NỘI DUNG ĐỀ TÀI
TÊN ĐỀ TÀI:
SỬ DỤNG MÁY VI TÍNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
DẠY HỌC MÔN KTCN (CÔNG NGHỆ) TẠI TRƯỜNG THPT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Công nghệ thông tin là một phát minh lớn nhất của loài ngưi cho đến ngày
nay. Công nghệ thông tin đang là một xu thế mà cả nhân loại đang cố gắng để tiếp cận
và khai thác tất cả các ứng dụng để phục vụ tốt nhất nhu cầu về mọi mặt của con
ngưi.
Theo quan điểm của Đại hội Đảng IX.“ Giáo dục phải đi trước một bước so với
sự phát triển của Xã hội” Hay nói cách khác Giáo dục phải đi trước đón đầu sự phát
triển của Xã hội. Vì vậy vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin ngày nay trong viêc
giảng dạy trong nhà trưng là một vấn đề vô cùng cần thiết và không thể chậm trễ.
Trong quá trình giảng dạy môn công nghệ ở trưng phổ thông của bản thân, tôi
tự nhìn nhận thấy. Kỹ thuật là môn học có rất nhiều điểm khác biệt vì nó liên quan
đến nhiều môn học cơ bản khác, mặt khác kỹ thuật rất thực tế nhưng rất trừu tượng và
đa dạng. Do vậy nếu ngưi giáo viên chỉ đơn thuần sử dụng các phương pháp dạy học
cũ thông thưng, thì việc để học sinh có thể đạt được mục tiêu giáo dục như mong
muốn là vấn đề hết sức khó khăn. Tại sao nói như vậy, vì từ trước đến nay chúng ta
đặt ra vấn đề giáo dục toàn diện cho học sinh, nhưng chưa bao gi có sự kiểm tra hay
nhìn nhận đúng mức về vấn đề đó có đáp ứng đúng mục đích đề ra hay không.
Vì:Chúng ta đề ra chương trình giáo dục toàn diện nhưng việc thực hiện vẫn còn mang
tính hình thức về nhiều mặt. Chúng ta giảng dạy nhưng không được thực hành thưng
xuyên do cơ sở vật chất chưa thực sự được đầy đủ, trong khi dạy học kỹ thuật phải
luôn gắn với thực hành. Đồng thi chương trình học không tiếp cận được liên tục với
sự phát triển nhanh chóng của nền khoa
- 1 -
học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão hiện nay. Lí do cơ bản đối với chúng ta là
điều kiện kinh tế của chúng ta còn nhiều khó khăn, do đó vấn đề đầu tư cơ sở vật chất,
trang thiết bị phục vụ cho Giáo dục còn nhiều hạn chế.
Ngành công nghệ thông tin hay nói cụ thể là Tin học từ khi ra đi đến nay đã
sàng đi vào lao động cho học sinh thông qua những nội dung cụ thể.
1.2. Nhiệm vụ của môn KTCN phổ thông.
- Trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn sản
xuất.
- Hình thành và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng kỹ thuật.
- Hình thành và phát triển tư duy kỹ thuật, bồi dưỡng năng lực kỹ thuật cho học sinh.
- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh.
- Giáo dục ý thức công nghiệp.
- Giáo dục thế giới quan khoa học và niềm tin cho học sinh.
1.3. Một số biện pháp phát triển tư duy và bồi dưỡng năng lực kỹ thuật cho học
sinh qua dạy học KTCN.
Việc hình thành tư duy kỹ thuật và bồi dưỡng năng lực kỹ thuật cho học sinh
phải là một qúa trình kết hợp nhiều yếu tố. Tuy nhiên, ngay trong quá trình lĩnh hội tri
thức, từng bước tư duy được hình thành và phát triển, đồng thi việc phát triển tư duy
lại ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển tri thức mới. Do đó trong qua trình dạy học bộ
môn có thể áp dụng các biện pháp sau để thúc đẩy việc hình thành và phát triển tư duy
kỹ thuật cho học sinh.
1.3.1. Để phát triển tư duy kỹ thuật cho học sinh, cần phải cung cấp các phương tiện
và công cụ tư duy, đó là ngôn ngữ kỹ thuật, đặc biệt là các khái niệm kỹ thuật. Cần
làm sâu các biểu tượng mà các khái niệm phản ánh.
- 3 -
1.3.2. Sử dụng hợp lý các phương tiện trực quan để tạo ra các hình ảnh trực quan cảm
tính, ấn tượng ban đầu, làm dữ liệu cho tư duy. Đối tượng chọn để quan sát phải mang
tính điển hình, đại diện cho nhóm đối tượng cần phản ánh.
1.3.3. Tổ chức tốt quá trình dạy học thực hành, tham quan kỹ thuật để học sinh có
điều kiện vận dụng và hoàn thiện lý thuyết, rèn luyện động tác vật chất qua đó củng cố
thao tác trí tuệ.
1.3.4. Cấu trúc bài dạy phải phù hợp với logic nội dung kỹ thuật và lôgic của quá trình
nhận thức. Sự hình thành bất cứ một tri thức mới cũng phải dựa vào hệ thống tri thức
và kinh nghiệm đã có ở con ngưi. Tri thức mới này lại là cơ sở để hình thành tri thức
thưng xuyên được đề cập, khai thác khi giảng dạy kỹ thuật.
Trong quá trình giảng dạy môn KTCN lớp 11 năm học và năm học , tôi nhận
thấy học sinh gặp nhiều khó khăn khi gặp phải các vấn đề kỹ thuật có tính trừu tượng
và tính thực tế mà các em do điều kiện xã hội không có cơ hội được tiếp cận bao gi
hoặc có biết nhưng chỉ là những cái thoáng thấy bên ngoài mà không một lần được
thực tế quan sát hay sử dụng cụ thể. Ngoài việc giới thiệu cũng như các nội dung hình
vẽ trên SGK và sự cố gắng mô phỏng và trình bày của giáo viên, các em học sinh
không có một sự quan sát cụ thể nào. Điều đó làm cho việc giảng dạy của giáo viên và
sự học tập tiếp thu của học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy rất cần phải có một
phương thức nào đó giúp các em có thể tiếp thu nội dung bài học một cách dễ dàng và
nhanh hơn. Muốn vậy không có gì bằng là cho các em được quan sát cụ thể và thực tế.
1.5. Đặc điểm, nội dung của môn kỹ thuật công nghiệp ở trường phổ thông.
1.5.1. Tính cụ thể và trừu tượng.
Tính cụ thể được biểu hiện ở chỗ nội dung môn học phản ánh những đối tượng
cụ thể (máy móc, thao tác, qui trình công nghệ…). Những nội dung này học
sinh có thể trực tiếp tri giác được ngay trên đối tượng nghiên cứu (thông qua phương
tiện trực quan hoặc thao tác mẫu của giáo viên …).
- 5 -
Tính trừu tượng biểu hiện qua hệ thống các khái niệm kỹ thuật, nguyên lý kỹ
thuật… mà học sinh không thể trực tiếp tri giác được. Ví dụ: Chu trình làm việc của
động cơ đốt trong, sự tạo thành hỗn hợp xăng và không khí trong bộ chế hoà khí…
Để tiếp thu loại tri thức này đòi hỏi phải hình dung, tượng tượng (tư duy). Song để có
dữ liệu tư duy thì phải có nhận thức cảm tính (trực quan).
Hai đặc điểm nói trên đòi hỏi trong dạy học phải thống nhất giữa cụ thể và trừu
tượng; giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, giữa cấu trúc bên ngoài với nội
dung, nguyên lý, diễn biến bên trong của mỗi đối tượng kỹ thuật.
1.5.2. Tính thực tiễn.
Tính thực tiễn là bản chất vốn có của kỹ thuật, đối tượng nghiên cứu và mục
đích nghiên cứu của kỹ thuật là hoạt động thực tiễn của con ngưi. Sự ra đi của mỗi
máy móc hay công nghệ kỹ thuật mới bao gi cũng xuất phát từ nhu cầu của con
2.1.1. Bản chất của dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, ngưi ta quan tâm trước hết đến việc
chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đi sống xã hội, tôn trọng mục đích, nhu cầu, khả
năng, hứng thú và lợi ích học tập của học sinh. Do đó, nội dung dạy học phải được
thiết kế theo hướng đáp ứng nhu cầu thực tế của ngưi học hoặc theo yêu cầu của xã
hội đối với ngưi học, nghĩa là chú trọng các kỹ năng thực hành,vận dụng kiến thức,
năng lực giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt ra, hướng vào việc chuẩn bị tích cực cho
tìm kiếm việc làm. Phương pháp dạy học phải đảm bảo hướng vào, nhu cầu, khả năng,
hứng thú của học sinh, tức coi trọng việc rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học,
thông qua thảo luận, thí nghiệm, thực
hành, hoạt động tập dượt tìm tòi nghiên cứu, quan tâm khai thác vốn hiểu biết và kinh
nghiệm của học sinh. Hình thức tổ chức lớp học cũng được thay đổi linh hoạt phù hợp
với hoạt động học tập của học sinh do giáo viên tổ chức, hướng dẫn và điều tiết.Vì vậy
giáo án phải thiết kế nhiều phương án theo kiểu phân nhánh để giáo viên có thể điều
- 7 -
chỉnh liên tục theo tiến trình thảo luận của học sinh. Không khí lớp học linh hoạt, cởi
mở về mặt tâm lý. Học sinh và giáo viên cùng thảo luận các khía cạnh của vấn đề.
Giáo viên không chỉ trình bày cho học sinh nghe về giải pháp giải quyết vấn đề, mà
liên tục tạo ra các tình huống phát triển vấn đề để học sinh thảo luận giải quyết.
Như vậy, dạy học lấy học sinh làm trung tâm có thể coi là một cách tiếp cận quá
trình dạy học, một quan điểm chỉ đạo sự dạy học. Theo quan điểm này, ngưi giáo
viên phải vận dụng các phương pháp dạy học khác nhau để phát huy tính tích cực, tự
lực và hoạt động sáng tạo của học sinh, đặc biệt là các phương pháp dạy học tính cực.
Các phương pháp dạy học tích cực dựa trên cơ sở tâm lý học, cho rằng nhân cách của
trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động chủ động sáng tạo, thông
qua các hành động có ý thức của trẻ.
2.2. So sánh quan điểm dạy học truyền thống (lấy giáo viên làm trung tâm) và
quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
2.2.1. Về mục đích dạy học.
Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa hai quan điểm này.Trong dạy học truyền thống
song song với một hệ thống các thao tác và việc làm tương ứng để học sinh thực sự
hoạt động chiếm lĩnh tri thức. Tiến trình bài dạy sẽ không tuân theo các bước lên lớp
một cách máy móc, mà giáo viên phải linh hoạt tuân theo lôgic của quá trình học sinh
hoạt động chiếm lĩnh tri thức.
2.2.4. Về hình thức tổ chức dạy học.
Trong hình thức dạy học lấy giáo viên làm trung tâm, lớp học được tổ chức chủ
yếu trong các phòng học cố định.
Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, lớp học được tổ chức linh hoạt, có
thể trong phòng học, trong phòng thí nghiệm, ngoài tri hay tại địa điểm tham quan
- 9 -
nào đó. Học sinh ngồi xung quanh cùng thảo luận, tranh luận về một vấn đề học tập
nào đó do giáo viên đưa ra, thậm chí là một vấn đề do chính học sinh đề xuất.
2.2.5. Về vai trò của giáo viên.
Trong dạy học lấy giáo viên làm trung tâm, giáo viên giữ vị trí trung tâm của
lớp học nên hoàn toàn chủ động thực hiện một mạch kế hoạch bài dạy đã được chuẩn
bị sẵn, độc quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Trong dạy học học sinh làm trung tâm, không phải là hạ thấp vai trò của giáo
viên mà trái lại còn yêu cầu cao hơn nhiều. Giáo viên là ngưi đề xướng, gợi mở,
hướng dẫn, động viên, có vấn, trọng tài trong các hoạt động học tập tập thể của học
sinh, đánh thức năng lực tiềm tàng trong mỗi học sinh. Do đó giáo viên phải có trình
độ chuyên môn sâu, có kiến thức liên môn rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, có
đầu óc sáng tạo và nhạy cảm, biết sử lý, ứng sử một cách tinh tế, đồng thi biết sử
dụng các phương tiện dạy học, nhất là phương tiện nghe nhìn một cách thành thạo.
2.3. Một số ưu điểm khi sử dụng máy tính như một công cụ dạy học.
Thứ nhất: Sử dụng máy tính như một công cụ dạy học có thể khai thác được các điểm
mạnh của phương tiện này.
+ Khả năng biểu diễn thông tin: Máy vi tính có thể cung cấp thông tin dưới dạng
văn bản, đồ thị, hình ảnh, âm thanh… Tính tích hợp này của máy vi tính cho phép mở
rộng khả năng biểu diễn thông tin, nâng cao việc trực quan hoá tài liệu dạy học. Trong
môn KTCN việc trực quan hoá các vật thể, máy móc, các qúa
này thể hiện nhiều ưu điểm về mặt sư phạm như khuyến khích sự làm việc độc lập của
học sinh, đảm bảo mối liên hệ ngược và cá thể hoá quá trình này.
Thứ ba: Khi sử dụng máy vi tính làm chức năng phương tiện dạy học:
+ Trong quá trình dạy học, việc minh hoạ nội dung kiến thức bằng các ví dụ, hình ảnh
cụ thể là rất cần thiết. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến việc nắm vững tri thức một
cách chắc chắn và sâu sắc của học sinh. Về vấn đề này, việc sử dụng máy vi tính có
làm phương tiện có nhiều lợi thế.
- 11 -
+ Như trên đã phân tích, khả năng mô phỏng đối tượng của máy vi tính là rất lớn, kèm
theo số lượng thông tin lưu trữ là không nhỏ. Rõ ràng trong trưng hợp này,
ta có thể coi máy vi tính là một phượng tiện dạy học đa năng trong việc mô phỏng,
giải thích, cung cấp thông tin về một đối tượng nào đó, giúp cho giáo viên thực hiện
được mục đích sư phạm của mình.
Ngoài các ưu điểm chủ yếu trên máy tính còn được dùng để tạo ra các bài tập chắc
nghiệm sinh động giúp cho học sinh củng cố bài vững chắc hơn, đôi lúc có thể là một
quá trình công nghệ sản xuất cụ thể, hoặc tạo ra các trò chơi, qua đó học sinh vừa có
thể giải trí vừa học tập. Vượt ra ngoài việc học tập máy tính còn được sử dụng như
công cụ nghiên cứu khoa học và các công tác quản lý công tác nghiệp vụ vủa giáo
viên và của nhà trường.
3) Khảo sát tình hình giảng dạy và học tập môn KTCN tại trường THPT Bình
Yên.
3.1. Những thuận lợi.
Học sinh khối 11 cơ bản các em có mặt bằng kiến thức ở mức trung bình trở lên, hầu
hết các em đều có tư tưởng phấn đấu để thi vào đại học. Đa số học sinh đều có thiên
hướng thi vào các trưng, ngành kỹ thuật. Vì vậy môn KTCN đối với các em cũng có
nhiều hứng thú, vì nó không những giới thiệu được các ngành nghề kỹ thuật, mà còn
cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về các ngành nghề kỹ thuật trong lĩnh
vực sản xuất công nghiệp.
Ban giám hiệu, các đồng chí lãnh đạo nhà trưng rất quan tâm đến các công tác
giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Ngoài vấn đề chuyên môn các đồng
để dạy học.
4) Vận dụng trong dạy học môn KTCN tại lớp 11 trường THPT .
Bắt đầu từ tháng tôi bắt đầu tiến hành soạn nhiều giáo án điện tử và tổ chức giảng dạy
học sinh lớp 11 môn KTCN. Bằng việc sử dụng máy vi tính và máy chiếu Projector đã
cho thấy được những ưu điểm và khắc phục được rất nhiều hạn chế của việc giảng dạy
thông thưng trước đó, cụ thể:
- 13 -
4.1. Trực quan hóa được các bộ phận, chi tiết, quá trình… trên Động cơ đốt
trong và Ôtô.
+ Học sinh trong mỗi tiết học được quan sát cụ thể các bộ phận, chi tiết mà nội dung
tiết học đề cập đến. Từ đó học sinh dễ dàng tìm hiểu cấu tạo và tư duy… cũng như
nhận dạng nó trong thực tế.
+ Được quan sát trực tiếp vị trí lắp đặt các bộ phận, chi tiết đó trên động cơ hay Ôtô
cụ thể… Qua đó thấy được rõ hơn vị trí vai trò và nhiệm vụ mà bộ phận hay chi tiết đó
phải đảm nhận.
+ Học sinh được quan sát cụ thể nguyên lý làm việc, nguyên tắc hoạt động, các quá
trình diễn ra bên trong của các bộ phận, máy móc. Điều đó giúp cho các em
dẽ dàng hơn khi hình thành khái niệm, cũng như việc tư duy nhận thức được tốt hơn.
+ Thông qua việc sử dụng máy vi tính để giảng dạy. Giáo viên cũng có nhiều thi gian
hơn để giúp học sinh khắc sâu kiến thức, cùng với điều đó, kết hợp với phương thức
lên lớp của giáo viên, các em học sinh được hoạt động nhiều hơn thông qua đó khả
năng tư duy cũng phát triển tốt hơn.
+ Tạo ra một không khí học tập mới, học sinh cảm thấy hứng thú hơn khi vào tiết học,
lớp học sôi động hơn, giáo viên và học sinh gần gũi nhau hơn. Đặc biệt các em có
nhiều điều kiện để thể hiện những hiểu biết, nhận thức và suy nghĩ của bản thân mình.
4.2. Một số nhận định bước đầu.
+ Trước khi sử dụng máy vi tính và máy chiếu Projector số học sinh trong lớp hứng
thú với các tiết học KTCN là khoảng 65%. Nhưng khi việc giảng dạy có sử dụng
phương tiện máy vi tính thì số học sinh có hứng thú học đã tăng lên rất nhiều là
khoảng 93%.
Cuối học kỳ II
BIỂU ĐỒ SO SÁNH CHẤT LƯỢNG HỌC SINH QUA CÁC KỲ
- 15 -
0
10
20
30
40
50
60
1st Qtr 2nd Qtr 3rd Qtr
V. KẾT LUẬN
Việc học môn KTCN của học sinh từ xưa đến nay vốn gặp nhiều khó khăn, đòi
hỏi học sinh phải có hứng thú, niềm say mê, có tư duy trừu tượng, tư duy kỹ thuật,
tính thực tiễn, … Nhưng kết quả còn phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy
của giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ môn học của nhà trưng, quan điểm và tư tương
học tập của học sinh…nếu ngưi giáo viên biết cách tổ chức tốt quá trình dạy học,
linh hoạt vận dụng các phương pháp dạy học hợp lý, kết hợp với việc khai thác và sử
dụng tốt các phương tiện dạy học… Ngưi giáo viên phải biết cách làm đơn giản hoá
các kiến thức khoa học - kỹ thuật phức tạp, làm cụ thể hoá, trực quan hóa và phải luôn
gắn khoa học - kỹ thuật thật gần và thật thức tế với học sinh, tạo cho các em niềm say
mê, tinh thần ham học hỏi… Từ đó, học sinh mới yêu môn học và có thể có thành tích
tốt trong học tập.
- 16 -
Đầu năm
Cuối HK I
Cuối HK II
Loại Giỏi
Loại Khá
Loại Trung bình