Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
Th.S: Đoàn Kim Phúc, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ cho em
trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Xin gửi lời cảm ơn đến trường Đại học Quảng Bình, các thầy cô trong
khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt
khóa luận.
Cảm ơn tập thể lớp CĐGD Tiểu học B - K54 đã luôn động viên, an ủi
sát cánh bên em, giúp em thêm tự tin hơn.
Do điều kiện về thời gian, năng lực còn hạn chế khóa luận còn rất
nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để khóa luận được
hoàn chỉnh hơn.
Em kính chúc các thầy cô giáo sức khỏe, thành công trong sự nghiệp
trồng người.
Đồng Hới, tháng 06 năm 2015
Tác giả
Đoàn Thị Ngọc Mai
Lời cam đoan
Tôi tên là: Đoàn Thị Ngọc Mai
Sinh viên lớp: Cao đẳng giáo dục Tiểu học B - K54. Khoa Sư phạm Tiểu
học - Mầm non. Trường Đại học Quảng Bình.
Tôi xin cam kết đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
môn Tự nhiên xã hội lớp 2”.
Đây là đề tài nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở
nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự
hướng dẫn của thầy giáo Th.S: Đoàn Kim Phúc.
SGK : Sách giáo khoa
NXB GD : Nhà xuất bản giáo dục
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Giả thuyết khoa học 4
7. Cấu trúc của đề tài 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG
DỤNG CNTT VÀO DẠY HỌC MÔN TNXH
5
1.1 Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH 5
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.2 Vai trò của môn TNXH trong quá trình dạy học 5
1.1.3 Vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học 6
1.1.4 Vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học TNXH ở Tiểu học 7
1.1.5 Những tiện ích khi sử dụng giáo án điện tử 9
1.1.6 Lưu ý cần thiết khi thiết kế giáo án điện tử 9
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH 10
1.2.1 Thực trạng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH 10
1.2.1.1 Thực trạng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học 10
2.4.4 Chèn hình ảnh, đồ họa, âm thanh, video clip vào Slide 27
2.4.5 Sử dụng hiệu ứng trong Power Point để hoàn thiện nội dung và hình
thức của một bài giảng 28
2.4.6 Thực hiện liên kết giữa các Slide, các file, chương trình 29
2.4.7 Chạy thử chương trình và sữa chữa 29
2.4.8 Đóng gói tập tin 30
2.4.9 Giải nén tập tin 30
CHƯƠNG III: MỘT SỐ BÀI GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
31
1. Bài: Làm gì để xương và cơ phát triển tốt? 31
2. Bài: Cơ quan tiêu hóa 34
3. Bài: Tiêu hóa thức ăn 37
4. Bài: Đề phòng bệnh giun 39
5. Bài: Đồ dùng trong gia đình 44
6. Bài: Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở 46
7. Bài: Phòng tránh ngộ độc khi ở nhà 51
8. Bài: Phòng tránh ngã khi ở trường 54
9. Bài: Đường giao thông 59
10. Bài: An toàn khi đi các phương tiện giao thông 63
11. Bài: Một số loài cây sống trên cạn 67
12. Bài: Một số loài cây sống dưới nước 71
13. Bài: Loài vật sống ở đâu? 77
14. Bài: Nhận biết cây cối và các con vật 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
86
1. Kết luận 86
2. Kiến nghị 87
2.1 Đối với các cấp quản lý 87
2.2 Đối với giáo viên 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
cả hiện đại, ứng dụng CNTT vào dạy và học.
Nếu trước kia người ta áp dụng phương pháp dạy học sao cho học sinh (HS)
nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành, phát triển cho HS
các phương pháp học chủ động. Nếu trước kia người ta thường quan tâm
nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay
chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của HS. Như vậy, việc
2
chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy người học làm trung tâm” sẽ trở
nên dễ dàng hơn.
HS Tiểu học còn nhỏ, nên quá trình nhận thức thường gắn với những
hình ảnh, hoạt động cụ thể. Bởi vậy, phương tiện trực quan rất cần thiết trong
quá trình giảng dạy. Đặc biệt là các phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ
thu hút được sự chú ý của HS. Trong tiết học có đồ dùng trực quan đẹp sẽ thu
hút sự chú ý của HS đến bài giảng hơn và kết quả học tập của HS sẽ tốt hơn.
Công nghệ phần mềm có nhiều bước tiến đáng kể, trong đó các phần
mềm giáo dục như: Bộ Office, Cabri, E-learning, MS PowerPoint đã đạt được
rất nhiều thành tựu.
Môn Tự nhiên - Xã hội (TNXH) là một trong số những môn học mà HS
có hứng thú và đam mê nhất khi học môn này, vì đây là môn học có rất nhiều
hình ảnh sống động, lôi cuốn sự chú ý của HS. Những hình ảnh về hoạt động
của con người, loài vật được đưa lên màn hình với những hiệu ứng khác nhau
sẽ rất có hiệu quả mà không tốn nhiều thời gian so với phương pháp truyền
thống. Chỉ cần bấm chuột, sau vài giây trên màn hình sẽ hiện ra nội dung mà
chúng ta cần truyền thụ cho HS. Chính vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy
học môn TNXH ở Tiểu học là rất cần thiết.
Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của CNTT trong công tác dạy học:
Nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của HS, tạo ra một môi trường
giáo dục mang tính tương tác cao chứ không phải đơn thuần chỉ là “thầy
giảng-trò nghe” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều
trong giảng dạy môn TNXH và nhiều môn học khác một cách linh hoạt, sáng
tạo.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
TNXH là môn học cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản ban đầu về
các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và xã hội và các mối quan hệ của con
người xảy ra xung quanh các em. Trang bị cho các em những kiến thức cơ
bản của bậc học góp phần bồi dưỡng nhân cách cho thế hệ trẻ.
Tuy nhiên, trên thực tế nhiều phụ huynh HS thậm chí là GV vẫn cho
rằng môn học này là phụ không nên chuyên tâm để ý đến, môn TNXH thường
bị cắt giảm thời lượng để giành cho các môn học chính như Toán,Tiếng Việt.
Chính vì vậy, khi dạy học GV thường không sử dụng các PPDH linh hoạt,
phù hợp với môn học, chưa áp dụng CNTT vào dạy học để mang lại hiệu quả.
Qua đó, các em HS chưa hứng thú với việc học môn TNXH.
Vì vậy, thực hiện khóa luận này. Tôi mong đề xuất một số bài giáo án
điện tử cùng một số biện pháp để đổi mới PPDH ứng dụng CNTT vào dạy
học môn TNXH lớp 2 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Tìm hiểu về ứng dụng CNTT vào môn TNXH lớp 2
4
- Đề xuất một số bài giáo án điện tử và biện pháp để ứng dụng CNTT
trong dạy học môn TNXH lớp 2 một cách có hiệu quả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các phần mềm dạy học TNXH ở Tiểu học và ứng dụng
chúng vào dạy học các nội dung trong chương trình TNXH lớp 2.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu một số phần mềm dạy học TNXH lớp 2. Từ đó đề
Tư tưởng coi HS là trung tâm không phải là đề cao hứng thú hay sở thích
cá nhân của HS, biến giờ học thành những cuộc thao diễn hay chạy theo hứng
thú của HS mà là khuynh hướng tiến bộ, lành mạnh nhằm giải phóng năng lực
sáng tạo của cá nhân HS.
Việc đổi mới PPDH thiết thực sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục,
tạo điều kiện để cá thể hóa dạy học và khuyến khích dạy học, phát hiện những
kiến thức của bài học. Làm như thế sẽ phát triển được năng lực và sở trường
của từng HS, rèn luyện HS trở thành những người sáng tạo.
Các PPDH truyền thống luôn là những phương pháp quan trọng trong
dạy học. Đổi mới không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp truyền thống mà
cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm
của chúng.
Đổi mới PPDH đòi hỏi người GV cần kết hợp đa dạng các PPDH và phải
thực hiện đồng bộ với quá trình đổi mới mục tiêu và nội dung giáo dục, đổi
mới đào tạo và bồi dưỡng GV, cơ sở vật chất. Đó là một quá trình lâu dài,
phải kiên trì, tránh nôn nóng, phải biết kế thừa và phát huy các mặt tích cực
của các PPDH truyền thống và tận dụng hợp lý các PPDH mới.
1.1.2 Vai trò của môn TNXH trong quá trình dạy học
Trong chương trình giáo dục hiện nay, môn TNXH cùng với các môn
học khác có vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho HS.
Đây là môn học có một vị trí rất quan trọng, nó là một môn học gần gũi
với các em HS. Cung cấp một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về cơ
thể người: HS biết cách giữ gìn vệ sinh cơ thể và phòng tránh một số bệnh tật
thông thường, biết một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên xã hội
xung quanh.
Môn TNXH là môn học tích hợp kiến thức của khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Tỉ trọng kiến thức khoa học tự nhiên nhiều hơn so với kiến
6
thức khoa học xã hội.Vì vậy, môn TNXH là môn học có tầm quan trọng trong
thiết.
7
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học sẽ góp phần nâng cao chất lượng học
tập. Tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không chỉ đơn
thuần là thầy giảng - trò chép như hiện nay, HS được khuyến khíchvà tạo điều
kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học.
Trong các tiết học, HS sẽ thấy hứng thú hơn nếu thầy cô biết cách đầu tư
khi tích hợp các hình ảnh, âm thanh, hiệu ứng cùng với bài giảng của mình.
Tác dụng của CNTT trong dạy học ở bậc tiểu học: Bước đầu giúp HS
làm quen với một số kiến thức ban đầu về CNTT như: Một số bộ phận của
máy tính, một số thuật ngữ dùng, rèn luyện một số kĩ năng sử dụng máy
tính…
Hình thành một số phẩm chất và năng lực cần thiết cho người lao động
hiện đại như:
+ Góp phần hình thành năng lực và phát triển tư duy thuật giải.
+ Bước đầu hình thành và phát triển năng lực tổ chức và xử lý thông tin.
+ Có ý thức và thói quen sử dụng máy tính trong hoạt động học tập, lao
động của xã hội hiện đại.
+ Có thái độ đúng khi sử dụng máy tính, các sản phẩm tin học.
+ Có ý thức tìm hiểu CNTT trong các hoạt động xã hội. Đặc biệt, khi HS
học các phần mềm như: phần mềm soạn thảo văn bản…
+ Trong chương trình tin học ở bậc tiểu học được phân bố xen kẽ giữa
các bài, vừa học, vừa chơi. Điều đó sẽ rèn luyện cho HS óc tư duy sáng tạo
trong quá trình chơi những trò chơi mang tính bổ ích giúp HS thư giãn sau
những giờ học căng thẳng ở lớp.
1.1.4 Vai trò của ứng dụng CNTT trong dạy học TNXH ở Tiểu học
Đổi mới PPDH nằm trong nguồn mạch chung của cuộc vận động đổi
mới do Đảng đề ra: Mục tiêu của đổi mới nhằm đưa ra yêu cầu đào tạo cho
phù hợp với sự phát triển đi lên đòi hỏi mọi lĩnh vực phải đổi mới để phù hợp
khác liên quan đến bài học để giúp cho nội dung bài học thêm phần phong
phú hơn.
Nhờ chức năng có thể tạo, lưu trữ và hiển thị lại khối lượng thông tin vô
cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh nên ứng dụng CNTT được
sử dụng để hỗ trợ việc minh họa các hiện tượng, quá trình nội dung, kiến thức
cần cho HS.
Bản thân từng PPDH sẽ không có ý nghĩa nếu nó không được vận dụng
một cách đúng lúc, đúng chỗ và đúng mức. CNTT góp phần thực hiện phương
châm dạy học: “Tôi nghe - tôi sẽ quên, tôi nhìn - tôi sẽ nhớ, tôi làm - tôi sẽ
hiểu”. Có nghĩa là, trong giờ học nếu GV biết kết hợp linh hoạt các phương
9
pháp vừa thuyết trình vừa sử dụng các học cụ trực quan, các phương tiện kĩ
thuật hiện đại và HS làm việc thì giờ học đó chắc chắn sẽ sinh động, thú vị,
phát huy được tính chủ động, sáng tạo của HS và đạt kết quả cao.
HS Tiểu học, tri giác thường gắn với trực quan hành động, các hình ảnh
trực quan, nhận thấy điều này nên chúng ta cần phải thu hút sự chú ý của HS
bằng các hoạt động mới mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình
thường: đó chính là việc sử dụng giáo án điện tử sẽ kích thích cảm nhận, tri
giác tích cực, tạo hứng thú học tập cho các em.
1.1.5 Những tiện ích khi sử dụng giáo án điện tử
Để phát triển con người toàn diện, góp phần hình thành năng lực và
phẩm chất tư duy cho HS thì việc dạy học tốt các môn học là yêu cầu không
thể thiếu. Người GV không những dạy tốt các môn như Toán, Tiếng Việt
nhằm hình thành tri thức cho HS mà còn phải dạy tốt tất cả các môn học khác
nhau để phát triển con người toàn diện. Từ năm 2000, song song với việc thay
SGK mới thì bộ giáo dục cũng yêu cầu các GV Tiểu học phải đổi mới PPDH.
Có thể nói việc dạy học bằng giáo án điện tử đã giúp cho GV đỡ vất vả
hơn nhiều. Thay bằng thao tác hướng dẫn, các thao tác gắn đồ dùng lên bảng.
GV chỉ cần kích chuột lên là có. Dạy bằng giáo án điện tử còn tránh được tình
một giáo án điện tử cần lưu ý một số điểm như sau:
- Cần chọn phông chữ, màu chữ, phông nền, màu nền cho phù hợp.
Không nên chọn màu sắc tối, nhợt nhạt sẽ không gây được sự chú ý của học
sinh. Không nên chọn màu sắc quá lòe loẹt, hoặc quá nhiều màu sắc trong
một Slide nhìn sẽ rối mắt.
- Chỉ đưa những kiến thức trọng tâm của bài vào Slide.
- Những kiến thức cần nhấn mạnh thì nên chọn hiệu ứng đổi màu hoặc
gạch chân, chứ không nên chọn hiệu ứng quá sinh động làm cho học sinh chỉ
chú ý xem các hiệu ứng không chú ý đến kiến thức của bài.
- Hiệu ứng chuyển trang cũng nên chọn hiệu ứng phù hợp, không nên
chọn hiệu ứng quá nhanh hay quá chậm hoặc quá sống động ảnh hưởng đến
sự tập trung vào bài học của học sinh.
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH
1.2.1 Thực trạng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH
1.2.1.1 Thực trạng của việc ứng dụng CNTT vào dạy học
a. Thuận lợi
- Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh, video, camera …
với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản
vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.
11
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội, con người.
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện
những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên
những lĩnh vực khác nhau.
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và
với người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được
khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể
thiếu để học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực
còn né tránh. Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn
khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian
tới. Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương
pháp tư duy sáng tạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm,
cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo
viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy. Điều đó
làm cho CNTT, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy
tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó.
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng
túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong
thực hiện.
- Việc ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học chưa được
nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc,
nhiều khi lạm dụng nó. Nhiều giáo viên vẫn còn quá lạm dụng máy chiếu để
thay cho tấm bảng đen, biến “đọc- chép” thành “chiếu-chép”. Thời gian qua,
nhiều giáo viên vẫn còn quan niệm đồng nhất giữa “ứng dụng công nghệ
thông tin vào dạy học” với giáo án điện tử. Do đó, khi soạn một bài giảng
bằng Powerpoint, giáo viên đưa tất cả những công việc của mình (ổn định lớp,
kiểm tra bài cũ, câu hỏi kiểm tra bài cũ, dặn dò…) và toàn bộ nội dung bài
giảng lên các Slide để “chiếu cho học sinh chép”. Điều đó ảnh hưởng rất
nhiều đến việc học tập của HS vì công nghệ thông tin không phải là một giáo
án, nó chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình giảng dạy và giúp giáo viên cung
cấp cho học sinh nhiều nguồn tư liệu khác nhau về một sự vật, hiện tượng
như: kênh chữ, kênh hình, phim tư liệu…để cho học sinh tự tìm ra tri thức cho
mình. Từ đó, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh
trong học tập.
- Chính vì tính ưu việt khi soạn thảo giáo án điện tử dễ trao đổi, sao
chép, nên làm cho một số giáo viên không tích cực soạn giáo án mà trở thành
- GV bước đầu đã có những kiến thức, kĩ năng trong việc ứng dụng
CNTT vào hoạt động giảng dạy. Tuy nhiên vẫn gặp một số khó khăn, hạn chế.
14
1.2.1.2 Thực trạng dạy học môn TNXH hiện nay
a. Đặc điểm của HS khi học môn TNXH
HS tiểu học có trí thông minh, nhanh nhạy, có óc tưởng tượng phong
phú. Đó là tiền đề cho việc đổi mới PPDH ở tiểu học nói chung và bộ môn
TNXH nói riêng.
HS tiểu học ưa hiểu biết, khám phá những cái mới, tự nhiên, xã hội, con
người xung quanh.
HS tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, các PPDH truyền thống làm
cho HS dễ mệt mỏi, chán nản. Giờ học diễn ra căng thẳng, ảnh hưởng đến
việc tiếp thu bài của HS.
Do vậy, muốn có giờ học sôi nổi, hiệu quả thì GV phải thay đổi hình
thức dạy học, lựa chọn kết hợp các PPDH truyền thống và hiện đại để nâng
cao chất lượng giờ dạy. Có như vậy HS mới có hứng thú học tập và giờ học
mới đạt hiệu quả cao.
b. Thực trạng vấn đề dạy học môn TNXH hiện nay
Môn TNXH là môn học tích hợp nhận thức của khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội. Vì vậy, PPDH phải thể hiện được các phương pháp đặc
trưng của các môn khoa học thực nghiệm.
Song thực tế, người GV chưa coi trọng môn học này. Đặc biệt là thiếu
đồ dùng dạy học của môn học trầm trọng. Tình trạng dạy “chay”còn phổ biến,
một số GV chưa ý thức được rằng dạy học theo hướng tích cực là tăng cường
hoạt động học tập của cá nhân, kích thích động cơ bên trong của người học,
làm cho người học tích cực chủ động, tự tin tìm kiếm khả năng suy lí, óc phê
phán ra kiến thức mới. Do vậy, HS rơi vào thế thụ động nhận thức.
1.2.2 Giải pháp ứng dụng CNTT vào dạy học môn TNXH
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng muốn
- Định hướng cho GV luôn có ý thức sưu tầm tài liệu hướng dẫn ứng
dụng CNTT hiệu quả, bộ phận chuyên môn nghiên cứu chọn lọc photo phát
cho giáo viên như: tài liệu hướng dẫn soạn giáo án powerpoint, hướng dẫn sử
dụng máy chiếu, hướng dẫn thiết kế bài giảng điện tử e-Learning,…
- Bố trí phòng Hội đồng, phòng thư viện đều có kết nối Internet để cán
bộ, GV được truy cập Internet thường xuyên.
- Lắp đặt thêm phòng học chức năng để giáo viên dễ dàng trong việc
đăng kí và sử dụng.
1.2.2.2 Đối với giáo viên
- Tự xây dựng ngân hàng tư liệu (phim, ảnh…) phục vụ cho các tiết dạy
ứng dụng CNTT.
- Khi thiết kế bài giảng điện tử cần chuẩn bị trước kịch bản, tư liệu
(Video, hình ảnh), chọn giải pháp cho sử dụng công nghệ, sau đó mới bắt tay
vào soạn giảng.16
- Không lạm dụng công nghệ nếu chúng không tác động tích cực đến
quá trình dạy học và sự phát triển của học sinh.
- Tích cực tham gia các cuộc thi ứng dụng CNTT do ngành tổ chức.
Bởi vì, thông qua đó giáo viên sẽ rèn luyện được các kỹ năng, có thêm nhiều
kinh nghiệm từ học hỏi đồng nghiệp.
Ngày nay, CNTT đã len lỏi vào từng góc cạnh của đời sống xã hội.
người học, người dạy tác động vào nó để lĩnh hội hoặc hình thành kiến thức
mới ở người học.
- Bản trình chiếu là bản phương tiện hiện đại có thể thay đổi cho loại
phương tiện truyền thống là phấn bảng. Trong PPDH thuyết giảng thì nội
dung của toàn bộ bài giảng có thể chứa trong nội dung chương trình chiếu.
Vậy thế nào là giáo án điện tử? Trong thời đại CNTT hiện nay, chúng ta
được biết đến tên gọi như thương mại điện tử, thư điện tử, chính phủ điện tử.
Và trong giáo dục, nhiều người cũng bắt chước theo cách gọi đó để gọi “giáo
án điện tử”, ngoài cái tên quen thuộc là giáo án. Vậy, cách gọi tên như thế nào
cho đúng? Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu sơ lược khái niệm sau:
- “Giáo án”: Có thể hiểu là bản thiết kế cho tiến trình một tiết dạy học, là
bản kế hoạch mà người GV dự định sẽ thực hiện giảng dạy trên lớp cho HS cụ
thể.
- “Giáo án điện tử”: Có thể hiểu là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch
hoạt động dạy học của GV trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã
được đa phương tiện hóa một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được
quy định bởi cấu trúc của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt
động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được
18
tiến hành. Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì
vậy, xây dựng giáo án điện tử là cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể
để có được bài giảng điện tử. Trong quá trình giảng dạy của GV nảy sinh một
số vấn đề:
- Vấn đề thứ nhất hiện nay là: nhiều người dùng thuật ngữ “giáo án điện
tử” để chỉ các bài trình chiếu Powerpoint. Đó là sai lầm về thuật ngữ và cách
hiểu vì đây chỉ là tập hợp các Slide để trình bày về vấn đề GV muốn truyền
đạt, còn hệ thống câu hỏi, những gợi ý, dẫn dắt… thường không thể hiện ra ở
các slide. Thực tế, các bài giảng kiểu này có thể soạn trên Powerpoint, Violet,
Flash, được giảng dạy qua máy tính và được coi như là một thiết bị dạy học
dàng.
- Kích thích khả năng sáng tạo, ý tưởng mới vì muốn có một giáo án
điện tử hấp dẫn, chất lượng, người giáo viên ngoài khả năng chuyên môn cần
phải có ý tưởng, tích cực suy nghĩ để lựa chọn hình thức thể hiện phù hợp với
nội dung bài giảng.
- Các nội dung như vấn đề trọng tâm…được giáo viên trình bày rõ ràng
và chỉ cần một vài thao tác, tất cả những dữ liệu được truyền đạt đến người
học một cách mạch lạc và đầy đủ nhất.
Như vậy, việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại một hiệu quả tích
cực trong hoạt động giảng dạy của người giáo viên. Tuy nhiên giáo án điện tử
vẫn có những hạn chế nhất định khi chủ thể sử dụng không kiểm soát được
hoạt động của mình và điều kiện giảng dạy không đầy đủ.
2.1.3 Hạn chế của giáo án điện tử
- Quan niệm sai lệch về giáo án điện tử: Cho rằng sử dụng phần mềm
Powerpoint (violet), đưa tất cả nội dung, ý tưởng bài giảng lên trên màn hình
và hiểu đó là giáo án điện tử. Chính vì thế hoạt động của người giáo viên sẽ
nhàn hơn, đỡ tốn sức hơn. Nhưng tác động ngược lại đối với người học sẽ
nhàm chán và bị động, ghi ghi chép chép và ảnh hưởng đến chất lượng giáo
dục.
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học
nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ
trợ giáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ. Nó chỉ thực sự hiệu quả
đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều
nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều
kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn
cho học sinh, vì giáo viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt
bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần
phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử. Những mạch kiến