LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi gặp rất nhiều khó
khăn và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự chỉ bảo tận tình của Thạc sĩ Phạm Quang Tiệp,
tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành khóa luận với đề tài: “ Vận dụng quan
điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2”.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy!
Hà Nội, thánạ 04 năm 2011
Sinh viên:
Nguyễn Thị Thủy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả
và các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào. Tôi
hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
BẢNG KÍ HIỆU TÓM TẮT
Giáo viên : GV
Học sinh : HS
Phương pháp dạy học : PPDH
Tự nhiên Xã hội : TNXH
Quan điểm sư phạm tương tác :QĐSPTT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
BẢNG KÍ HIỆU TÓM TẮT 2
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 5
1.Lí do chọn đề tài 5
2.Mục đích nghiên cứu 10
7.Cấu trúc của khóa luận 12
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: Cơ SỞ CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM SƯ PHẠM
và hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực
và trên thế giới, ủy ban giáo dục của UNESCO đã đề ra bốn trụ cột của giáo dục trong
thế kỷ XXI là: Học để biết ( Learning to know), học để làm ( Learning to do ), học để
cùng chung sống ( Learning to live together ), học để tự khẳng định mình ( Learning to
be ). Tương ứng với bốn trụ cột này, chủ trương quan tâm đầu tư phát triển giáo dục của
Đảng và Nhà nước ta cũng được thể hiện rõ nét trên các mục tiêu, cụ thể:
Về mục tiêu giáo dục, Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII ( năm 1993 ) đã nêu rõ: “ Mục tiêu Giáo dục _ Đào
tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động, tự chủ, sáng tạo, có năng lực
giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn là
dân ẹiàu, nước mạnh, xã hội cônq bằng, dân chủ, văn minh. ”
Về nội dung giáo dục, chương 2, mục 2, điều 28.1 của Luật Giáo dục đã khẳng
định: “ Nội dunẹ qiáo dục phổ thônq phải đảm bảo tính phổ thônẹ, cơ bản, toàn diện,
hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm lí lứa tuổi
của HS, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học. ”
Về phương pháp giáo dục đào tạo, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII ( năm 1977 ) đã chỉ rõ : " Phải đổi mới
phương pháp ỊỊỉáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học Trong Luật Giáo dục Việt Nam, chương 2, mục 2, điều
28.2 đã viết: " Phương pháp phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,
khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năn% vận dụnq kiến thức vào thực tiễn; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Dạy học là con đường quan trọng để nâng cao trình độ hiểu biết và phát triển
nhân cách ở mỗi cá nhân. Mặc dù người thầy giữ vai trò hết sức quan trọng trong định
hướng dạy học và chuyển giao tri thức, kĩ năng cho người học nhưng phải làm sao cho
mỗi tiết học HS được suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, hoạt động nhiều hơn.
Hơn nữa, đổi mới phương pháp giáo dục phải nhấn mạnh tương tác, hỗ trợ, cùng nhau
hợp tác đi vào con đường tiếp thu, lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, thái độ thành vốn sống,
ăn nhập vào vốn kinh nghiệm của bản thân, tạo nên một tiềm năng và tiếp đó thành nhân
và đáp ứng được mục tiêu dạy học.
VI vậy, trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nêu, tôi chọn đề tài là : “ Vận dụng quan
điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2” làm đề tài nghiên
cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm nghiên cứu những lí luận dạy học theo quan điểm sư phạm
tương tác, đồng thời tìm ra những biện pháp hợp lí để vận dụng quan điểm này trong dạy
học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2. Qua đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu
học và nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1: Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự nhiên
Xã hội lớp 2.
3.2: Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2.
3.3: Phạm vỉ nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ dừng lại ở việc tập
trung tìm kiếm một số biện pháp để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy học
môn Tự nhiên Xã hội lớp 2.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của quan điểm sư phạm tương tác
- Tìm hiểu đặc điểm của môn Tự nhiên Xã hội lớp 2.
- Đề xuất một số biện pháp để vận dụng quan điểm sư phạm tương tác vào dạy
học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng quan điểm sư phạm tương tác để dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp
2 sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tự nhiên Xã hội lớp 2 nói riêng, môn
Tự nhiên Xã hội Tiểu học nói chung.
6. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu lí luận
vào đối tượng dạy học, qua đó thực hiện được nhiệm vụ dạy học. Xung quanh vấn đề
BPDH có vài điểm cần chú ý:
• Thứ nhất:
BPDH là những cách thức tác động thực tiễn của người dạy và người học lên đối
tượng dạy và học. VI vậy biện pháp là sự hiện thực hóa sức mạnh của phương pháp, là
cơ cấu kĩ thuật của phương pháp để thực hiện mục đích dạy học. Nếu biện pháp tốt, hiệu
quả của phương pháp sẽ cao và ngược lại. Tính chất và cường độ của các BPDH thể hiện
tính tích cực của quá trình dạy học .
• Thứ hai:
Có hệ thống biện pháp của người dạy và biện pháp của người học. Đối tượng tác
động, tính chất và cường độ các biện pháp của người dạy và người học
- 14-
bị quy định bởi mục đích dạy học, nội dung dạy học, vị thế của người dạy và
người học trong mối quan hệ giữa người dạy và người học. Chẳng hạn nếu mục đích
hướng đến nội dung tri thức khoa học thì các biện pháp của người dạy chủ yếu tác động
vào nội dung tri thức và cách truyền thụ chúng.
Nếu mục đích là hình thành các kĩ năng hành động cho người học, thì biện pháp
dạy học phải là giới thiệu và hướng dẫn người học thực hành các kĩ năng đó.
• Thứ ba:
Công cụ dạy học quy định trình độ dạy học. Nói cách khác, cơ chế triển khai và
trình độ các biện pháp quy định trình độ PPDH và hiệu quả dạy học. Đến lượt nó, cơ chế
và trình độ các biện pháp bị quy định bởi công cụ dạy học. Các công cụ dạy học rất đa
dạng bao gồm:
Các công cụ tâm lí: Là các tri thức, các khái niệm khoa học, các công cụ nhận
thức như trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ Trong đó các khái niệm khoa học là công cụ quan
trọng nhất. Khái niệm khoa học trong môn học là thước đo trình độ dạy học.
Các công cụ kĩ thuật: Các công cụ kĩ thuật có phổ rất rộng, bao gồm các biểu đồ,
các bảng tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, mô hình, máy tính, máy dạy học và các phương tiện
kĩ thuật kĩ thuật khác.
• Thứ tư:
vạch sẵn mà không tính tới những kiến tạo và canh tân.
+ Quan điểm dạy học ngày nay “ lấy người học làm trung tâm”. Xu hướng chung
của đổi mới PPDH là đổi mới theo quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm.
Quan điểm này có cơ sở lí luận từ việc nhận thức quá trình dạy học luôn luôn vận động
và phát triển không ngừng chịu sự chi phối của nhiều quy luật trong đó quy luật về mối
quan hệ biện chứng giữa dạy và học, giữa thầy và trò trong quá trình dạy học là quy luật
cơ bản. Thầy và trò _ cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực bằng hoạt động của mình
hướng tới tri thức. Thầy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của
trò. Trò thì hoạt động tích cực chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của
mình để tiếp tục hành động nhận thức và hành động thực tiễn.
Thực chất của quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, đó là hệ phương
pháp dạy _ học tích cực lấy người học làm trung tâm còn gọi là hệ phương pháp dạy _ tự
học, được xem như là một hệ thống PPDH có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của
mục tiêu giáo dục trong thời kì đổi mới hiện nay.
Hệ thống các PPDH tích cực lấy người học làm trung tâm là kết quả của sự kết
- 16-
hợp giữa lí luận và thực tiễn, thực nghiệm ở nhà trường Việt Nam từ nhiều năm. Đó là
sự tổng hợp, tích hợp nhiều phương pháp gần gũi như: phương pháp tích cực, phương
pháp hợp tác, phương pháp tình huống, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề và một
phần nào đó có sự kết hợp với các PPDH truyền thống được cải tiến, vận dụng theo
hướng phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của người học. Trải qua quá trình nghiên
cứu và vận dụng các phương pháp này có thể nêu 4 đặc trưng cơ bản sau:
- Người học _ chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách
tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình.
- Người dạy tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn.'
- Người dạy là thầy học _ chuyên gia về học và tự học, là người tổ chức và hướng
dẫn quá trình dạy _ tự học, quá trình kết hợp cá nhân hóa với xã hội hóa việc học của
người học.
- Người học tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức. Như vậy,
điều hay của các phương pháp này là không chỉ để người học dễ hiểu, để rồi học bài mau
Môi trường.
Trong sơ đồ trên, hình tam giác biểu thị sự năng động giữa ba tác nhân trong mối
tương tác, những đường thẳng chỉ các mối quan hệ giữa mỗi tác nhân, trong khi đó các
đỉnh có mũi tên minh họa cho sự qua lại giữa các tác nhân.
Xét ở bình diện trung gian, sư phạm tương tác là một PPDH cụ thể, về mặt hình
thức nó cũng giống như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đàm thoại Mỗi
PPDH luôn bao hàm ba yếu tố cấu trúc: 1/ Các nguyên tắc hay triết lí cốt lõi, xác định
PPDH đó là cái gì xét về bản chất. 2/ Hệ thống kĩ năng hoặc các mẫu hành động cấu tạo
nên PPDH, xác định phương pháp đó được tiến hành như thế nào. 3/ Những phương tiện,
công cụ, công nghệ, vật liệu mang ảnh hưởng của phương pháp đến người học và quá
trình học tập, xác định phương pháp đó có hình thức vật chất cụ thể là gì, có cấu trúc
thực thể như thế nào trong hiện thực dạy học, trong tay của nhà giáo trực tiếp giảng dạy.
Như vậy, phương pháp sư phạm tương tác được xác định cụ thể như sau:
1/ Nguyên tắc then chốt trong sư phạm tương tác đó là sự tác động qua lại giữa ba
- 18-
thành tố người dạy, người học và môi trường trong quá trình dạy học, qua đó người học
và các thành tố khác cùng vận động và phát triển.
2/ Hệ thống kĩ năng trong sư phạm tương tác bao gồm kĩ năng của người học và
kĩ năng của người dạy. Các kĩ năng của người học bao gồm, kĩ năng sử dụng các giác
quan để khám phá tri thức, kĩ năng tạo động cơ và duy trì cảm xúc trong quá trình học
tập, kĩ năng huy động nội lực ( kiến thức, kinh nghiệm sẵn có ) để đồng hóa trí thức, kĩ
năng tương tác với thầy, với bạn trong học tập, kĩ năng thích ứng hoặc cải tạo môi
trường học tập. Đối với người dạy bao gồm các kĩ
năng: kĩ năng xác lập quá trình dạy học ( xác định mục tiêu, nội dung, phương
pháp ) theo quan điểm sư phạm tương tác, kĩ năng trợ giúp người học, kĩ năng khuyến
khích người học, kĩ năng hoạt náo, kĩ năng giao tiếp.
3/ Những phương tiện, công nghệ, vật liệu mang ảnh hưởng của phương pháp bao
gồm toàn bộ môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động dạy học, trong đó bao gồm cả môi
trường bên trong và môi trường bên ngoài của người học và người dạy.
2.2. Căn cứ khoa học của quan điểm sư phạm tương tác
thông tin ( dưới dạng năng lượng ) có ích vào não ( hiện tượng tương đồng ). Nhờ
chức năng mang đến và mang đi, dị biệt và tương đồng, các nơron thần kinh đã giúp
cá thể làm chủ được các kích thích và tạo thành những phản ứng cùng với những kích
thích cần phản ứng.
Khoa học thần kinh xác định có sự phân hóa chức năng bán cầu não phải và
bán cầu não trái về việc học và trí nhớ. Bán cầu não phải chú ý đến cái tổng thể, tích
hợp các yếu tố lại trong cấu trúc hay trong quan hệ, xử lí thông tin một cách đồng thời
bằng phép loại suy và biểu hiện thông tin bằng hình ảnh trong không gian. Bán cầu
não trái thiên về phân tích, chú ý đến yếu tố, xử lí thông tin theo từng chuỗi thời gian
và quy về các yếu tố bằng lời.
Tính năng động của não người trong việc học không thể thu hẹp lại duy nhất ở
những chức năng đồng nhất và chức năng không đồng nhất, được phân một cách riêng
rẽ cho bán cầu phải và bán cầu trái. Nhưng nếu các chức năng này hoạt động một cách
hoàn toàn độc lập với nhau thì không có trí thức, kiến thức mới nào có thể ra đời
Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy học
- 21-
được. Nhất là hai bán cầu phải bổ sung lẫn nhau và tạo nên một sự cân đối giữa
chúng, chỉ có sự tương hỗ này mới có thể nảy nở một đối tượng tri thức mới. Qua đó
có thể rút ra ý nghĩa trong thực hành sư phạm: trong quá trình dạy học cần kích thích
cả hai bán cầu não trái và phải của người học, đặc biệt là kích thích một trong hai
bán cầu để người học phát triển tốt khả năng hoạt động trí tuệ nào đó.
Bộ máy học dựa trên hệ thần kinh nhưng quá trình học diễn ra qua môi giới của
một cảnh được minh họa ở hình 1.3. Quá trình được khởi động bởi các kích thích, các
kích thích này kích thích các giác quan; các tri giác qua môi giới tiềm năng hành động
đạt tới thể vành ( Limbique ); thể vành này đánh giá sự cần thiết tiếp tục học và nếu
đánh giá là tích cực, có hứng thú; bán cầu phải của não nhận các thông tin; trạng thái
thứ ba xuất hiện khi đạt tới ngưỡng các dữ liệu; và trong giai đoạn cuối cùng bán cầu
trái thừa nhận giải pháp được đưa ra.
Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy học
- 22-
kích hoạt cái đã biết của người học để khắc sâu vào những khái niệm mới cần học. Và
để cho người dạy có khả năng có những phát minh rất là ngạc nhiên nếu họ được tự do
tưởng tượng và sáng tạo. Người dạy không thể đánh giá thấp một giác quan nào: tất cả
đều đánh thức trí nhớ. Theo quan điểm này sẽ rất có lợi nếu làm phong phú, các kinh
nghiệm, các dấu ấn sao cho kích thích được nhiều giác quan. Hiển nhiên việc thiếu các
dữ liệu giác quan sẽ gây thiệt thòi cho người học trong đường đi của mình đến với tri
thức; Điều đó có nghĩa là người dạy phải có trách nhiệm sửa khiếm khuyết này nếu có.
Một
tình huống có vấn đề như vậy đòi hỏi tương tác người học người dạy bằng
phương pháp sư phạm tương tác.
Vai trò của môi trường đối với các giác quan: Môi trường đóng vai trò quan
trọng trong việc phát triển các giác quan. Chính môi trường cung cấp các kích thích
cho các giác quan và tạo điều kiện gia tăng các sợi nhánh của nơron. Cũng chính môi
trường đánh thức trí nhớ trong suốt quá trình học. Rất nhiều khả năng do môi trường
đưa đến để làm cho việc giảng dạy được cụ thể. Thay cho các ví dụ ít ỏi từ các sách
giáo khoa. Tại sao lại không khám phá môi trường trực tiếp? Thí dụ người học sẽ nắm
được lợi ích của việc giữ gìn trường lớp sạch sẽ khi cho HS quan sát việc giữ gìn sạch
sẽ ngay tại lớp mình và nêu cảm nhận của bản thân.
Như vậy, QĐSPTT có cơ sở vững chắc là dựa trên sự phát triển của ngành
khoa học thần kinh và được ứng dụng vào dạy học.
2.3. Nội dung của quan điềm sư phạm tương tác
2.3.1. Các tác nhãn chính của hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm
tương tác
Từ “ sư phạm” có nguồn gốc xuất từ một danh từ và một động từ trong tiếng
Hy Lạp và có nghĩa là “hướng dẫn một đứa trẻ”. Nguồn gốc của từ chỉ ra rằng có sự
tham gia của hai nhân vật: người hướng dẫn và người được hướng dẫn. Ngày nay,
người ta đồng hóa chung một cách hoàn toàn ngẫu nhiên vào người dạy và người học.
Vì rằng người dạy và người học phát triển với những tính cách cá nhân trong một môi
trường rất cụ thể ảnh hưởng đến hoạt động của họ, nên môi trường trở thành một tác
nhân tham gia tất yếu. Đó chính là vì sao phương pháp sư phạm tương tác quan tâm
Quá trình học đòi hỏi người học một sự vận dụng liên tục và rất nhiều cố gắng. Con
đường trải qua đôi khi được gieo đầy trắc trở khó khăn và nhiều ẩn số; khi người học
cảm thấy bất lực, người học cần người dạy, người biết mang sự giúp đỡ mong muốn.