BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HỒNG CHUYÊN
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM SƢ PHẠM TƢƠNG TÁC
TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI
Ở TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo dục Tiểu học đã tận tình truyền thụ
cho em những kiến thức, các phương pháp giảng dạy ở Tiểu học giúp cho
việc nghiên cứu, tiếp thu kiến thức, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ sư phạm
của bản thân em để đạt được kết quả như mong muốn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên Phạm Quang Tiệp đã
tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cung cấp những kiến thức, những kinh nghiệm
quý báu, động viên, khích lệ em hoàn thành đề tài này.
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tập thể cán bộ
giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, cùng
toàn thể bạn bè, gia đình, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp này.
Do thời gian nghiên cứu còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và
các bạn đồng nghiệp để khóa luận này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, tháng năm 2014
Tác giả luận văn
PHẠM TƢƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI Ở
TIỂU HỌC 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Quan điểm dạy học sƣ phạm tƣơng tác 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Các thành tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học 10
1.2.3 Cơ sở khoa học của quan điểm sư phạm tương tác 12
1.2.4 Đặc trưng của quan điểm sư phạm tương tác 17
1.3 Môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 21
1.3.1 Mục tiêu dạy học môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học 21
1.3.2 Cấu trúc nội dung môn Tự nhiên – Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học 21
1.3.3 Đặc điểm của môn Tự nhiên - Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 26
Chƣơng 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM
SƢ PHẠM TƢƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI
Ở TIỂU HỌC 28
2.1 Đặc điểm của hoạt động dạy môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 28
2.1.1 Học sinh tiểu học trong học tập môn Tự nhiên - Xã hội 28
2.1.2 Giáo viên tiểu học trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội 31
2.1.3 Môi trường dạy học môn Tự nhiên - Xã hội 31
2.2 Thực trạng vận dụng quan điểm sƣ phạm tƣơng tác trong dạy học
môn Tự nhiên - Xã hội ở tiểu học 32
2.2.1 Mục đích điều tra 32
2.2.2 Đối tượng điều tra 32
2.2.3 Nội dung điều tra 33
2.2.4 Tiến hành điều tra 33
2.2.5 Kết quả điều tra 33
2.3 Những thuận lợi và khó khăn để vận dụng quan điểm sƣ phạm
tƣơng tác trong dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 37
2.3.1 Thuận lợi 37
3.3.7 Kết quả thực nghiệm 87
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
GV Giáo viên
HS Học sinh
PPDH Phương pháp dạy học
QĐSPTT Quan điểm sư phạm tương tác
SGK Sách giáo khoa
TN1 Thực nghiệm 1
TN2 Thực nghiệm 2
TN - XH Tự nhiên và Xã hội 1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên đà phát triển và đổi mới từng ngày trên mọi lĩnh
vực: kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật Để hội nhập với xu thế phát triển của
thời đại, Đảng ta đã vạch ra phương hướng chiến lược: Giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Thực hiện chủ
trương đúng đắn đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang phát triển đổi mới
đồng bộ giáo dục và đào tạo trong đó có đổi mới chương trình dạy học các cấp
nói chung, chương trình tiểu học nói riêng.
Đáp ứng yêu cầu phát triển của nền giáo dục nước nhà, giáo dục cấp tiểu
học đã được thực hiện đổi mới sách giáo khoa và nội dung chương trình dạy
tính tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo của môn Tự nhiên - Xã hội vẫn đang
được quan tâm và đầu tư. Môn học này tạo điều kiện thuân lợi cho việc đổi
mới phát huy tính tích cực của học sinh. Bởi nó là phân môn có vị trí quan
trọng, là môn học gần gũi với các em học sinh. Do vậy muốn cho giờ học đạt
hiệu quả thì giáo viên phải thay đổi các hình thức dạy học, lựa chọn kết hợp
các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại để nâng cao chất lượng giờ
dạy. Tuy nhiên dạy học môn học này vẫn gặp nhiều khó khăn trong giảng
dạy. Môn Tự nhiên và Xã hội là môn tích hợp nhận thức của khoa học tự
nhiên và khoa học xã hội. Vì vậy phương pháp học phải thể hiện được tính
tích cực, chủ động học tập của học sinh. Song trong thực tế, người giáo viên
chưa coi trọng môn học này. Đặc biệt là thiếu đồ dùng dạy học của môn trầm
trọng. Tình trạng dạy chay còn phổ biến. Một số giáo viên không thấy được
rằng dạy học theo hướng tích cực tức là tăng cường hoạt động học tập của cá
nhân, tập thể, kích thích động cơ bên trong của người học làm cho người học
tích cực, chủ động, tự tin phát triển khả năng suy lí, óc phê phán ra kiến thức
3
mới. Do vậy học sinh rơi vào thế thụ động trong học tập. Quan điểm sư phạm
tương tác (QĐSPTT) là một hướng đáp ứng được những yêu cầu này. Đó là
một hướng dạy học đề cao vai trò tương tác giữa người học với người học,
người học và người dạy, người học và môi trường. Bộ ba người học, người
dạy và môi trường tập hợp các tác nhân chính tham gia vào quá trình học tập.
Dạy học dựa vào tương tác là chiến lược dạy học coi trọng tính tích
cực, năng động của người học. Việc dạy và học được thực hiện dựa trên sự
tác động qua lại giữa các thành tố của quá trình dạy học (các tương tác sư
phạm), trong đó quan trọng nhất là sự tác động giữa người học với người dạy,
bạn học và môi trường dạy học. Chính nhờ vào sự tác động qua lại ấy mà
giảm bớt đi đáng kể tính một chiều, tính thụ động của người học và vai trò
của mỗi thành tố trong quá trình dạy học được nâng lên xứng tầm với vị trí
của nó.
đề xuất.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Việc vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội ở tiểu học.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu vận dụng quan điểm sư phạm
tương tác trong chủ đề thuộc môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học.
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Đề tài tiến hành điều tra thực trạng dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội theo quan điểm sư phạm tương tác tại 5 trường
Tiểu học ở 3 tỉnh là Hà Nội, Hà Nam, Vĩnh Phúc; tiến hành thực nghiệm tại 2
trường Tiểu học thuộc địa bàn Hà Nội.
5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích tư liệu lý luận trong và ngoài nước để tìm hiểu tình hình
nghiên cứu có liên quan.
- Phương pháp lịch sử và logic nhằm xây dựng quan niệm của đề tài và
những quan điểm lý luận cơ bản của vấn đề nghiên cứu.
5.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, quan sát và phỏng vấn, bảng hỏi nhằm khảo sát
thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội, thực trạng vận dụng quan điểm
sư phạm tương tác trong dạy học ở tiểu học.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm để đánh giá thực trạng đổi mới
PPDH, thực trạng dạy học môn Tự nhiên và Xã hội của giáo viên tiểu học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của
các biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác để dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội ở tiểu học được đề xuất trong đề tài.
5.3 Các phương pháp nghiên cứu khác
Trải qua các thời kì lịch sử tư tưởng giáo dục đó tiếp tục được khẳng định
và phát triển, với sự tham gia của các nhà giáo dục: J.A. Cômenxki, J.Rútxô,
J.H.Petxtalozi, A.Disteverg…Đặc biệt, cuộc canh tân giáo dục mạnh mẽ trong
những năm cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 đã mở ra nhiều hướng mới dạy học tập
trung vào hoạt động của người học và khai thác môi trường dạy học.
Đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục là nhà giáo
dục Mỹ John Deway (1916 - 1938). Với tư tưởng giáo dục đề cao vai trò của
người học “Lấy người học là trung tâm” ông chủ chương xây dựng “nhà
trường hoạt động” “dạy học qua việc làm”. Tư tưởng giáo dục của ông đã
hình thành một phong trào giáo dục hiện đại trên khắp thế giới đặc biệt là ở
các nước Âu và Mỹ [22].
7
Các nhà giáo dục Xô Viết N.V.Savin [42], T.A.Ilina [38], B.P.Êxipốp
[35], M.A.Đanhilốp [34]; Iu.K.Babunski [29] và không ít nhà giáo dục Việt
Nam như: Đặng Thành Hưng, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Ngọc
Bảo, Hà Thị Đức, Thái Duy Tuyên…đã đánh giá tính chất nhiều nhân tố trong
quá trình dạy học (cấu trúc ba nhân tố: dạy - nội dung - học), khẳng định mối
quan hệ qua lại giữa hai yếu tố dạy và học. Tuy nhiên vẫn chưa bao quát hết
chức năng cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõ được cơ chế tác động qua lại
giữa các yếu tố hoạt động dạy học nên chưa có tác dụng phát huy hết tính tích
cực, chủ động của học sinh trong quá trình dạy học.
Đến những năm 70 của TK XX nhóm tác giả Guy Brouseau, Claude
Comiti…tại viện đào tạo giáo viên (IUFM) ở Pháp đưa thêm yếu tố môi
trường trong cấu trúc hoạt động dạy học và dạy học gồm bốn yếu tố: người
học - người dạy - nội dung - môi trường. Yếu tố môi trường ở đây là ngữ cảnh
người dạy tạo ra cho người học chiếm lĩnh nội dung dạy học…Kết quả nghiên
cứu của nhóm tác giả đã chỉ ra rằng cơ chế của sự tác động qua lại giữa các
yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học đặt cơ sở cho những hoạt động sư
phạm, thúc đẩy hoạt động học của người học đến mức cao nhất [31].
1.2.1 Khái niệm
Theo “Đại từ điển Tiếng Việt”, “Tương tác’’ được hiểu như sau:
“Tương tác là tác động qua lại lẫn nhau” [28, 1769]. Khái niệm này xem
tương tác dưới góc độ chung nhất. Nghĩa là, tương tác là quá trình dạy và quá
trình học dựa trên sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh
nhằm tạo sự trao đổi và biến đổi giữa các yếu tố đó.
Tương tác trong dạy học được Thrmond (2003) định nghĩa như sau:
“Tương tác là những cam kết của người học trước nội dung bạn học, người dạy
và các phương tiện công nghệ sử dụng trong chương trình dạy học. Những
9
tương tác theo đúng nghĩa của nó giữa người học – người học, người học –
người dạy và với công nghệ sẽ tạo ra sự trao đổi lẫn nhau về thông tin. Sự trao
đổi này nhằm mở rộng sự phát triển tri thức trong môi trường học tập” [39, 2].
Theo Wagner: “Tương tác trong dạy học là tình huống trong đó đưa
đến nhiệm vụ của người học đối với môi trường dạy học là học tập. Thực hiện
nhiệm vụ này giúp người học có được những phản hồi để điều chỉnh hành vi
của mình phù hợp với mục tiêu giáo dục. Các tương tác trong dạy học cần
thỏa mãn hai mục đích: kích thích và điều chỉnh người học nhằm đạt được kết
quả theo mục tiêu học tập của họ” [43, tr.6 - 29].
Theo hai tác giả Jean Marc Denomme và Madeleine (1998) Sư phạm
tương tác là cách tiếp cận về hoạt động dạy học giữa ba tác nhân là người dạy,
người học và môi trường.
Tiếp cận hoạt động dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác không
chỉ dừng lại ở việc xác định đúng, đủ các yếu tố cơ bản, hạt nhân của cấu trúc
hoạt động dạy học, xác định đúng chức năng riêng biệt của từng yếu tố và
quan hệ giữa chúng mà chủ yếu là làm rõ tác động tương hỗ giữa các yếu tố
tạo thành một tập hợp liên kết chặt chẽ [25].
Như vậy quan điểm sư phạm tương tác là quan điểm dạy học tập trung
trước hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình
năng lực thực hiện chức năng của mình. Người dạy là người tổ chức, hướng
dẫn và điều khiển người học học. Người dạy chỉ cho người học mục tiêu mà
họ phải đạt được, sắp xếp nội dung, lựa chọn phương pháp dạy học và xây
dựng môi trường cởi mở, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích.
Theo quan điểm sư phạm tương tác người dạy không đóng vai trò là
11
“cái máy bơm đơn giản bơm tri thức vào đầu học sinh”, chức năng chính của
người dạy là giúp người học học và hiểu, làm nảy sinh tri thức của người học
theo nội dung và phương pháp hướng dẫn của người dạy. Người dạy cần tạo
cơ hội cho người học được hoạt động, được bày tỏ, được thực hiện và tự
khẳng định được mình, tránh sự áp đặt thông tin một chiều.
Môi trƣờng (Environnemnt): Môi trường là toàn bộ các yếu tố các điều
kiện xung quanh ảnh hưởng đến con người. Môi trường trong quan điểm sư
phạm tương tác là môi trường lớp học được tạo bởi sự hội nhập của các yếu tố
bên ngoài và yếu tố bên trong ảnh hưởng đến con người. Hoạt động dạy của
người dạy và hoạt động học của người học diễn ra trong không gian, thời gian
xác định và chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường. Tất cả các yếu tố bên
trong cũng như yếu tố bên ngoài; tạo thành môi trường của người dạy và
người học. Tác nhân này đóng một vai trò có ý nghĩa vì nó ảnh hưởng cả việc
dạy và việc học. Trong quan điểm sư phạm tương tác môi trường bao gồm:
môi trường bên trong và môi trường bên ngoài.
Môi trường bên trong: Chỉ các mối quan hệ nội tại bên trong của người
dạy, người học như: tiềm năng trí tuệ, những xúc cảm, những giá trị của cá
nhân, vốn sống, giá trị đạo đức, phong cách dạy và học, nhân cách…
Môi trường bên ngoài: Chỉ các yếu tố bên ngoài người học, người dạy
như môi trường (không gian vật chất và tâm lí, thời gian, ánh sáng…), người
dạy (hình thức bên ngoài đời sống nội tâm, kĩ năng giao tiếp…) ảnh hưởng tới
người học. Người học đặc biệt là tập thể học sinh với không khí học tập thi
đua của lớp ảnh hưởng tới người dạy, nhà trường, tính di truyền tập tính của
Trong hoạt động học thì đối tượng là “vấn đề học tập” hay “bài học” mà
người học cần chiếm lĩnh và chủ thể là người học. Người học hoạt động vươn
tới chiếm lĩnh “ vấn đề bài học” hay “ bài học” mà người học cần chiếm lĩnh
và chủ thể là người học. Theo lý thuyết hoạt động thì việc hình thành hoạt
động phải trải qua các giai đoạn sau [13, tr.110]:
13
- Hình thành động cơ học tập mà động cơ đó được hiện thân ở chính
đối tượng của hoạt động học – “vấn đề học tập”
- Hình thành mục tiêu học
- Hình thành các hành động học
Như vậy, nếu người dạy trong phương pháp sư phạm của mình tác
động tới các giai đoạn của hoạt động học, tạo điều kiện thúc đẩy người học
hành động nhiều hơn, vận động nhiều hơn…sẽ giúp người học tích cực, chủ
động hoạt động để chiếm lĩnh tri thức, thực hiện tốt hoạt động học đem lại
hiệu quả cao trong học tập.
Cơ sở giáo dục học
Theo QĐSPTT, người dạy với vai trò là người hướng dẫn, xác định
kiến thức mới cần phải thu lượm, người học với vai trò là người thợ chính của
việc học, họ cố gắng để gặt hái được tri thức được quy định bởi chương trình
môn học. Trong suốt quá trình học, người dạy lo lắng quan tâm đánh giá bước
đi của người học và đánh giá kết quả của người học với mục đích thu thập
những thông tin phản hồi từ người học để đưa ra những điều chỉnh đúng đắn
hoặc thực hiện một việc học khác. Vì vậy, việc xây dựng kế hoạch đối với
người dạy có nghĩa là vạch ra những mục tiêu học và đánh giá kết quả của
người học. Người dạy trong QĐSPTT là người lập kế hoạch và là người
hướng dẫn. Người dạy có trách nhiệm xác định mục tiêu phải đạt và đánh giá
người học có đạt được hay không. Trên cơ sở giáo dục học, QĐSPTT vận
động vào quá trình tổ chức dạy học cho thấy việc xác định kế hoạch dạy, chỉ
rõ vai trò của mục tiêu học, làm sáng tỏ các biện pháp và công cụ, xem xét
được phân tích thành các thành phần khác nhau của cảm giác và của các sợi
nhánh của hai nơron (hiện tượng dị diệt). Nơron thần kinh cũng thông qua
các khớp nối các sợi nhánh của hai nơ ron gặp nhau, không để cho mọi
thông tin đều được đi qua, nó sàng lọc chỉ cho những thông tin (dưới dạng
năng lượng) có ích vào não (hiện tượng tương đồng). Nhờ chức năng mang
15
đến và mang đi, di diệt và tương đồng, các nơron thần kinh đã giúp cá thể
làm chủ được các kích thích và tạo thành những phản ứng cùng với những
kích thích cần phản ứng.
Khoa học thần kinh xác định có sự phân hóa chức năng của bán cầu
não phải và bán cầu não trái về việc học và trí nhớ. Bán cầu não phải chú ý
đến cái tổng thể, tích hợp các yếu tố lại trong cấu trúc hay trong quan hệ, xử
lý thông tin một cách đồng thời bằng phép loại suy và biểu hiện thông tin
bằng hình ảnh trong không gian. Bán cầu não trái thiên về phân tích, chú ý
đến yếu tố, xử lý thông tin theo từng chuỗi thời gian và quy về các yếu tố
bằng lời.
Tính năng động của não người trong việc học không thể thu hẹp lại duy
nhất ở những chức năng đồng nhất và chức năng không đồng nhất, được phân
một cách riêng rẽ cho bán cầu phải và bán cầu trái. Nhưng nếu các chức năng
này hoạt động một cách hoàn toàn độc lập với nhau thì không có tri thức, kiến
thức mới nào có thể ra đời được. Nhất thiết là hai bán cầu phải bổ xung lẫn
nhau và tạo nên một sự cân đối giữa chúng, chỉ có sự tương hỗ này mới có thể
nảy nở một đối tượng tri thức mới. Qua đó có thể rút ra ý nghĩa trong thực
hành sư phạm: trong quá trình dạy học cần kích thích được cả hai bán cầu
não trái và phải của người học, đặc biệt là kích thích một trong hai bán cầu
để người học phát triển tốt khả năng hoạt động trí tuệ nào đó.
Bộ máy học dựa trên hệ thống thần kinh nhưng quá trình học diễn ra
qua môi giới của một cảnh được khởi động bởi các kích thích, các kích thích
này kích thích các giác quan; các tri giác qua môi giới tiềm năng hành động
17
1.2.4 Đặc trưng của quan điểm sư phạm tương tác
QĐSPTT trong dạy học có các đặc trưng cơ bản sau:
- Quá trình dạy học tập trung vào ngƣời học
Trong dạy học, người học – đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là
chủ thể của hoạt động học được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo
viên tổ chức và chỉ đạo. Từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới nhằm bộc lộ
và phát huy tiềm năng sáng tạo. Trong dạy học cần chú trọng rèn luyện cho
học sinh phương pháp tự học, khơi dạy nội lực vốn có của mỗi người, và sự
nỗ lực tự học, trách nhiệm, hứng thú, chủ động của học sinh trong học tập
nhằm đạt được kết quả cao.
Theo QĐSPTT, trong dạy học, người học là người thợ chính của
phương pháp học, người quyết định thực hiện mục tiêu học, quyết định sự
phát triển nhân cách bản thân. Vì vậy mọi yếu tố trong dạy học xét cho cùng
là phải xuất phát từ người học, vì người học và phải khơi dạy, duy trì tính tích
cực của người học trong suốt quá trình học.
Trong dạy học sự hứng thú của học sinh được thể hiện ở sự tập trung,
cố gắng trong học tập và sự nỗ lực khắc phục khó khăn, trở ngại để chủ động
giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Muốn được như vậy, thì tình huống đó, vấn đề
đó phải là đối tượng mà họ quan tâm, đam mê nhằm vượt qua thử thách, khó
khăn để chinh phục vượt qua chính mình để đạt được mục đích đề ra.
Quá trình tham gia tích cực của người học vào quá trình học chính là sự
thể hiện vai trò người thợ chính của phương pháp học đem đến sự thay đổi,
phát triển trong nhân cách người học [32, tr.27]. QĐSPTT cho rằng vấn đề
trước hết là chính người học phải tự ý thức và mong muốn được tham gia tích
cực vào phương pháp học của mình, một thử thách của chính mình mà thử
thách đó dựa trên cơ sở nhu cầu, sở thích thu lượm kiến thức hay sự thỏa mãn