mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tìm hiểu thế giới xung quanh là nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ
mầm non nên hàng ngày trẻ luôn có những hành động tự mình tìm tòi khám
phá thế giới xung quanh để thoả mãn nhu cầu của bản thân. Tuy nhiên, việc tự
khám phá thế giới xung quanh của trẻ còn chưa mang lại hiệu quả, trẻ rất dễ bị
phân tâm bởi các hoạt động khác hay trẻ chưa phát huy được hết tính sáng tạo
của bản thânnếu không có sự hướng dẫn của giáo viên. Vì vậy để việc tìm
hiểu thế giới xung quanh đạt được chất lượng tốt thì giáo viên cần phải phát
huy được TTC của trẻ trong hoạt động này.
TTC là phẩm chất vốn có của con người trong xã hội. Hình thành và
phát triển TTC trong xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo
dục. Điều 5 Luật Giáo dục năm 2005 ghi rõ phương pháp giáo dục phải phát
huy được TTC, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng
năng lực tự học , kĩ năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
TTC biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình
học tập, nghiên cứu, thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động cao
các chức năng tâm lý nhằm đạt được mục đích đề ra với chất lượng cao. Nâng
cao TTC, tính độc lập trong hoạt động nhận thức là một yêu cầu cơ bản để đào
tạo ra những con người tự chủ, năng động, sáng tạo. Như vậy có thể coi TTC
là điều kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trẻ.
CTLQVMTXQ ở trường mầm non vừa là điều kiện, phương tiện, vừa là
mục tiêu nhưng đồng thời cũng là đối tượng để trẻ nghiên cứu. Vì thế, ta có
thể phát huy TTC của trẻ thông qua nhiều chủ đề với nhiều nội dung và hoạt
động khác nhau song thông qua chủ đề giới thực vật thì TTC của trẻ được
phát huy nhiều nhất bởi thế giới thực vật rất gần gũi, đa dạng... luôn kích thích
tính tò mò, sự hiểu biết và óc tưởng tượng, sáng tạo của bản thân trẻ. Ngoài ra
1
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và hệ thống hoá các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
4.2.1 Phương pháp điều tra
Tiến hành điều tra đối với 100 giáo viên thuộc thị xã Phúc Yên và thành
phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc để làm sáng tỏ thực trạng về việc sử dụng các
phương pháp, phương tiện dạy học ở mầm non và thực trạng nhận thức của
giáo viên về các vấn đề dạy học phát huy TTC của trẻ.
4.2.2 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi, trò truyện với giáo viên và một số trẻ để tìm hiểu các thông tin
liên quan.
4.2.3 Phương pháp quan sát
Dự giờ các tiết học thực nghiệm và đánh giá về các biểu hiện TTC của trẻ.
4.2.4 Phương pháp thống kê toán học
3
nội dung
CHƯƠNG 1:
CƠ Sở Lý LUậN Và THựC TIễN CủA Đề TàI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số đặc điểm của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
1.1.1.1 Một số đặc điểm thể chất của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Những chỉ số phát triển bình thường của giai đoạn này như sau:
Chiều cao
rãnh nước... Thông qua các hình thức này, các kĩ năng được củng cố và phát
triển và các tố chất: sức bền, dẻo, linh hoat... được hình thành.
1.1.1.2 Một số đặc điểm sinh lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh. ở độ tuổi
này, tim của trẻ có trọng lượng nặng gấp 5 lần lúc mới sinh. Tim trẻ đập nặng
gấp 5 lần lúc mới sinh. Tim trẻ đập chậm hơn so với các lứa tuổi trước nhưng
vẫn còn khá nhanh so với người lớn.
Thành phần máu của trẻ 5-6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất,
huyết sắc tố 80-90%, hồng cầu 4,5-5 triệu đơn vị, bạch cầu 7-10 nghìn, tiểu
cầu 200-300 nghìn.
Hệ thần kinh: Sự hoạt động của trẻ ở 5-6 tuổi là thời kì phát triển nhanh
rõ nhất trong cả đời người. Kết cấu thần kinh ở não có xu thế sớm trưởng thành.
Song ở lứa tuổi này do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa ổn
định nên nếu trẻ làm gì đơn thuần và kéo dài và đơn thuần sẽ bị mệt mỏi.
Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa đầy đủ như
ở người lớn. Vì vậy trẻ phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ lượng o-xy cần thiết.
Càng nhỏ, nhịp thở càng nhanh và nông (khoảng 20-25 lần trên một phút).
Như vậy ở thời kỳ này các cơ quan và hệ cơ quan của trẻ phát triển
mạnh nên người lớn cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, rèn luyện cơ
thể trẻ giúp cho các cơ quan và hệ cơ quan phát triển. Đây chính là điều kiện
giúp trẻ cảm nhận và khám phá môi trường xung quanh.
1.1.1.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ mẫu giáo lớn
Độ tuổi mẫu giáo lớn giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở tuổi mầm non
tức là lứa tuôỉ trước khi đến trường phổ thông. ở giai đoạn này, những quá
trình tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là
trong độ tuổi mẫu giáo lớn vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Tâm lý của trẻ phát
triển theo các hướng sau:
Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày
5
Trẻ 5-6 tuổi, số lượng câu đơn mở rộng chiếm tới 85%. Ngoài ra các
kiểu câu ghép trong lời nói của trẻ cũng tăng lên. Đặc biệt là khi kể lại
chuyện, số lượng câu đơn mở rộng chiếm tới 85%. Ngoài ra các kiểu câu ghép
trong lời nói của trẻ cũng tăng lên. Đặc biệt khi kể lại chuyện sáng tạo thì trẻ
sử dụng câu ghép với tỉ lệ cao nhất (25,2%).
Sự lĩnh hội ngôn ngữ còn được quyết định bởi TTC của bản thân đứa trẻ
đối với ngôn ngữ. Những đứa trẻ mà thích giao tiếp, tích cực tìm hiểu các hiện
tượng ngôn ngữ (tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của ý thức) thì không
những hiểu được từ ngữ và nắm ngữ pháp một cách rõ ràng mà còn sáng tạo
ra những từ ngừ ngữ những cách nói mà chưa hề có trong ngôn ngữ của người
lớn. Như trường hợp của bé Thuý Giang, Thuý Giang đã làm bài thơ đầu tiên
vào lúc gần 6 tuổi:
Cái vườn nho nhỏ
Cô giáo đến chơi
Cô đưa võng nhỏ
Ru chú mặt trời.
(bài Cái vườn) [12]
Hay em Ngô Thị Bích Hiền làm bài thơ lúc em 5 tuổi:
Ông mặt trời óng ánh
Toả sáng hai mẹ con
Bóng em và bóng mẹ
Dắt nhau đi trên đường
Ông mỉm cười nhìn em
Em mỉm cười nhìn ông
Ông ở trên trời nhé
Cháu ở dưới này thôi! [12]
Ngoài ra trẻ còn hiểu được từ và nguồn gốc của nó.
- Sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc
tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng mới, đó là việc nảy sinh các yếu
8
tố của tư duy lôgíc, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ được nâng lên một
trình độ mới, cao hơn.
Nhìn chung đứa trẻ trước khi bước vào lớp một đã có khả năng nắm
được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát âm của người lớn
(tuỳ theo từng địa phương có giọng nói như thế nào thì trẻ sẽ nói như vậy),
biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ
thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật tinh vi nhất về phương diện
cú pháp phức tạp và phương diện tu từ, nói năng mạch lạc và thoải mái. Tóm
lại trẻ đã nắm vững được tiếng mẹ đẻ.
Trong những phong cách ngôn ngữ thì trẻ mẫu giáo lớn chủ yếu là nắm
vững được phong cách sinh hoạt và ở mức độ nào đó là phong cách nghệ
thuật. Tuy nhiên trên thực tế trẻ mẫu giáo lớn vẫn còn nhiều em còn mắc các
tật nói ngọng, nói câu không đủ thành phần, dùng từ sai. Vì vậy việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn là một trong những nhiệm vụ quan trọng để
chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp một. Muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ có hiệu
quả thì cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và toàn xã
hội. Trong đó trường mầm non giữ một vai trò quan trọng. Trước hết cần phải
cung cấp vốn từ cho trẻ, giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ và khuyến khích trẻ
hoạt động lời nói một cách tích cực. Giáo viên cần tạo mọi điều kiện để trẻ
diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý kiến, nguyện vọng của mình đồng thời cần uốn
nắn kịp thời ngôn ngữ mạch lạc của trẻ. Tức là luôn luôn thực hiện nhiệm vụ
phát triển lời nói mạch lạc gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ còn lại của
phát triển lời nói: làm giàu và tích cực hoá vốn từ, hình thành cấu trúc ngữ
pháp, giáo dục chuẩn mực âm thanh lời nói. Đây cũng chính là điều kiện để
thúc đẩy tư duy của trẻ phát triển.
Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý
vào đối tượng nhất định.
10
Cùng với đó, ghi nhớ của trẻ cũng có tính chủ định nhiều hơn do sử
dụng một số phương thức như nhắc lại hay liên hệ lại các sự kiên với nhau do
người lớn gợi ý cho. Tuy nhiên cho tới cuối tuổi mẫu giáo lớn các quá trình
tâm lý không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong hoạt động tâm lý trẻ, ngay cả
trong hoạt động trí tuệ. Điều đó giải thích cho việc các tiết học ở trường mẫu
giáo không thể diễn ra trong thời gian dài như ở trường phổ thông và buộc
phải tập trung để ghi nhớ và quan sát.
ở độ tuổi này việc đặt ra các mục đích hành động và lập kế hoạch để
thực hiện hành động thường được thể hiện rất rõ. Cũng ở dộ tuổi này bên cạnh
trò chơi đóng vai theo chủ đề còn xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật, hành
động tâm lý bên trong được biến đổi rõ rệt, từ quá trình tâm lý không chủ định
chuyển sang quá trình tâm lý có chủ định như: tri giác có chủ định, chú ý có
chủ định, ghi nhớ có chủ định...
Do sự xác định ý thức bản ngã được rõ ràng hơn và các quá trình tâm lý
không chủ định chuyển dần sang các quá trình tâm lý mang tính chủ định, làm
cho các hành động ý chí của trẻ ngày càng bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui
chơi và cuộc sống.
Trong sự phát triển các hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn có thể
thấy được tính mục đích của hành động, thứ hai là sự xác lập mối quan hệ giữa
mục dích của hành động với động cơ và thứ ba là tăng cường vai trò điều
chỉnh của ngôn ngũ trong việc thực hiện các hành động.
Như vậy sự xuất hiện của sự tự ý thức và tính chủ định trong tâm lý của
trẻ mẫu giáo lớn là điều rất quan trọng vì vậy trong phạm vi sinh hoạt hàng
ngày cần rèn luyện cho các em có thói quen vệ sinh cá nhân, nhưng hành vi văn
hoá, vệ sinh nơi công cộng và một số thói quen giữ gìn sức khoẻ. Bên cạnh đó
chúng, biểu hiện nảy sinh các yếu tố tư duy lôgic, tất nhiên là phải có sự dạy
dỗ đặc biệt.
Cuối tuổi mẫu giáo trẻ lĩnh hội được các chuẩn (về màu sắc lấy chuẩn 7
màu trong quang phổ, về âm thanh lấy chuẩn 7 nốt trong một thang nhạc (ở
12
phương Tây) hay 5 nốt (ở Châu á)...). Nhờ đó trẻ em tách biệt được trong số
các biến dạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được
dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính vô cùng đa dạng xung
quanh với các chuẩn. Nhờ đó mà tư duy của trẻ chuyển dần sang một giai
đoạn cao hơn.
Như vậy chúng ta cần hiểu rằng trong thang bậc phát triển tâm lý chung
thì tư duy lôgic đứng cao hơn tư duy trực quan hình tượng song như thế hoàn
toàn không có nghĩa là chúng ta phải cố gắng thúc đẩy trẻ em chuyển sang
hiểu tư duy lôgic. Tư duy hình tượng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo
ngay cả trong nghiên cứu của các nhà khoa học. Chúng ta cần phải phát triển
tư duy hình tượng ngay cả đối với trẻ mẫu giáo lớn. Thông qua các trò chơi,
qua tiết học, trong sinh hoạt hàng ngày hay tham quan giáo viên cần gợi
mở, khuyến khích để trẻ phát quan sát, tập phân tích, so sánh, khái quát... Tổ
choc cho trẻ trực tiếp quan sát, tự mình phân tích, so sánh, khái quát và đánh
giá từ đó sẽ phát triển các thao tác của trí tuệ, các quá trình của tư duy. Bên
cạnh đó cần quan tâm tới tư duy trừu tượng của trẻ, chỉ cần sử dụng để giới
thiệu với trẻ một số khái niệm thật đơn giản (hay tiền khái niệm) cần thiết cho
việc làm quen với thế giới xung quanh. Cần tránh cho trẻ quá sớm đi vào tư
duy lôgic theo kiểu người lớn, khôn trước tuổi, điều đó sẽ làm mất đi tính
ngây thơ hồn nhiên và tính mềm dẻo của trí tuệ.
1.1.2 Một số vấn đề về MTXQ và CTCTLQVMTXQ
1.1.2.1 Một số vấn đề về MTXQ
1.1.2.1.1 Khái niệm về MTXQ
quán quen thuộc. Thực vật không chỉ có liên quan với các yếu tố của sự sống
con người mà còn trực tiếp tác động vào đời sống con người. Thực vật là thức
ăn nuôi sống con người, là nguyên liệu của ngành sản xuất, là nguồn dược
liệu để chữa bệnh cho con người và tô điểm cho cuộc sống tươi đẹp hơn, làm
cho cuộc sống của chúng ta thêm phong phú hơn.
14
Thiên nhiên vô sinh là điều kiện, phương tiện để hỗ trợ cho các động
vật, thực vật phát triển. Thiên nhiên vô sinh bao gồm các điều kiện về đất,
nước, không khí, ánh sáng, khí hậu bao quanh sinh vật, ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến trạng thái, sự phát triển khả năng sống, sự sinh sản... của
sinh vật. Các điều kiện này luôn luôn thay đổi để thích nghi với thay đổi của
môi trường.
Đối với trẻ em, thiên nhiên là một trong những đối tượng và phương
tiện quan trọng để phát triển toàn bộ nhân cách đứa trẻ. Thiên nhiên làm cho
trẻ thích thú, chú ý, quan tâm đến xung quanh hơn. Thiên nhiên giúp phát
triển năng lực quan sát, trí thông mình và vốn sống thực tiễn của trẻ.
Vì vậy, chúng ta cần giáo dục trẻ có thái độ ứng xử đúng đắn với môi
trường thiên nhiên xung quanh bằng những lời nói, hành động và việc làm cụ
thể, phù hợp với lứa tuổi để trở thành một trong những lực lượng tích cực góp
phần bảo vệ môi trường đang bị suy thoái.
Thứ hai: Môi trường xã hội
Xã hội là gì? Xã hội là một cộng đồng người có cùng chung một lịch sử
và ngôn ngữ. Các Mác nói: Xã hội sinh ra, tồn tại và phát triển được là do
hoạt động của con người có ý thức, có ý chí và luôn theo đuổi những mục đích
nhất định.
Con người hoạt động tạo nên xã hội, nhưng con người lại luôn chịu sự
chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, dân tộc và truyền thống.
- Quê hương, đất nước: Quê hương, đất nước là nơi trẻ sinh ra và lớn lên,
nơi đây bao hàm những phong tục tập quán, những nét văn hóa truyền thống.
Khi những phong tục tập quán lành mạnh và tiến bộ, mối quan hệ giữa người người hài hoà, giữa con người và thiên nhiên thân thiện thì sẽ tạo điền đề và cơ
hội cho mỗi cá nhân phát triển. Vì vậy, cần cho trẻ làm quen với những giá trị
truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương để trẻ thêm yêu quê
hương, đất nước mình, biết tự hoàn thiện nhân cách của bản thân.
Thứ ba: Môi trường nhân tạo
16
Thế giới đồ vật, phương tiện giao thông... những yếu tố đó vừa phản ánh
khoa học kĩ thuật, lại vừa phản ánh trình độ văn hoá của một xã hội trong một
giai đoạn lịch sử. Dạy trẻ tìm hiểu các yếu tố của môi trường nhân tạo chính là
việc giáo dục trẻ biết yêu quý lao động, quý trọng các sản phẩm của lao động,
có cái nhìn đúng đắn về các dạng lao động khác nhau trong xã hội. Môi
trường nhân tạo nhằm phục vụ cuộc sống của con người và con người cũng
cần có ý thức, trách nhiệm với môi trường nhân tạo.
1.1.2.2 Một số vấn đề về chương trình CTLQVMTXQ
1.1.2.2.1 Nội dung chương trình CTLQVMTXQ của trẻ MG 5- 6 tuổi
Theo sách Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi (theo nội dung đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo
dục) của Bộ GD - ĐT, Vụ GDMN - Trung tâm nghiên cứu GDMN ban hành
năm học 2004 - 2005. Nội dung chương trình CTLQVMTXQ thiết kế bao
gồm 8 chủ điểm và các bài được thống kê theo bảng sau:
STT
1
Chủ điểm
Trường mầm non
- Một số con vật nuôi trong gia đình
- Một số động vật sống dưới nước
4
Thế giới động vật
(4 tuần)
- Một số vật nuôi sống trong rừng
- Một số con côn trùng
- ôn tập thế giới động vật
5
Tết và mùa xuân
(2 tuần)
- Tết nguyên đán
- Mùa xuân
- Cây xanh và môi trường sống
6
Thế giới thực vật
(4 tuần)
- Một số loại hoa
- Một số loại quả, hạt phổ biến
- Một số loại rau phổ biến
hóa những biểu tượng cũ
18
Biểu tượng đã có là cơ sở của những biểu tượng mới vì vậy trước khi
cung cấp những biểu tượng mới cần phải củng cố những biểu tượng cũ. Lấy đó
làm căn cứ để cung cấp những biểu tượng mới. Hơn thế nữa, trẻ em từ lọt lòng
đến 6 tuổi, khả năng ghi nhớ chưa bền vững nên trẻ nhanh quên nên phải củng
cố và làm chính xác hoá những biểu tượng cũ.
- Mở rộng những hiểu biết cho trẻ về tự nhiên, xã hội, con người và thế
giới đồ vật
Thế giới xung quanh rất đa dạng và phong phú, muôn hình, muôn vẻ.
Ngoài việc cung cấp những biểu tượng mới, làm chính xác những biểu tượng
cũ thì mở rộng sự hiểu biết cho trẻ cũng là một trong những nhiệm vụ quan
trọng của thầy,cô giáo cũng như của người lớn nói chung. Muốn mở rộng hiểu
biết cho trẻ, cần tổ chức cho trẻ hoạt động nhận biết những sự vật và hiện
tượng mới lạ, động thời khám phá những mối quan hệ đơn giản giữa chúng.
- Cần giúp trẻ tích luỹ vốn kiến thức một cách hệ thống, tổng hợp và
khái quát. Trong khi tổ chức cho trẻ LQVMTXQ cần giúp trẻ gọi tên chính
xác sự vật, hiên tượng; nhận biết những dấu hiệu bề ngoài cơ bản có ý nghĩa
trong việc xác định đối tượng và mối liên quan giữa đối tượng - đối tượng, mối
liên quan đối tượng - con người...
Thứ hai: Về kĩ năng
- Phát triển các thao tác tư duy, các quá trình tâm lý
Khi tổ chức cho trẻ LQVMTXQ giáo viên cần cho trẻ biết so sánh sự
giống và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng; biết phân nhóm, phân loại
sự vật hiện tượng; biết tìm ra các môí quan hệ đơn giản giữa các sự vật, hiện
tượng... nhằm dạy trẻ tiến hành các thao tác tư duy, rèn luyện khả năng phân
tích, tổng hợp, so sánh và khái quát hoá sự vật, hiện tượng xung quanh.
Trong quá trình đó, cô cần tạo điều kiện để trẻ được hành động trực tiếp với
môi trường tự nhiên và xã hội. Tuỳ từng nội dung và từng lứa tuổi của trẻ nên
đặt ra các nhiệm vụ giáo dục đạo đức thật cụ thể. Những vấn đề quan trọng
nhất là giáo dục cho trẻ cái tâm tốt với môi trường sống: trẻ không tham lam,
20
không ích kỉ, biết sống nhân hậu với con người, động vật và cỏ cây hoa lá;
sống hoà đồng, gần gũi và gắn bó với môi trường sống xung quanh.
- Hình thành và rèn luyện thói quen và kĩ năng cần thiết; hành vi văn
hóa, văn minh như: các thói quen vệ sinh, thói quen lễ phép trong giao tiếp, kĩ
năng lao động tự phục vụ, chăm sóc cây cối và các kĩ năng học tập.
Ngoài ra còn giáo dục dinh dưỡng, giáo dục sức khoẻ... giúp hình thành
ở trẻ một số khả năng tự phục vụ bản thân.
1.1.3 Một số vấn đề dạy học theo phương hướng phát huy tính tích cực
nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn
Điều 4: Luật Giáo dục Việt Nam 2005 đã nêu rõ nhiệm vụ quan trọng
của sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung và chuyên ngành phương pháp giảng
dạy nói riêng: "Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ
động của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê tự học và ý chí
vươn lên".
Như vậy tính tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ luôn là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục mầm non trong quá
trình dạy học. Vì vậy nó luôn là vấn đề quan trọng trong lý luận và thực tiễn
dạy học được các nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu trao đổi và bàn luận.
1.1.3.1 Tính tích cực
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con người trong đời
sống xã hội. Khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có
trong tự nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của xã hội, tạo nền văn hoá ở mỗi thời đại, chủ động cải
tiến môi trường tự nhiên và cải tạo xã hội.
các tác giả V.Ia.Roma nov, X.Đ.Xmiôv cho rằng TTC chính là tính chủ động
của chủ thể, TTC thể hiện chức năng chỉ bảo hoạt động của con người.[11]
22
Quan điểm cuối cùng là xem TTC của nhân cách là khả năng của con
người tiến hành việc cải tạo thế giới mang ý nghĩa xã hội trên cơ sở tiếp thu sự
giàu có của nền văn hoá vật chất và tinh thần, được thể hiện trong sự sáng tạo
trong giao tiếp, trong các hành động ý chí.[11]
Trên cơ sở phân tích những quan điểm trên, chúng ta có thể thấy rằng,
TTC là phẩm chất quan trọng của nhân cách, là thái độ cải tạo, biến đổi của
chủ thể đối với thế giới xung quanh. TTC gắn liền với hoạt động, là thuộc tính
của sự tự vận động của hoạt động. TTC luôn mang tính chủ động, nó đối lập
với tính bị động, động cơ, nhu cầu và hứng thú hoạt động chính là nguồn gốc
bên trong của TTC, là động lực thúc đẩy con người hoạt động TTC cần phải
được định hướng đúng đắn, phải nhằm phục vụ cho những mục đích tốt đẹp,
cao cả thì hoạt động của con người mới có giá trị đích thực, mới đem lại lợi
ích cho bản thân và xã hội. Nói tính cách này được giáo dục ngay từ bé bằng
cách tạo ra những tình huống để trẻ em tự tìm cách thoả mãn đòi hỏi của
mình, đôi khi người lớn có thể mách bảo, nhưng tránh lối làm thay tạo cho trẻ
thói ỷ lại, thụ động chờ đợi, kết quả của mỗi lần tự làm như vậy sẽ động viên
trẻ hăng hái tự lập, giải quyết các nhu cầu của mình và dần dần chủ động tham
gia vào công việc chung của gia đình, tập thể. Để duy trì liên tục TTC cần có
sự theo dõi và đánh giá của người lớn và tập thể cả khi trẻ làm việc thành công
cũng như gặp khó khăn hay thất bại.
Như vậy hình thành và phát triển TTC là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của ngành giáo dục đào tạo nhằm đào tạo ra những con người năng
động, thích ứng và góp phần vào sự phát triển xã hội, có thể xem TTC là điều
kiện đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
TTC được thể hiện thông qua nhiều hoạt động và trong hoạt động học tập TTC
rằng TTCNT của trẻ mẫu giáo như là một phẩm chất tâm lý cá nhân của trẻ
trong hoạt động nhận thức, thể hiện thái độ tích cực nhận thức của trẻ đối với
25