Phần I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ là một môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những
quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và
tinh thần của con người. Nội dung trong sách giáo khoa (SGK) Công nghệ 10 là
những kiến thức cơ bản về nông, lâm, ngư nghiệp và tạo lập doanh nghiệp. Do đó
nếu người dạy không đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng cho học
sinh (HS) tìm tòi khám phá, từ đó tìm ra tri thức và tiếp nhận tri thức một cách chủ
động mà cứ giảng dạy theo phương pháp truyền thống sẽ gây nhàm chán cho học
sinh.
Xu hướng đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay là chuyển từ việc dạy học lấy giáo
viên (GV) làm trung tâm chuyển sang việc dạy học lấy HS làm trung tâm. Trước
đây, việc dạy học chủ yếu bằng hình thức truyền đạt tri thức từ người thầy giáo
nhưng PPDH hiện nay là phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS. Giáo viên chính là những người hướng dẫn, tổ chức, điều khiển cho HS để các
em tự lĩnh hội tri thức.
Ở nước ta, việc đổi mới PPDH đã diễn ra, nhất là trong thời gian gần đây. Tuy
nhiên vẫn còn tình trạng dạy học theo lối thầy đọc, trò chép,… người giáo viên ít
chú trọng đến vấn đề phát huy tính tự học của HS, ít khi đặt ra vấn đề mang tính
chất tìm tòi cho HS phát triển năng lực tư duy, tự học và tư nghiên cứu. Thực trạng
dạy học Công nghệ 10 ở trung học phổ thông (THPT) phần lớn vẫn còn trong tình
trạng chung như trên. Do đó, việc đổi mới PPDH Công nghệ 10 nhằm phát huy tính
tích cực, tự giác, sáng tạo, chủ động của HS là cấp bách và cần thiết.
Xác định được nhiệm vụ trên, đội ngũ giáo viên ở các cấp học đã không ngừng
đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, trong
đó phương pháp đóng vai được nhiều giáo viên lựu chọn.
Xuất phát từ những lý do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng phương
pháp đóng vai trong dạy học Bài 12. Đặc điểm, tính chất, kỹ thuật sử dụng một số
loại phân bón thông thường - Công nghệ 10” góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới
nội dung và PPDH theo hướng phát huy tính tích cực học tập của HS ở phổ thông.
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Hồng Tiến, Võ Tiến Dũng, Trần Thị Thu Sương…
Năm học 2010 - 2011
2
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Võ Tiến Dũng, Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị có bài “Hoạt động nhóm
và phương pháp đóng vai trong dạy học hóa học”.
Hoàng Văn Đoạt (2006), Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương với đề tài
“Vận dụng phương pháp thảo luận đóng vai, phương pháp giải quyết vấn đề trong
đổi mới dạy học môn giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở”.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, Số 5(40).2010, trang 195,
tác giả Trần Thị Thu Sương có bài viết “Sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy
học cho sinh viên hóa học”.
Như vậy việc sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học đã được nghiên
cứu từ khá sớm. Tuy nhiên việc sử dụng phương pháp đóng vai để cung cấp kiến
thức và rèn luyện cho HS các kỹ năng trong môn Công nghệ 10 còn nhiều hạn chế.
Đặc biệt chưa tìm thấy đề tài nào nghiên cứu việc sử dụng phương pháp đóng vai
trong nội dung bài 12. “Đặc điểm, tính chất, kỹ thuật sử dụng một số loại phân bón
thông thường - Công nghệ 10”. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài theo hướng trên là rất
cần thiết.
Năm học 2010 - 2011
3
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Phần II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những
phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt
động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh
- Khích lệ sự thay đổi, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức và
chính trị xã hội.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai
diễn.
- Phát huy được những kinh nghiệm thực tế và tư duy sáng tạo của từng cá
nhân cũng như sự phối hợp chặt chẽ của cá nhân với tập thể nhóm.
- Lớp học sinh động, người học tiếp thu kiến thức thông qua những hoạt động
tích cực trong "vai diễn" của họ.
1.3. Hạn chế của phương pháp đóng vai
- Mất nhiều thời gian.
- Phải suy nghĩ "kịch bản", "diễn viên"
- Đối tượng học sinh có tỷ lệ khá giỏi phải nhiều
- Nếu số lượng học sinh nhiều hiệu quả không cao.
1.4. Phương pháp tổ chức phương pháp đóng vai
Cách thức tiến hành phương pháp đóng vai thường theo các bước sau:
- Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm một cách
tương đối đơn giản, không quá phức tạp và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời
gian đóng vai.
- Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công sắm vai
- Thứ tự các nhóm đóng vai
- Các HS khác theo dõi phóng vấn, nhận xét, đánh giá, bổ sung (nếu cần). Cách
ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp ở điểm nào?
- Cuối cùng GV kết luận chốt lại về cách ứng xử cần thiết trong tình huống nên
sự cố gắng của HS và rút kinh nghiệm.
Năm học 2010 - 2011
5
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Cách thức tiến hành có thể tóm tắt bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1. Các bước tiến hành phương pháp đóng vai
nội dung SGK hay liên hệ thực tiễn. Chưa chú ý sử dụng các phương pháp phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
2.1.2. Việc học của học sinh
Qua thực tế giảng dạy cho thấy, chất lượng giờ dạy môn Công nghệ 10 chiếm
tỷ lệ trung bình rất cao. Hoạt động các em chủ yếu là nghe giảng, ghi chép chứ chưa
có ý thức phát biểu xây dựng bài. Một số em còn làm việc riêng trong giờ học, có
khi lớp 48-52 học sinh nhưng trong suốt giờ học chỉ tập trung 4-5 em phát biểu xây
dựng bài. Các em hầu như không có hứng thú vào việc học tập bộ môn Công nghệ
10.
Từ thực tế trên dẫn đến kết quả học tập bộ môn chưa cao. Số học sinh giỏi ít,
khá và trung bình nhiều, yếu vẫn còn. Qua thực tế giảng dạy nếu sử dụng các PPDH
phát huy tính tích cực như: thảo luận nhóm, phiếu học tập, sử dụng băng hình…
cùng với những câu hỏi tìm tòi, kích thích tư duy, gây tranh luận thì không khí học
tập sôi nổi hẳn, các em tích cực phát biểu xây dựng bài. Ngược lại, ở một số lớp
giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, đàm thoại tái hiện, thông báo… lớp học
trở nên trầm, ít học sinh phát biểu xây dựng bài.
2.2. Những nguyên nhân của thực trạng dạy và học Công nghệ 10 ở trường
THPT hiện nay
Giáo viên ngại áp dụng các phương pháp mới vào quá trình dạy học. Bởi để
dạy học theo các phương pháp mới phát huy được tính tích cực của HS đòi hỏi phải
đầu tư thời gian, trí tuệ vào việc soạn giáo án. Đồng thời giáo viên phải có năng lực
tổ chức, điều khiển quá trình dạy học. Đây là khó khăn đối với giáo viên hiện nay vì
một số trường chưa có giáo viên chuyên ngành kỹ thuật nông nghiệp. Ở một số
trường THPT chưa có đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động học tập của bộ môn
như: chưa có phòng thực hành bộ môn, chưa có các đồ dùng dạy học cần thiết…
Bên cạnh đó một nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng dạy và học Công
nghệ 10 hiện nay do môn này không được học sinh coi là môn học chính, vì không
thi tốt nghiệp, không thi đại học. Từ đó đã hình thành nên suy nghĩ buông lõng, thả
trôi trong ý thức học tập của học sinh.
Năm học 2010 - 2011
ít nguyên tố nhưng tỷ lệ chất dinh dưỡng cao nên chỉ cần bón lượng ít. Thứ hai, tôi
phần lớn dễ tan (trừ lân) nên cây dễ hấp thụ và cho hiệu quả nhanh. Tuy nhiên, tôi
lại có nhược điểm là bón nhiều và liên tục nhiều năm sẽ làm đất chua, do đó để sử
dụng tôi có hiệu quả bà con cần lưu ý một số vấn đề sau: Đạm, kali bón thúc là
chính. Lân (khó tan) chủ yếu bón lót. Đất dễ bị chua hóa nên cần kết hợp bón vôi
cải tạo.
Năm học 2010 - 2011
8
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Bà con lựa chọn tôi chính là đầu tư có hiệu quả, tôi hy vọng sẽ là người bạn
đưa lại năng suất cao cho các bác. Chúc bà con có một vụ mùa bội thu và thắng
lợi…”.
Ghi chú: Từ in nghiêng là nội dung chính được HS trình bày trên giấy A
0
.
GIÁO ÁN
Tiết PPCT 10. Bài 12: ĐẶC ĐIỂM, TÍNH CHẤT, KỸ THUẬT SỬ DỤNG
MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN THÔNG THƯỜNG
I. MỤC TIÊU
Sau bài học này, học sinh phải:
1. Về kiến thức: - Kể tên được một số loại phân bón thường dùng trong nông,
lâm nghiệp. Cho ví dụ từng loại.
- Nêu được đặc điểm và tính chất của một số loại phân bón thường dùng trong
nông, lâm nghiệp.
- Mô tả được cách sử dụng các loại phân bón và giải thích được cơ sở khoa học
của việc sử dụng. Nêu được ví dụ minh họa.
- Phân biệt được cách sử dụng phân hữu cơ và phân vi sinh.
2. Về kỹ năng: - Rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, trình bày trước lớp
3. Về thái độ: Có ý thức vận dụng được những hiểu biết về phân bón để tham
gia và vận động mọi người sử dụng phân bón hợp lý, tăng năng suất cây trồng, tăng
GV kết luận và vào bài mới: Như vậy, có rất nhiều loại phân bón khác nhau.
Muốn sử dụng có hiệu quả thì chúng ta phải hiểu đặc điểm, tính chất và cách sử
dụng của các loại phân đó. Để hiểu rõ các loại phân này chúng ta nghiên cứu bài
hôm nay (ghi bảng).
Thời
gian
Hoạt động của
giáo viên – học sinh
Nội dung chính
10’
8’
GV chia lớp làm 3 nhóm, cử nhóm
trưởng, thư ký và phát mỗi nhóm 1
bút xạ + 1 tờ giấy A
0
Nhóm 1: Tìm hiểu khái niệm, phân
loại, đặc điểm và cách sử dụng phân
hoá học.
Nhóm 2: Tìm hiểu khái niệm, phân
loại, đặc điểm và cách sử dụng phân
hữu cơ.
Nhóm 3: Tìm hiểu khái niệm, phân
loại, đặc điểm và cách sử dụng phân
vi sinh vật.
HS: làm việc theo nhóm, viết vào
giấy A
0,
cử người đóng vai.
- Đại diện nhóm 1 lên bảng “đóng
vai”
+ 3H
2
0 → AL(0H)
3
+ 3HCL
GV hỏi thêm: Vì sao đạm, kali bón
lót lượng nhỏ?Bón lượng lớn thì sao?
GV lấy ví dụ: Bón đạm nhiều sẽ cháy
lá
- Đại diện nhóm 2 lên bảng “đóng
vai”
HS khác bổ sung → GV tổng kết
? Kể tên một số loại phân hữu cơ mà
em biết.
quy trình công nghiệp, có sử dụng một
số nguyên liệu tự nhiên hoặc tổng hợp.
2. Phân loại
- Phân đơn nguyên tố: N, P, K…
- Phân đa nguyên tố: NPK…
3. Đặc điểm
- Chứa ít nguyên tố nhưng tỷ lệ chất
dinh dưỡng cao.
- Phần lớn dễ tan (trừ lân) → cây dễ hấp
thụ và cho hiệu quả nhanh.
- Bón nhiều và liên tục nhiều năm → đất
chua hoá
4. Cách sử dụng
- Đạm, kali bón thúc là chính
- Lân chủ yếu bón lót
- Đất dễ chua hóa → bón vôi cải tạo
11
K
Đ
K
Đ
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
8’
? Vì sao phân hữu cơ dùng bón lót là
chính? Bón thúc được không?
- Vì sao phải ủ hoai? Tác dụng?
- Đại diện nhóm 3 lên bảng “đóng
vai”
HS khác bổ sung → GV tổng kết
? Đặc điểm có liên quan gì đến cách
sử dụng.
chậm (lâu dài).
- Bón nhiều không hại đất mà có khả
năng cải tạo đất tốt.
- Nhiều nước nên sử dụng và khó vận
chuyển do đó phải ủ.
4. Sử dụng
- Bón lót là chính
VD: Bón lúc cày → bừa lấp đất
Bón thúc phải ủ hoai
III. PHÂN VI SINH VẬT
1. Khái niệm
- Là loại phân bón có chứa các loài vi
sinh vật.
khuyên?
2. Dặn dò: Về nhà học bài và chuẩn bị bài mới
Đối với bài này có thể sử dụng phương pháp đóng vai theo 3 cách sau đây:
Cách 2: Học sinh đóng vai là bà con nông dân 3 xã sử dụng 3 loại phân bón.
Cách này được tổ chức theo trình tự như sau:
Bước 1: Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm, tương ứng với bà con nông dân sử
dụng 3 loại phân bón của 3 xã là: A, B, C
+ Nhóm 1: xã A - Phân hóa học
+ Nhóm 2: xã B - Phân hữu cơ
+ Nhóm 3: xã C - Phân vi sinh vật
Mỗi nhóm cử nhóm trưởng, thư ký. Giáo viên yêu cầu trong thời gian 10 phút
cả nhóm cùng nghiên cứu, soạn thảo xây dựng “kịch bản”. Chọn 1 người làm dẫn
chương trình (MC) dưới hình thức tổ chức cuộc thi “Nhà nông đua tài” với chủ đề
về cách sử dụng phân bón.
Bước 2: Các nhóm thảo luận, xây dựng “kịch bản” và phân công đóng vai.
Bước 3: Đóng vai “kịch bản”. MC lần lượt mời đại diện 3 đội chơi trình bày về
cách sử dụng phân bón ở địa phương mình.
Bước 4: Cả 3 đội chơi cùng thảo luận. Các học sinh khác theo dõi, phỏng vấn,
nhận xét, bổ sung (nếu cần).
Bước 5: Giáo viên kết luận, nhận xét, đánh giá, tổng kết cuộc thi trao giải (động
viên).
Cách 3: Học sinh đóng vai là bà con nông dân 3 xã sử dụng 3 loại phân bón.
Cách này phân công nhóm giống cách 2 nhưng được tổ chức tương tự cách 1.
Cách 4: Học sinh đóng vai người dân đi mua 3 loại phân bón ở 3 cửa hàng
khác nhau.
Cách này được tổ chức theo trình tự như sau:
Năm học 2010 - 2011
13
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Năm học 2010 - 2011
14
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Sau khi bác An nghe lời tư vấn của 3 cơ sở, bác rất băn khoăn chưa biết lựa
chọn loại phân nào cho phù hợp. Giáo viên sử dụng tình huống mở này làm củng cố
bài học.
Em hãy cho bác An một lời khuyên?
HS tham gia trao đổi thảo luận đưa ra lời khuyên dựa vào nội dụng bài học và
sự hiểu biết của học sinh.
Giáo viên tổng kết, bổ sung, đánh giá.
Năm học 2010 - 2011
15
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Phần III. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Qua quá trình thực nghiệm, chúng tôi đã sử dụng phương pháp đóng vai theo
cách 1 vào dạy học bài 12. “Đặc điểm, tính chất, kỹ thuật sử dụng một số loại phân
bón thông thường – Công nghệ 10”.
Bài này được dạy song song cùng thời gian và chéo nhau với 2 loại giáo án:
- Giáo án thực nghiệm có sử dụng phương pháp đóng vai theo cách 1 vào soạn
bài và giảng dạy.
- Giáo án đối chứng không sử dụng phương pháp đóng vai.
Sau khi dạy xong bài, chúng tôi tiến hành kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến thức
của học sinh bằng hệ thống câu hỏi (đề kiểm tra 15 phút).
Bước đầu thu được kết quả cụ thể như sau:
3.1. Kết quả định lượng
- Lớp đối chứng (ĐC): 10A, 10B
- Lớp thực nghiệm (TN): 10C, 10D
Lớp Số
HS
Số học sinh đạt điểm x
Lớp TN (%) 0 0 0 1,92 7,70 15,38 32,70 19,23 21,19 2,88
Bảng 3. Bảng phân phối tần suất
Biểu đồ 1. So sánh tỷ lệ phân phối tần suất giữa TN và ĐC
Qua kết quả nghiên cứu ta thấy rằng, ở 2 lớp thực nghiệm tỷ lệ đạt điểm khá
giỏi đều cao hơn 2 lớp đồi chứng. Ngược lại, tỷ lệ điểm trung bình và dưới trung
bình của 2 lớp đối chứng lại cao hơn. Điều đó phần nào cho thấy học sinh 2 lớp thực
nghiệm tiếp thu kiến thức nhiều hơn và tốt hơn. Một trong những nguyên nhân đó
là: Ở lớp thực nghiệm, lớp học diễn ra nghiêm túc, học sinh hứng thú học tập, tích
cực, chủ động “đóng vai”, số lượng học sinh tham gia xây dựng bài nhiều làm cho
không khí lớp học sôi nổi kích thích sự sáng tạo, chủ động nên khả năng hiểu và nhớ
bài tốt hơn.
Còn ở lớp đối chứng, lớp học vẫn diễn ra nghiêm túc, học sinh vẫn chăm chú
tiếp thu bài giảng, nhưng các em tiếp thu thụ động về kiến thức, giáo viên sử dụng
phương pháp truyền thống như thông báo, giải thích nên quá trình làm việc thường
nghiêng về giáo viên.
3.2. Kết quả định tính
Qua quá trình phân tích bài kiểm tra ở 2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối chứng và
theo dõi trong suốt quá trình giảng dạy, tôi có những nhận xét sau:
- Ở 2 lớp đối chứng:
Năm học 2010 - 2011
17
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
+ Phần lớn học sinh chỉ dừng lại ở mức độ nhớ và tái hiện kiến thức. Tính độc
lập nhận thức không thể hiện rõ, cách trình bày rập khuôn trong SGK hoặc vở ghi
của giáo viên.
+ Nhiều khái niệm các em chưa hiểu sâu nên trình bày chưa chính xác, thiếu
chặt chẽ.
+ Việc vận dụng trí thức đối với đa số các em còn khó khăn, khả năng khái
quát hóa và hệ thống hóa bài học chưa cao.
+ Giờ học trầm lắng, kém hứng thú, các em vẫn trả lời câu hỏi nhưng chưa
đưa HS vào trung tâm của hoạt động dạy học. Thông qua phương pháp đóng vai, HS
trong nhóm và giữa các nhóm phát biểu ý kiến, tranh luận, bổ sung cho những người
“đóng vai” tạo không khí học tập rất tích cực, nâng cao hiệu quả tiếp thu, lĩnh hội tri
thức của HS.
- Kiến thức được cung cấp thêm, bổ sung và làm rõ SGK, đồng thời gắn với
thực tiễn nhiều hơn.
Do giới hạn về thời gian cũng như các điều kiện khác nên chúng tôi chưa thực
hiện thực nghiệm được trên quy mô lớn hơn. Chính vì thế mà kết quả thực nghiệm
chắc chắn chưa phải là tốt nhất.
Mặc dù vậy, qua thời gian giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng, việc sử dụng
phương pháp đóng vai vào dạy học Công nghệ 10 là điều rất cần thiết, góp phần
nâng cao hiệu quả giảng dạy, phát huy tính tích cực học tập của học sinh, đáp ứng
được yêu cầu đổi mới về nội dung và phương pháp trong dạy học hiện nay.
Năm học 2010 - 2011
19
GV: Nguyễn Doãn Hoàng Trường THPT Nguyễn Đổng Chi – Lộc Hà – Hà Tĩnh
Phần IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Từ những kết quả nghiên cứu chúng tôi rút ra những kết luận chính sau:
- Bước đầu hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng
phương pháp đóng vai trong dạy học Bài 12. “Đặc điểm, tính chất, kỹ thuật sử dụng
một số loại phân bón thông thường - Công nghệ 10”. Nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh.
- Hệ thống, phân tích được khái niệm, vai trò, ưu nhược điểm và một số lưu ý
khi sử dụng phương pháp đóng vai trong tổ chức dạy học Bài 12. “Đặc điểm, tính
chất, kỹ thuật sử dụng một số loại phân bón thông thường - Công nghệ 10”.
- Xây dựng được quy trình thiết kế và sử dụng phương pháp đóng vai gồm 5
bước trong dạy học Bài 12. “Đặc điểm, tính chất, kỹ thuật sử dụng một số loại phân
bón thông thường - Công nghệ 10” theo 4 cách khác nhau.
- Tiến hành thực nghiệm ở 4 lớp 10 A,B,C,D. Những kết quả bước đầu đã đánh
- Ngoài ra có thể nghiên cứu áp dụng phương pháp đóng vai vào dạy học mục I
và II bài 29. “Sản xuất thức ăn cho vật nuôi - Công nghệ 10”.
Do khả năng và thời gian có hạn nên kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở
những kết luận ban đầu và nhiều vấn đề chưa đi sâu. Vì vậy không thể tránh khỏi
những thiếu sót, do đó chúng tôi kính mong nhận được sự góp ý của quý vị để đề tài
dần hoàn thiện hơn.
Năm học 2010 - 2011
21