MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời đại của khoa học kỹ thuật, khoa học công
nghệ. Do đó ở tất cả các ngành nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp
với yêu cầu của sự phát triển xã hội. Trong đó ngành giáo dục với sản phẩm
đặc biệt là con người thì càng phải đổi mới để tạo ra những con người lao
động có trình độ học vấn cao, có năng lực, có bản lĩnh, đáp ứng được mọi yêu
cầu của cuộc sống hiện đại. Đổi mới trong giáo dục phải được hiểu là đổi mới
toàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp dạy học. Các
phương pháp dạy học quen thuộc đã và đang thực hành trước đây cần được
đổi mới để trở nên thích hợp với việc đào tạo những con người theo tiêu
chuẩn toàn diện. Việc kiếm tìm những phương pháp dạy học tích cực có khả
năng đảm bảo bồi dưỡng tiềm lực sáng tạo ở con người ngay từ tuổi học sinh
đang đặt ra như một yêu cầu bức thiết.
Môn Tự nhiên và Xã hội ở trường Tiểu học là môn học tích hợp những
kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Học tự nhiên và xã hội
học sinh có những hiểu biết cơ bản về thế giới tự nhiên, xã hội và con người.
Đồng thời hình thành và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng thực hành cần
thiết cho cuộc sống của các em trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội. Vì
vậy việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội cũng quan trọng như việc dạy môn
Toán và Tiếng Việt.
Để đáp ứng mục tiêu của hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu
học nói riêng, chương trình môn Tự nhiên và Xã hội đã đề ra mục tiêu môn
học phải khơi dậy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh. Trên cơ
sở những mục tiêu này đòi hỏi hoạt động tổ chức, hướng dẫn của giáo viên
phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức và hình thành rèn luyện kỹ
năng học tập của học sinh. Học sinh phải được hoạt động, được bộc lộ mình
1
Tìm hiểu thực trạng vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học
môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Đề xuất quy trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 bằng phương
pháp đàm thoại theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học Tự nhiên và Xã hội
lớp 2 sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
nói riêng, các môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học nói chung.
8. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trò chuyện
- Phương pháp điều tra
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo,
nội dung chính của khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Vận dụng phương pháp đàm thoại trong môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
3
NỘI DUNG
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
1.1.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học
tập thân thiện để học sinh được tự do và bình đẳng trong học tập.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường kỹ năng thực
hành.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường sử dụng các
phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới cách kiểm tra và
đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới cách thiết kế bài
dạy, lập kế hoạch bài học và xây dựng mục tiêu bài học.
1.1.1.3. Một số định hướng để lựa chọn phương pháp dạy học ở Tiểu học
a) Phương pháp dạy học ở Tiểu học phụ thuộc vào nội dung dạy học.
Trong trường Tiểu học, học sinh được lĩnh hội hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo thông qua các môn học. Do đó cần phải sử dụng nhiều phương
pháp dạy học khác nhau để phù hợp với nội dung từng môn học, hay nói cách
khác nội dung dạy học mang tính toàn diện. Vì vậy việc lựa chọn phương
pháp dạy học cũng cần phải chú ý để triển khai hết nội dung chương trình.
b) Phương pháp dạy học Tiểu học phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý
của người học.
Phương pháp dạy học của giáo viên hiệu quả ở mức độ nào còn phụ
thuộc vào đặc điểm tâm lý của học sinh. Ở mỗi thời điểm khác nhau học sinh
có hai trình độ: trình độ hiện tại là những tri thức học sinh đã tiếp thu được và
trình độ phát triển gần nhất đó là khả năng tiếp thu những tri thức mới gần gũi
với tri thức cũ, gần gũi với cái đã có trong kinh nghiệm của bản thân học sinh.
Hoạt động dạy của giáo viên là sự tạo ra cái mới trong tâm lý học sinh, nghĩa
là hoạt động dạy học nhằm vào trình độ phát triển gần nhất. Ở mỗi học sinh
5
hai trình độ này là khác nhau. Do đó giáo viên phải nắm vững hai trình độ này
hợp, thực hành,… phục vụ cho việc học tập và phục vụ cho cuộc sống sau
này. Bản thân môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 cũng có những nội dung khó dễ
khác nhau, có nhiều nội dung liên quan đến kinh nghiệm của cá nhân học
sinh. Để phát huy tinh thần học tập và khai thác trình độ hiểu biết của các em
thì việc vận dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 2 là điều cần thiết, kết hợp cùng các phương pháp dạy học khác để dạt
hiệu quả dạy học.
1.1.2. Phương pháp dạy học đàm thoại
1.1.2.1. Khái niệm phương pháp đàm thoại
Theo từ điển Tiếng Việt thì “đàm thoại là nói chuyện, trao đổi ý kiến với
nhau về một chủ đề nhất định trong một khoảng thời gian”.
Đàm thoại là một hình thức giao tiếp trong xã hội để giải quyết các vấn
đề của thực tiễn kinh tế xã hội và cuộc sống đặt ra. Hình thức này rất phổ biến
và hiệu quả. Ngày nay, hình thức này đã được áp dụng ở hầu hết các lĩnh vực,
các vấn đề xã hội có thể là giữa cá nhân - cá nhân, cá nhân - tập thể, tập thể tập thể,… nhằm tìm ra một tiếng nói chung, giải quyết các công việc nhằm
thỏa mãn được mọi nhu cầu của các bên tham gia.
Trong dạy học, đàm thoại là cách tốt nhất để giáo viên thu nhận thông
tin ngược về những vấn đề có nhiều người học quan tâm, mảng kiến thức
người học còn thiếu và yếu. Từ đó có những cơ sở để vạch ra chiến lược, điều
chỉnh phương pháp, giải pháp cho phù hợp với sự phát triển tư duy, kiến thức
và nhu cầu của người học. Bởi đàm thoại là hình thức có thể nghe ý kiến, vấn
đề người khác đặt ra, đồng thời cũng thể hiện được những hiểu biết, quan
điểm, ý kiến của cá nhân người học về một vấn đề nào đó. Quan trọng hơn,
7
qua đàm thoại người dạy biết được “mức độ” kiến thức mà người học đã
đạt được.
Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt ba hình
hỏi, qua những cuộc đàm thoại học sinh có thêm kinh nghiệm sống về cuộc
sống xung quanh.
Qua các cuộc đàm thoại học sinh được thể hiện sự hiểu biết của mình.
Sự hiểu biết đó được chứng minh thông qua các câu trả lời, các câu hỏi và khả
năng bảo vệ câu trả lời của mình. Với phương pháp đàm thoại khả năng tư
duy của học sinh được phát huy một cách tối đa. Học sinh có cơ hội tự tìm
hiểu, khám phá tri thức thông qua các câu hỏi trong bài, các câu hỏi ngoài bài
học về thực tế cuộc sống. Ngoài khả năng phát triển tư duy, học sinh còn hình
thành cho mình niềm tin vào bản thân và khả năng học tập của mình.
Trong phương pháp đàm thoại giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và
khích lệ quá trình đàm thoại, tìm hiểu bài của học sinh. Học sinh chủ động
tiếp thu kiến thức bằng khả năng độc lập suy nghĩ và trình bày hiểu biết của
mình.
1.1.2.3. Ưu, nhược điểm của phương pháp đàm thoại
a) Ưu điểm của phương pháp đàm thoại.
- Kích thích tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập của học sinh.
- Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt những vấn đề học tập bằng
lời.
- Giúp giáo viên thu thập thông tin từ phía học sinh để kịp thời điều
chỉnh hoạt động dạy học.
- Tạo không khí học tập sôi nổi trong giờ học.
b) Hạn chế của phương pháp đàm thoại.
Nếu người giáo viên chưa có nghệ thuật tổ chức, điều khiển phương
pháp đàm thoại sẽ mang một số hạn chế sau:
- Dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học.
9
- Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa giáo viên và học sinh,
sinh phải tham gia một cách tự giác, tích cực các hoạt động học tập do giáo
viên tổ chức. Đồng thời phải luôn có tinh thần học tập, hăng hái phát biểu,
xây dựng bài. Không được tự ti, sợ hãi hay xấu hổ khi trả lời sai. Phải luôn
học hỏi, cố gắng vươn lên hoàn thiện mình.
1.1.3. Một số vấn đề về môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
1.1.3.1. Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2
Chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 2 dạy học theo ba chủ đề: con
người và sức khỏe, xã hội, tự nhiên.
- Chủ đề con người và sức khỏe bao gồm các nội dung sau:
+ Cơ quan vận động
+ Bộ xương
+ Hệ cơ
+ Làm gì để xương và cơ phát triển tốt?
+ Cơ quan tiêu hóa
+ Tiêu hóa thức ăn
+ Ăn uống đầy đủ, sạch sẽ, đề phòng bệnh giun.
- Chủ đề xã hội
+ Gia đình
+ Đồ dùng trong gia đình
+ Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở
+ Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà
+ Trường học
+ Các thành viên trong nhà trường
+ Phòng tránh ngã khi ở trường
+ Giữ trường lớp sạch, đẹp
+ Đường giao thông: an toàn khi đi các phương tiện giao thông
11
phương pháp đàm thoại là rất cần thiết vì nó phù hợp với nội dung kiến thức
của môn học.
Phương pháp đàm thoại qua những hệ thống câu hỏi giúp các em thu
lượm được những hiểu biết và kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội. Từ đó,
tạo cho các em nhu cầu nhận thức và tham gia giải quyết những vấn đề do bài
học đặt ra.
Phương pháp đàm thoại giúp giáo viên dễ dàng nắm năng lực học tập,
trình độ nhận thức của học sinh. Với môn học Tự nhiên và Xã hội lớp 2 giáo
viên có thể biết được các em hiểu tự nhiên đến đâu và đã vốn kinh nghiệm
trong cuộc sống như thế nào. Qua đó điều chỉnh hoạt động dạy để nâng cao
hiệu quả dạy và tạo mối quan hệ gắn bó giữa thầy và trò trong quá trình dạy
học.
Phương pháp đàm thoại được vận dụng trong môn Tự nhiên và Xã hội
lớp 2 làm cho không khí lớp học sôi động hơn, học sinh hứng thú hơn khi nội
dung là những bài học gần gũi, quen thuộc, phong phú. Từ đó các em thêm
yêu và bảo vệ môi trường và cảnh vật xung quanh mình.
Vai trò của phương pháp đàm thoại rất lớn trong việc hình thành và
phát triển tư duy độc lập, tính tích cực nhận thức, năng lực diễn đạt bằng lời
của học sinh qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng phương pháp dạy học và thực trạng vận
dụng phương pháp đàm thoại trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 tôi đã tiến
hành điều tra ở ba trường tiểu học:
- Trường Tiểu học Tiên Dương - Đông Anh - Hà Nội
- Trường Tiểu học Uy Nỗ - Đông Anh - Hà Nội
- Trường Tiểu học Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội
Theo các nội dung sau:
13
sâu sắc thể hiện ở con số 88%, Số % giáo viên chưa hiểu rõ về phương pháp
đàm thoại còn ít và chỉ chiếm số % nhỏ với một số giáo viên hiểu nhầm và
hiểu nôm na phương pháp dạy học này.
Đây chính là điều kiện thuận lợi để áp dụng phương pháp đàm thoại
vào dạy học khi các giáo viên có nhận thức đầy đủ về phương pháp
đàm thoại.
14
1.2.2. Mức độ và hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp và hình
thức dạy học trong môn Tự nhiên và Xã hội
Tự nhiên và Xã hội là môn học phong phú và đa dạng, với mục đích
kiểm tra, thăm dò thực trạng việc sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy
học như thế nào? hay đang ưu tiên phương pháp nào, hạn chế phương pháp
nào? chúng tôi tiến hành điều tra thông qua nội dung sau:
Nội dung điều tra: Câu hỏi 2 (Phụ lục 1)
Biểu đồ thể hiện kết quả thu được:
90
83%
74%
80
65%
70
60
0 0
Thường xuyên
Chưa bao giờ
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Biểu đồ 2: Mức độ sử dụng các phương dạy học trong môn học
Tự nhiên và Xã hội
Quan sát biểu đồ 2, ta thấy được thực trạng sử dụng các phương pháp
dạy học trong môn học Tự nhiên và Xã hội. Các phương pháp đưa ra khảo sát
là những phương pháp thường được giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học
ở trường Tiểu học.
15
Qua biểu đồ ta thu được kết quả và rút ra nhận xét thực trạng hiện nay
phương pháp dạy học được giáo viên ưu chuộng vẫn là phương pháp dạy học
truyền thống, thể hiện là chiếm 83% với phương pháp thuyết trình và 72% với
phương pháp trực quan. Khi được hỏi, các giáo viên cho rằng đây là các
phương pháp dễ truyền đạt và học sinh hiểu hơn nên thường xuyên sử dụng
phương pháp này trong môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học.
Bên cạnh đó thì tỷ lệ % của các phương pháp dạy học mới chưa được
sử dụng nhiều như PPDH kiến tạo với 5% sử dụng thường xuyên và 65%
chưa bao giờ sử dụng, phương pháp dạy học nêu vấn đề với 21% sử dụng
10
Biểu đồ 3: Mức dộ sử dụng phương pháp đàm thoại trong môn học Tự
nhiên và Xã hội lớp2
Qua biểu đồ thể hiện kết quả của phiếu điều tra việc sử dụng phương
pháp đàm thoại ở mức độ như thế nào cho ta thấy phương pháp đàm thoại
được chiếm ưu thế sử dụng, tuy với tỷ lệ chưa cao vì hầu hết các giáo viên
đều cho rằng sử dụng phương pháp này đem lại hiệu quả song dễ làm mất trật
tự, gây ồn ào trong lớp học và kèm theo là tốn nhiều thời gian của tiết học.
Giáo viên cũng phải chuẩn bị công phu khi xây dựng hệ thống câu hỏi phù
hợp với nội dung bài học, phù hợp với trình độ kiến thức và tâm sinh lý của
các em nên đôi khi còn hạn chế sử dụng phương pháp này.
Khi đưa ra câu hỏi 4 (phụ lục 1) về vấn đề sử dụng phương pháp đàm
thoại trong các chủ đề nào của môn Tự nhiên và Xã hội thì hầu như chúng tôi
thu được kết quả lựa chọn là tất cả các chủ đề: con người và sức khỏe, xã hội,
tự nhiên đều sử dụng phương pháp đàm thoại. Điều này chứng tỏ phương
pháp đàm thoại có mật độ sử dụng rộng rãi trong các nội dung chương trình.
Phương pháp này dễ sử dụng và đem lại hiệu quả cao nên dù là phương pháp
17
dạy học truyền thống những vẫn có vị trí, vai trò và tác dụng trong mỗi môn
học đặc biệt là môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 nên khi hỏi câu hỏi câu hỏi số
5( phụ lục 1) chúng tôi đều nhận được kết quả đúng vì với phương pháp này
được sử dụng trong phần nào của tiết học cũng đem lại hiệu quả cao. Kiểm tra
bài cũ, hình thành kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng hay luyện tập củng cố thì
đều cần hỏi đáp, trao đổi với nhau về kiến thức cũ và kiến thức mới để có sự
liên hệ, logic với nhau, tuy nhiên giáo viên cần để ý thời gian và điều chỉnh
thời lượng sao cho hợp lý để đảm bảo tiến độ bài học.
nhiên, xã hội, con người trong cuộc sống xung quanh, gần gũi với các em nên
áp dụng phương pháp đàm thoại là hợp lý để các em được trao đổi, tranh luận,
bổ sung ý kiến cho nhau về các kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bài học
nói riêng và môn Tự nhiên và Xã hội nói chung.
Các phương pháp và hình thức dạy học khác cũng tạo thuận lợi cho
việc sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
vì trong quá trình hoạt động nhóm cho học sinh đàm thoại sẽ phát huy được
kỹ năng quan sát, lắng nghe ý kiến, trao đổi thông tin từ đó đưa ra kết luận
đúng đắn để phát biểu. Như vậy sẽ nâng cao hiệu quả của dạy học đàm thoại.
1.2.4.2. Khó khăn
- Với phương pháp dạy học này đòi hỏi giáo viên phải thực sự quan tâm
đến từng học sinh và có năng lực chuyên môn để xây dựng hệ thống câu hỏi
thật khéo léo và đáp ứng được mục tiêu bài học và trình độ nhận thức của các
em.
- Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian trong giờ học nên đôi khi việc áp
dụng còn gặp khó khăn trong tiến trình bài dạy.
- Giáo viên gặp khó khăn trong việc quản lý lớp học khi học sinh quá
mất trật tự tranh luận về một vấn đề nào đó.
19
- Về phía học sinh do các em còn ngại ngần và rụt rè nên một em còn
ngại phát biểu hoặc tâm lý các em thường trả lời theo ý thích nên dễ bị xa nội
dung bài học. Khả năng trình bày và ngôn ngữ diễn đạt còn hận chế nên giáo
viên còn phải hướng dẫn và gợi mở nhiều.
Cần khắc phục những khó khăn này để giờ học Tự nhiên và Xã hội thành
công và đạt hiệu quả cao.
20
21
- Câu hỏi phải kích thích được suy nghĩ, tìm tòi của học sinh.
- Tránh đặt những cau hỏi chung chung, quá đễ hoặc quá khó, hoặc
trong đó đã có sẵn câu trả lời, học sinh có thể đoán ra mà không cần động
não. Cần tránh đặt những câu hỏi yêu cầu học sinh đoán mò hoặc chỉ trả lời
có hoặc không.
- Khi học sinh trả lời cần rèn luyện cho học sinh biết cách trả lời thành
câu tương đối hoàn chỉnh với vốn từ ngữ của cac em. Có thể dạy cho các em
biết cách tự đặt ra những câu hỏi trong quá trình học tâp.
2.1.3. Nguyên tắc phân phối thời gian hợp lý
Ngoài việc đảm bảo mục tiêu bài học thì thời gian cũng là một yếu tố
quan trọng làm nên sự thành công của phương pháp đàm thoại trong dạy học
môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Phương pháp đàm thoại là PPDH có nhiều ưu diểm vầ tác dụng trong giờ
học nhưng đối với học sinh Tiếu học, đặc biệt là học sinh lớp 2 tuy đã được
làm quen và củng cố hiểu biết từ lớp 1 song trình độ nhận thức về tự nhiên vã
xã hội còn nhiều hạn chế. Vì vậy khi được sử dụng phương pháp đàm thoại
vào trong các chủ đề này các em thường hứng thú và phấn khích hơn. Sẽ là rất
tốt nếu đi đúng trọng tâm của bài nhưng các em thường hay sa vào tình trạng
đi lạc vấn đề hoặc hỏi nhưng câu hỏi không liên quan đến kiến thức trong bài.
Lúc này giáo viên phải làm chủ được giờ học và dẫn dắt học sinh đi đúng
hướng hơn để không ảnh hưởng tới kế hoạch và thời lượng bài học.
2.1.4. Nguyên tắc thống nhất giữa vai trò tự giác, tích cực độc lập của
học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên.
Đổi mới PPDH, hình thức dạy học đòi hỏi phải phát huy tính tích cực,
tự giác, độc lập nhận thức của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên. Vận
22
23
phương pháp đàm thoại vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 thì giáo
viên nên lựa chọn những câu hỏi mang tính chất trọng tâm, cốt lõi của bài và
phải biết được trình độ nhận thức của học sinh. Giáo viên không nên sử dụng
những câu hỏi quá xa vời không phù hợp với năng lực của các em. Số lượng
câu hỏi không nên quà nhiều trong bài, nên lựa chọn câu hỏi dễ hiểu, súc tích
để tiết kiệm thời gian mà vẫn hiệu quả. Thực hiên được nguyên tắc này sẽ
đảm bảo được sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa sức riêng.
2.2. Đề xuất quy trình phương pháp đàm thoại trong môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 2
Dạy học môn Tự nhiên và Xã hội như thế nào để môn học ngày càng trở
lên quan trọng và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em hơn
nữa. Điều này đòi hỏi giáo viên phải càng quan tâm đến môn học, đến các em
học sinh mà trong dạy học PPDH nào cũng có ưu điểm riêng vì vậy khi dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội tôi xin phối hợp nhiều phương pháp trong đó
phương pháp đàm thoại vẫn đóng vai trò chủ đạo giúp học sinh chiếm lĩnh tri
thức và giờ học đạt hiệu quả cao.
Tôi xin đưa ra quy trình sử dụng phương pháp đàm thoại áp dụng cho
việc dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
* Bước 1: Chuẩn bị
- Xác định mục đích của đàm thoại.
- Căn cứ vào nội dung bài học, thời gian tổ chức và trình độ khả năng
của học sinh, giáo viên xây dựng vấn đề đàm thoại sao cho phù hợp.
- Xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý.
- Chuẩn bị một số đồ dùng phục vụ cho vấn đề đàm thoại như: tranh
ảnh, băng hình, phiếu học tập,…
- Dự kiến thời lượng tiến hành tổ chức đàm thoại.
- Dự kiến các kết quả để đưa ra tổng kết.
Bài 13: Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở
25