bóng đá sức mạn tốc độ đã tạo cho VĐV có đủ năng lực
khi thực hiện những ý đồ chiến thuật của mình (Nếu VĐV được trang bị đầy đủ sức
3
mạnh tốc độ ) Trong tập luyện và thi đấu nhờ có sức mạnh tốc độ mà đấu thủ có thể
tạo nên những yếu tố bất ngờ cho đối phương.
Đã có nhiêu nhà khoa học nghiên cứu về sức mạnh tốc độ và cho rằng sức mạnh
tốc độ là khả năng chống lại lực cản bên ngoài và khắc phục trọng lượng vật cản bằng
sự nỗ lực cơ bắp.
Theo khái niệm chung về sức mạnh thì sức mạnh là khả năng con người tạo ra
trong nhiều đợt nhưng nghỉ giữa các lần lặp lại tương đối dài.
Hoạt động sức mạnh tốc độ bao gồm các dạng bài tập thể lực tạo ra một trạng
thái ổn định một vận tốc lớn nhất.
Các hoạt động sức mạnh tốc độ bao giờ cũng có một số động tác tạo đà thông
thường là động tác có chu kỳ.
Trong hoạt động sức mạnh tốc độ VĐV cần phải gắng sức ở mức tối đa ngoài ra
hoạt động loại này đòi hỏi phải có tính linh hoạt và phối hợp cao trong thời gian ngắn
vì vậy chúng được gọi là hoạt động sức nhanh bột phát.
Trong hoạt động sức mạnh tốc độ. Hệ máu của VĐV hầu như không có biến đổi
gì rõ rệt.
Tần số biến đổi nhịp tim biến đổi ít, quan trọng nhất nhất là nhịp tim của VĐV
tăng sau khi đã kết thúc các bài tập sức mạnh tốc độ.
Huyết áp của VĐV tăng lên tuy không cao lắm nhất là huyết áp tối đa (150-
160mmHg ).
Tần số hô hấp không đáng kể sau khi đã kết thúc hoạt động. Thể tích hô hấp và
hấp thụ õxy cũng tăng lên ít nhiều.
Chức năng của cơ quan bài tiết và điều hoàn thân nhiệt biến đổi không đáng kể
trong hoạt động sức mạh tốc độ.
2.1.2. Cơ sở lý luận của phương pháp trò chơi.
5
Trò chơi là một trong những bài tập thể lực xuất hiện sớm nhất.Nó là sự mô tả
và cách điệu hoá hoạt động thường nhật của con người. Trò chơi có tính độc lập tương
đối với nhu cầu mang tính thực tiễn dơn thuần của cuộc sống.
- Động lực trực tiếp trong quá trình tham gia trò chơi là nội dung, ý nghĩa của nó.
đó là sự độ sức tranh tài và sự thoả mãn ước vọng chiến thắng và niềm vui tong
giao tiếp và đua tanh với những tình huống luôn thay đổi.
- Phần lớn trò chơi bao gồm hành vi vận động như đi bộ, chạy, nhảy,ném,leo trèo,
vượt vật cản … được gọi chung là trò chơi vận động.
- Những đặc điểm chung của trò chơi vận động là luôn có sự đua tranh và phối
hợp trong sự tác động và quan hệ qua lại giữa những người cùng chơi.
Trò chơi trong giáo dục thể chất thường có những đặc điểm sau:
1.Tổ chức theo chủ đề: Hoạt động của những người chơi hoạt động tương ứng
với chủ đề giả định hoặc có tính chất hình ảnh, mỗi trò chơi cần đạt được mục đích
nhất định, chủ đề chơi có thể lấy trực tiếp từ hiện thực xung quanh.Phản ánh các hiện
tượng hoạt động thực dụng trong đời sống hoặc có thể sáng tác yheo nhu cầu giáo dục
thể chất.
2.Phong phú phương thức đạt mục đích và tổng hợp của hoạt động, khả năng đạt
mục đích chơi ( Thắng cuộc ) thường không hạn chế ở một phương thức hành động,
thường thì bao giờ cũng có nhiều cách để chiến thắng được luật chơi chỉ nên những
quy định về hành vi chứ không quy định trước một cách cứng nhắc hành động cụ thể
về nguyên tắc hoạt động của trò chơi trong quá trình giáo dục thể chất mang tính chất
tổng hợp tức là gồm nhiều hoạt động vận động khác nhau như: chạy, nhảy, nắm, bắt.
Đôi khi trong phương pháp trò chơi cũng dùng các động tác tương đối đồng nhất như
trò chơi PAROLÊCH (Trò chơi chạy ) là sự kết hợp độc đáo trò chơi chạy với phương
pháp biến đổi liên tục trong đó chạy với tốc độ khác nhau, chạy luân phiên với đi bộ
được tiến hành trên địa hình tự nhiên theo hình thức thi đua giữa những người tham
gia.
7
3.Do đặc điểm và tính yêu cầu về tính tự lập, sáng kiến nhanh trí, khéo léo nên
phương pháp trò chơi tạo ra cho người chơi điề kiện rộng rãi để giải quyết một cách
sáng tạo các nhiệm vụ vận động, thêm vào đó sự thay đổi thường xuyên và bất ngờ các
tình huống trong tiến chơi buộc phải giải quyết cácnhiệm vụ trong thời gian ngắn và
động viên đầy đủ khả năng vận động.
1.Tạo ra quan hệ đua tranh căng thẳng giữa các cá nhân và các nhóm người với
tính cảm xúc cao trong thời gian chơi, mhững mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân,
giữa các nhóm người diễn ra tích cực. Mối quan hệ này được xây dựng theo kiểu hợp
tác ( Giữa những người cùng đội ) vừa theo kiểu đua tranh ( Giữa các đối thủ trong
trò chơi đối kháng giữa hai người hay hai đội với những mâu thuẫn và xung đột
nhát định ) Điều đó tạo nên luồng cảm xúccao và tác động đến sự biến đổi rõ rệt các
đạo đức cá nhân.
sinh dục. Các chức năng sinh lýmới hoàn toàn xuất hiện,tuyến sinh dục bắt đầu hoạt
động biểu hiện dấu hiệu phụ như: Giọng nói, tính cách. Sự phát triển này làm ảnh
hưởng phàn nào tới cá tính của các em, tình cảm rất sâu sắc rễ bị kích động khiến cho
bản thân không kiềm chế được, đôi khi bị kích động mạnh làm cho cácem dẫn đến quá
trớn, học tập miệt mài, hăng say nhưng các em lại dễ chán nản nên không hoàn thành
nhiệm vụ.
Sự phát triển thân thể của các em đột ngột về: chiều cao, hệ xương, hệ thần kinh
cũng được hoàn thiện và phát triển. Sự biến đổi chặt chẽ về thể chất dẫn đến sự mất
cân bằng cúa các bộ phận chức năng cơ thể: sự mất thăng bằng giữa tim mạch và mạch
máu, dung tích của tim tăng hơn so với lứa tuổi trước.hệ tuần hoàn tạm thời bị rối loạn
gây lên hiện tượng thiếu máu cục bổơ một số bộ phận trên vỏ não làm cho các em tong
quá trình tập luyện rễ bị mệt mỏi, chán nản thần kinh không ổn định, rễ xúc động, rễ
kích động, làm các phản xạ giữa hưng phấn và ức chế không ổn định, làm cho các em
có lúc mất tự chủ bản thân.
9
Cùng với sự phát triển về sức nhanh vcà sức mạnh trong cơ bắp khiến trong quá
trình hoạt động có nhiều động tác thừa, lóng ngóng và vụng về,sai lệch về biên độ và
kỹ thuật về động tác. Nhưng đây cũng là dấu hiệu khó khăn tạm thời về sự phát triển.
Trong quá trình học tạp các em rất thích được giao những công việc cụ thể, rất thích
được khen ngợi.biểu dương có xu hướng bắt chước học tập người lớn.
2.1.3.2. Đăc điểm sinh lý.
Đăc điểm quan trọng trong tập luyện và huấn luyện các em ở giai đoạn này là cả
một quá trình huấn luyện diễn ra trong một cơ thể đang phát triển và đang trưởng
thành, làm cho quá trình huấn luyện hết sức phức tạp( Do vậy yêu cầu người huấn
luyện, người lập ké hoạch phải nắm được đặc điểm sinh lý của lứa tuổi. Cần phải có sự
phối hợp, hợp lý giữa lượng vận động và thi đấu trong sự phát triển sinh lý của các em
trong giai đoạn là: Lượng vận động cực đại không đảm bảo cho sự thích nghi và sự
phát triển thành tích, ngựơc lại ta nếu ta sử dụng lượng vận động quá sức sẽ dẫn đến
các em cạn kiệt năng lượng của cơ thể dẫn đến hiện tượng rối loạn bệnh lý). Khả năng
vận động của các em trong giai đoạn này đều tuân theo đặc điểm lứa tuổi. Giai đoạn
Thời kì này bộ xương các em lớn lên một cách đột ngột cả chiều dài và chiều
dày, đàn tính xương tăng giảm lượng can xi trong xương, tăng sự xuất hiện sự cốt hóa
ở một số bộ phận của xương như mặt (cột xương sống) các tổ chức sụn được thay thế
bằng các mô xương, nên cùng với sự phát triển với chiều dài của cột sống thì khả năng
biến đổi của cột sống không giảm mà tráI lại tăng lên và có xu hướng cong vẹo.
c, Hệ tuần hoàn.
Đang trên đà phát triển mạnh để kịp thời với sự phát triển toàn thân, nhưng còn
thiếu cân đối gây nên sự mất cân bằng tạm thời các bộ phận cơ thể như: Sự mất thăng
bằng giữa tim và hệ mạch máu dung tích tăng lên gấp đôi so với lứa tuổi trước nhưng
11
dung tích hệ mạch máu chỉ tăng gấp rưỡi, hệ tuần hoàn tạm thời bị rối loạn gây nên
hiện tượng thiếu máu từng bộ phận trong cơ não.
Đó là nguyên nhân làm cho huyết áp ở lứa tuổi này thường tăng cao đột ngột,
mạch máu không ổn định nên hoạt sẽ chóng mệt mỏi, cho nên khi hoạt động cần chú ý
cho học sinh tập từ khối lượng nhỏ đến khối lượng lớn, tránh tăng khối lượng đột ngột
làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển mạch máu nên các bài tập sử dụng phải
được tính toán sao cho hợp lí nhất.
d, Hệ hô hấp.
Phổi của các em phát triển nhưng không đều, khoang ngực nhỏ hẹp nên các em
thở nhanh và không ổn định dung tích sống, không khí phổi còn ít đó chính là nguyên
nhân làm cho tần số hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và chóng dẫn đến mệt
mỏi.
e, Đối với hệ cơ.
ở giai đoạn này phát triển với tốc độ nhanh nhưng chậm hơn so với hệ xương,
khối lượng hệ cơ tăng lên rất nhanh, đàn tính cơ lan nhưng cơ tăng không đều chủ yếu
là cở nhỏ và dài,độ phì của cơ chưa cao do vậy khi hoạt động cơ rất nhanh bị co cứng
và làm cho cơ thể nhanh mệt mỏi.Nên quá trình huấn luyện các em chú ý đến khối
lượng và cường độ buổi tập sao cho có sự phát triển tốt của cơ thể.
2.2. Phân tích kết quả nghiên cứu
2.2.1. Giải quyết nhiệm vụ 1:
chọn được 12 trò chơi và tiến hành phỏng vấn 30 Giáo viên, huấn luyện viên có kinh
nghiệm trong công tác giảng dạy và huấn luyện nhằm chọn ra những trò chơi có tác
dụng phát triển sức mạnh tốc độ tốt nhất. Số người chúng tôi phỏng vấn đều có trình độ
đại học trở lên.
Bảng 1: kết quả của Phương pháp phỏng vấn (n = 30)
Stt Tên trò chơi Tổng số
phiếu
Số
phiếu
Số
phiếu
Số phiếu
không tán
Tỷ lệ tán
thành
13
phát ra thu về
Tán
thành
thành (%)
1 Cua đá bóng
2 Đàn vịt nào nhanh
3 Đội nào cò nhanh
4 Đấu tăng
5 Chọi cóc
6 Chọi gà
7 Nhảy cừu
8 Phá vây
9 Kéo co
10 Vác đạn tải thương
không
tán thành
Tỷ lệ tán
thành (%)
1 Đàn vịt nào nhanh
14
2 Đội nào cò nhanh
3 Đấu tăng
4 Chọi cóc
5 Chọi gà
6 Vác đạn tải thương
Với kết quả này chúng tôi đã xây dựng nội dung cụ thể cho 6 trò chơi và sắp
xếp trên trình thực nghiệm như sau:
1. Nội dung của 6 trò chơi:
1.1. Nội dung của trò chơi 1: Chọi cóc
- Phương pháp tiến hành: Chia lớp thành hai đội quay mặt vào nhau theo từng
đôi một. Chân rộng bằng vai, ngồi xổm trên hai mũi bàn chân, lưng thẳng hai tay xòe
thẳng và giơ cao trước mặt hai lòng bàn tay hướng ra phía trước. Khi có lệnh của trọng
tài, hai người đối diện của từng đội di chuyển linh hoạt bằng hai mui bàn chân, hai bàn
tay vừa tấn công vừa phòng thủ làm sao khỏi mất thăng bằng không bị ngã. Trong khi
tấn công người nào bị ngã, chống tay xuống đất là bị thua điểm.
- Trò chơi được tiến hành 5 phút.
1.2. Nội dung của trò chơi 2: Đàn vịt nào nhanh.
15
- Phương pháp tiến hành: Cho hai đội đứng thành hàng dọc trước vạch xuất phát
sau đó ngồi xuống mông không được chạm đất, trọng lượng cơ thể dồn đều cả vào hai
bàn chân, hai tay người sau bám vào co (thắt lưng) người trước khi trọng tài cho xuất
phát cả đội bám chặt vào nhau, phối hợp cùng ở tư thế ngồi xổm di chuyển lên phía
trước vượt qua vạch đích là kết thúc một lần chơi.
- Khoảng cách từ vạch đích đến vạch xuất phát là 15m
Đích
Xuất phát
15m
Xuất phát
Đích
1
2
345
12
345
1
1
1.6. Nội dung của trò chơi 6: Chọi gà
- Phương pháp tiến hành: Trên sân kẻ vòng tròn đường kính từ 3m - 5m có thể
thi đấu từng cặp hoặc thi đấu theo nhóm trong vòng tròn giới hạn hoặc thi đấu tự do
không có vòng tròn. Chân trái hoặc chân phải co lên, tay cầm lấy cổ chân được co lên
với tư thế như vậy, chân khi di chuyển lò cò liên tục áp sát đối phương dùng đầu gối
của chân được co lên hoặc dùng chân trên huých, đẩy đối phương làm cho đối phương
mất thăng bằng ngã xuống tay trạm đất hoặc chân được co lên chạm đất là thắng 1
điểm, nếu đấu trong vòng tròn giới hạn thì người nào bị đẩy ra khỏi vòng là bị thua 1
điểm.
ƒ ‚
Với nội dung của 6 trò chơi chúng tôi đã xây dựng ở trên và trước khi đưa vào
thực nghiệm chúng tôi tiến hành phỏng vấn về mức độ ưu tiên về số lần lặp lại của 6
trò chơi trong một buổi tập kết quả thu được ở bảng sau:
Bảng 3: Mức độ ưu tiên về số lần lặp lại (n =)
18
Stt Tên trò chơi
Số lần lặp
lại
nhóm:
+ Nhóm đối chứng: Chúng tôi gọi là A.
+ Nhóm thực nghiệm : Chúng tôi gọi là B
19
Để đánh giá hiệu quả ứng dụng của 6 trò chơi này được khách quan và chính xác
chúng tôi tiến hành lựa chọn các em có thẻ lực, chiều cao, cân nặng và Test chạy 100m
tương đương nhau để phân làm 2 nhóm A và B.
Bảng 5 : Chỉ số trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Chỉ số
Lớp X chiều cao
( cm )
X Cân nặng
( kg)
X Chạy 100m
( Giây)
Đối chứng (n =)
Thực nghiệm ( n = )
Khi tiến hành thực nghiệm, lớp đối chứng vẫn tập bình thường theo chương trình
giảng dạy của trường. Còn lớp thực nghiệm cho các em chơi các trò chơi chúng tôi đã
lựa chọn và xây dựng nội dung cụ thể ở trên, cùng với việc thực hiện theo giáo án
chúng tôi đã xây dựng.
Sau khi tham khảo một số tài liệu và các Test đánh giá về sức mạnh tốc độ cũng
như việc tổng hợp ý kiến của các giáo viên, huấn luyện viên và thông qua phỏng vấn
bằng kinh nghiệm bản thân cùng với việc tổng hợp tài liệu chuyên môn chúng tôi đã
lựa chọn ra 3 Test để đánh giá sức mạnh tốc độ.
Nội dung của 3 Test đánh giá sức mạnh tốc độ.
1. Test chạy 30m xuất phát cao( Tính băng giây) .
2. Test Bật xa tại chỗ ( Tính bằng cm )
3. Test Bật tại chỗ trên cát 15 giây ( Tính bằng số lần bật nhảy )
Trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành kiểm tra 3 Test này trên
- Test bật xa tại chỗ có T tính = < T bảng = ( P= %)
- Test bật tại chỗ trên cát 15
”
có T tính = < T bảng là ( P= %)
- Ta có thể kết luận rằng thành tích của hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có sự
khác biệt không có ý nghĩa ( T tính < T bảng )ở ngưỡng xác xuất P = % hay6 nói
cách khác hai nhóm là tương đối đồng đều
Sau hai tháng thực nghiệm với tổng số 21 giáo án chúng tôi tiến hành kiểm tra 3
Test chạy xuất phát cao, bật xa tại chỗ và Test bật nhảy tại chỗ trên cát 15
”
trên hai
nhóm thực nghiệm và đối chứng kết quả thu được ở bảng 7.
Bảng số 7: So sánh kết quả kiểm tra sức mạnh tốc độ của hai nhóm học sinh sau
thực nghiệm ( N = 16 )
Thông số toán thống kê
Test
XA nhãm
®èi
chøng
( n = )
XB
Nhãm thùc
nghiÖm
(n= )
S
2
T
tÝnh
T
b¶ng
người đặc biệt trong bóng đá đây là một tố chất rất cần thiết đối với mỗi vận động viên.
- Các trò chơi vận động do chúng tôi lựa chọn bước đầu ứng dụng đã đem lại
hiệu quả rõ rệt đối với sự phát triển sức mạnh tốc độ điều này chứng tỏ sự phong phú
của các hình thức vận động làm phát triển tốt tới sức mạnh tốc độ.
22