i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐĂNG THỊ TUYẾN
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG PHẦN "DAO ĐỘNG CƠ" CHƢƠNG
TRÌNH VẬT LÝ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƢỚNG
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NGƢỜI HỌC Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Vật lý)
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM VẬT LÝ
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS. TÔN TÍCH ÁI
2. TS. TÔN QUANG CƢỜNG
HÀ NỘI - 2010
: Trung học phổ thông
: Thực nghiệm
: Thực nghiệm sư phạm
: Trung ương iv
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục tiêu nghiên cứu
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu
3
5. Vấn đề nghiên cứu
3
6. Giả thuyết khoa học của đề tài
3
7. Phương pháp nghiên cứu đề tài
3
8. Đóng góp của đề tài
4
13
1.4.2. Khái quát về BGĐT
14
1.5. Xây dựng bài giảng điện tử
23
1.5.1. Những yêu cầu chung
23 v
1.5.2. Các phần mềm sử dụng trong thiết kế bài giảng điện tử
23
1.5.3. Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
24
Kết luận chương 1
27
Chƣơng 2: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ DẠY
HỌC PHẦN “DAO ĐỘNG CƠ” CHƢƠNG TRÌNH VẬT LÝ 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29
2.1. Tìm hiểu tình hình dạy học chương dao động cơ ở trường trung
học phổ thông
29
2.1.1. Nội dung tìm hiểu
29
2.1.2. Phương pháp điều tra tìm hiểu
54
2.4.2. Đối với học sinh
62
Kết luận chương 2
62
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
64
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
64
3.2. Đối tượng và phương thức thực nghiệm sư phạm
65
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm (TNSP)
65
vi
3.2.2. Phương thức thực nghiệm sư phạm
65
3.3. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
66
3.3.1. Phân tích định tính diễn biến các giờ học trong quá trình TNSP
66
3.3.2. Kết quả thực nghiệm sư phạm của các lớp TN và ĐC
72
Kết luận chương 3
80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
83
quyết Trung ương 4 khóa VII, nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, và được
thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Luật giáo dục, điều 28.2 đã chỉ rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kỹ
năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Một trong những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục được thực
hiện theo định hướng tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị
dạy học và đặc biệt lưu ý đến những công nghệ thông tin. Theo quan điểm
thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có sự tái tạo
và phát triển thông tin; dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá
trình trên một cách có hiệu quả. Để đổi mới phương pháp dạy học, người ta
tìm những “phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh
hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”. Phát huy vai trò của người thầy trong quá
trình sử dụng CNTT không “thủ tiêu” vai trò của người thầy mà trái lại còn
phát huy hiệu quả hoạt động của thầy trong quá trình dạy học.
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu
việc đổi mới phương pháp giáo dục theo quan điểm ứng dụng CNTT và
truyền thông như phần mềm hỗ trợ giảng dạy, minh họa trên lớp với máy
chiếu; phần mềm dạy học giúp học sinh học trên lớp và ở nhà; công nghệ
kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy vi tính; sử dụng mạng Internet,
thiết bị đa phương tiện để dạy học… Tuy nhiên, việc sử dụng CNTT trong
dạy và học vật lý với tư cách là một phương pháp dạy học có tác dụng tích 2
cực tới việc giáo dục và phát triển tư duy của học sinh, đồng thời là thước đo
thực chất đúng đắn sự nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh thì
chưa có nhiều công trình nghiên cứu.
người học trong lý thuyết kiến tạo.
- Xây dựng qui trình thiết kế BGĐT: Sử dụng phần mềm VNUCE (để
đóng gói bài giảng điện tử).
- Điều tra, khảo sát thực trạng áp dụng CNTT trong dạy học Vật lí ở
trường THPT Quốc Oai.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo tiến trình dạy học đã soạn thảo
để đánh giá hiệu quả của sản phẩm.
4. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Tính hiệu quả của việc áp dụng BGĐT nhằm tích cực hóa người học.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn vật lý chương “Dao
động cơ” của giáo viên và học sinh lớp 12.
5. Vấn đề nghiên cứu
Thiết kế bài giảng điện tử phần “Dao động cơ” như thế nào để hỗ trợ
dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học?
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống BGĐT có tính sư phạm, có tính khoa học,
áp dụng các quan điểm dạy học hiện đại thì quá trình tổ chức dạy học sẽ kích
thích được hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được triển khai theo những phương pháp sau: 4
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu tài liệu về tâm lý học, về lý luận dạy học nói chung và tài
liệu về lý luận dạy học vật lý nói riêng có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Dao động cơ” theo chương
trình sách giáo khoa Vật lý lớp 12 trung học phổ thông.
- Nghiên cứu một số phần mềm: Office (word, powerpoint), Vnuce,
đòi phải đổi mới mục tiêu giáo dục, nhằm đào tạo ra những con người có
những phẩm chất mới. Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho
học sinh những kiến thức công nghệ mà nhân loại đã tích lũy được mà còn
phải bồi dưỡng cho họ tính năng động cá nhân phải có tư duy sáng tạo và
năng lực thực hành giỏi. Nghị quyết hội nghị BCH TW Đảng Cộng sản Việt
Nam, khóa VIII đã chỉ rõ: “nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng
con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý trí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa
dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng
của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích
cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy
sáng tạo, có kĩ năng thức hành giỏi, có phong cách công nghiệp, có tính tổ
chức kỉ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội
vừa hồng vừa chuyên như lời căn dặn của Bác Hồ”.
Đổi mới PPDH hiện nay được chú trọng đến những vấn đề sau:
- Khắc phục lối truyền thụ một chiều.
- Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh.
- Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. 6
- Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại
vào quá trình dạy học
1.2. Dạy học theo định hƣớng tăng cƣờng tính tích cực của ngƣời học
1.2.1. Dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo
Dạy học các môn khoa học ở nhà trường không chỉ đơn thuần nhằm
một mục tiêu duy nhất là giúp cho HS có được một số kiến thức cụ thể nào
đó. Điều quan trọng hơn là trong quá trình dạy học các tri thức cụ thể đó, rèn
luyện cho HS tiềm lực để khi ra trường họ có thể tiếp tục tự học tập, có khả
thuần là việc tái hiện, lặp lại các kiến thức và cách thức hoạt động quen
thuộc sẵn có.
Bởi vậy trong dạy học môn khoa học, GV cần tổ chức được những tình
huống có vấn đề. Đó chính là việc tổ chức những tình huống trong đó xuất
hiện vấn đề cần giải quyết mà HS tự thấy mình có khả năng tham gia giải
quyết, và do đó sẽ suy nghĩ đưa ra giải pháp riêng của mình, tự tìm tòi cách
giải quyết thích hợp. Chính trong điều kiện đó, với sự giúp đỡ định hướng của
GV, HS sẽ xây dựng được cho mình những tri thức khoa học sâu sắc, vững
chắc và vận dụng được, đồng thời qua quá trình đó năng lực trí tuệ của HS sẽ
phát triển.
1.2.1.3. Huy động vốn kiến thức, kinh nghiệm của người học
Tri thức mới được xây dựng dựa trên những tri thức đã có và đồng thời
phải đối chọi lại với các quan niệm đã có nhưng lại là trở lực đối với sự hình
thành tri thức mới. Tri thức mới, với ý nghĩa đúng đắn của nó, chỉ có thể thực
sự được xác lập, hoà nhập vào vốn hiểu biết riêng của HS, khi mà nó được
xây dựng trên cơ sở tri thức đã có của HS, đồng thời làm biến đổi và khắc
phục được các quan niệm cũ, cách hiểu cũ sai lệch, trái ngược với nó. 8
Bởi vậy trong dạy học cần nghiên cứu các quan niệm hoặc cách hiểu
sai lầm vốn có của HS có liên quan với các tri thức cần xây dựng. Chúng là
chỗ dựa đồng thời là trở lực tất yếu cần khắc phục đối với quá trình xây dựng
tri thức mới của HS. Cần sử dụng những quan niệm vốn có đó của HS vào
việc xây dựng tình huống vấn đề và định hướng hoạt động giải quyết vấn đề
một cách hữu hiệu sao cho tạo được điều kiện cho những quan niệm đó được
HS vận dụng, được thử thách trong quá trình kiểm tra, hợp thức hoá, khiến
cho HS tự nhận thấy chỗ sai lầm, thấy cần thay đổi quan niệm, khắc phục sai
lầm để xây dựng tri thức mới phù hợp.
1.2.1.4. Tổ chức hoạt động học tập hợp tác trong dạy học
động lên con người) và chủ thể xử lý khách thể này nhằm đạt một mục tiêu
nào đó. Như vậy, đồng hoá giúp chủ thể tích luỹ được những hiểu biết về môi
trường vào kho tàng tri thức đã có trước đó của mình. Điều ứng là quá trình
chủ thể thích nghi với một sự kiện mới từ môi trường tác động vào và biến
đổi nhận thức cũ đã có của mình sao cho phù hợp với bản chất của sự kiện tác
động đó. Nhờ sự đồng hoá và điều ứng mà chủ thể tạo được sự cân bằng mới
và quá trình đó cứ tiếp diễn làm cho nhận thức ngày càng phát triển. Như vậy,
học tập là quá trình cá nhân đồng hoá và điều ứng, tiếp nhận thông tin từ môi
trường, xử lý thông tin đó và thích ứng với môi trường.
Kiến thức của mỗi người là do bản thân mình xây dựng, là kết quả hoạt
động của bộ óc của chủ thể phản ánh thực tế khách quan. Vì vậy, không thể
quan niệm sự hình thành kiến thức của học sinh chỉ đơn thuần là sự in vào
đầu óc học sinh những câu chữ, xem như những cái đã có sẵn tồn tại độc lập
với học sinh. Không thể coi sự dạy của GV chỉ đơn thuần là sự trình diễn kiến
thức, chỉ cần cố gắng trình diễn chính xác, rõ ràng và đầy đủ sao cho in đậm 10
vào đầu óc HS được đúng những câu chữ như thế. Nếu chỉ như vậy thì không
thể đạt được hiệu quả của quá trình dạy học.
Cũng không thể quan niệm thực chất của sự học chỉ ở chỗ người học
đạt được (thể hiện ra được) những hành vi xác định nào đó. Nghĩa là không
thể quy chất lượng, hiệu quả của sự học chỉ về những biểu hiện hành vi bên
ngoài của người học. Do đó sẽ là phiến diện nếu quan niệm rằng dạy học chỉ
cần làm sao cho HS thể hiện được những hành vi cụ thể nhất định nào đó. Bởi
vì, theo quan điểm tâm lý học tư duy thì sự học là một sự phát triển về chất
của cấu trúc hành động. Cùng một hành vi biểu hiện bề ngoài giống nhau,
nhưng chất lượng, hiệu quả của sự học (đối với kiến thức lĩnh hội được cũng
như đối với sự phát triển tiềm lực của HS) vẫn có thể khác nhau tuỳ thuộc vào
sự phát triển cấu trúc của hành động học của chủ thể. Ở đây hành vi được xem
thiết cho việc thực hiện thành công hành động của chủ thể.
Bởi vậy trong dạy học, hoạt động dạy của GV phải có tác dụng chỉ đạo
hoạt động học của HS phù hợp với con đường biện chứng của sự hình thành,
phát triển và hoàn thiện của hành động.
Sự học tập còn được nhìn nhận theo quan điểm xã hội – tâm lý. Học là
hoạt động của cá nhân chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội - lịch sử, biến thành
năng lực thể chất và năng lực tinh thần của cá nhân, hình thành và phát triển
nhân cách của cá nhân. Sự học tập của cá nhân HS cần có sự môi giới, giúp
đỡ bởi người lớn hoặc người ngang hàng qua vùng phát triển kế cận. Vùng
phát triển kế cận được hiểu là khoảng cách giữa trình độ thực tại của cá nhân
xác định bởi sự giải quyết một vấn đề không có sự giúp đỡ và trình độ phát
triển tiềm năng, xác định bởi sự giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của người
Hoạt động
Động cơ
Hành động
Mục đích
Điều kiện,
phương tiện
Thao tác
12
lớn hoặc người ngang hàng có khả năng hơn. Điều này nói lên vai trò xã hội,
vai trò của sự can thiệp xã hội trong việc nhận thức của mỗi cá nhân.
Nếu học là hành động của HS xây dựng kiến thức cho bản thân mình và
vận dụng kiến thức của mình, thì dạy học là dạy hành động (hành động chiếm
lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) và do đó, trong dạy học, GV cần
tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của HS để qua đó HS
chiếm lĩnh được tri thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện
càng cao thì sự phân hoá này càng lớn.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều
được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi
trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá
nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.
1.4. Áp dụng BGĐT nhằm phát huy tính tích cực của ngƣời học
1.4.1. Một số hướng ứng dụng CNTT để đổi mới phương pháp dạy học
Trong dạy học Vật lí có thể ứng dụng CNTT để hiện đại hóa phương
thức dạy học theo các hướng sau:
- Xây dựng các phần mềm dạy học: Đây là hướng ứng dụng CNTT
vào dạy học được nhiều nước trên thế giới quan tâm và phát triển. Ở Việt
Nam hiện nay cũng đang được nhiều nhà giáo dục nghiên cứu và phát triển
- Xây dựng các mô hình vật lí, các thí nghiệm ảo: việc xây dựng các
mô hình, các quá trình Vật lí để hỗ trợ, thậm chí thay thế môt số hiện tượng
vật lí mà thực tế không thể quan sát được qua tranh, nghe mô tả qua lời nói là
rất cần thiết vì nó sẽ làm giảm bớt tính trừu tượng, giảm bớt chi phí trong dạy
học tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh có thể tiếp thu kiến thức nhanh và
chính xác hơn. Từ đó, sẽ góp phần nâng cao khả năng khám phá, nắm bắt tri
thức mới của học sinh. Tuy nhiên xây dựng các mô hình và các thí nghiệm ảo 14
đòi hỏi cần phải có nhiều công cụ hỗ trợ và nhà lập trình có trình độ chuyên
nghiệp cao. Vì vậy hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực
này. Các đề tài nghiên cứu phần mềm dạy học có liên quan đến các mô hình,
quá trình vậy lí hầu như sử dụng các mô hình, các quá trình được lập trình sẵn
của các nước có trình độ khoa học kĩ thuật cao như Mĩ, Anh, Pháp…
- Xây dựng các Website dạy – học vật lí.
- Thiết kế bài giảng điện tử: Đây là một hướng đi thuận lợi, mỗi giáo
viên đều có thể sử dụng một số phần mềm thông dụng như: PowerPoint,
được với nội dung).
Trong khi đó, nội dung của bài giảng điện tử (E-lesson) lại không phải
ở chính bản thân thông tin, tri thức, mà là cách tìm kiếm, lựa chọn, xử lý
thông tin, giải quyết vấn đề (Hiện vẫn tồn tại những quan niệm sai lầm cho
rằng việc thiết kế nội dung cho bài giảng điện tử chẳng qua chỉ là quá trình
chuyển một cách cơ học thuần túy từ sách giấy thành “sách số” hay “sách
điện tử” - E-book).
Bài giảng điện tử (được hiểu khái quát như sản phẩm và quá trình) về
cơ bản khác với bài giảng truyền thống ở những điểm sau:
- Không bị giới hạn bởi không gian, thời gian (đẳng thời và bất đẳng
thời)
- Mềm dẻo, có thể tương tác được
- Tạo sự linh hoạt trong tốc độ triển khai học tập tùy thuộc vào năng lực
của cá nhân người học
- Tạo ra môi trường học tập bình đẳng, phù hợp với các đối tượng khác
nhau 16
- Tạo ra khả năng tích hợp mạnh mẽ các ứng dụng công nghệ trong dạy
học
- Tạo ra sự thay đổi căn bản trong quan niệm về vị trí, vai trò của người
dạy, người học
Một cách khái quát có thể coi bài giảng điện tử là một tổ hợp sản phẩm
và các dịch vụ, hoạt động (được thiết kế nhờ ứng dụng mạnh mẽ CNTT) của
người dạy và người học nhằm giải quyết những mục tiêu dạy học, đảm bảo
tính toàn vẹn và thống nhất của quá trình dạy học.
Ở cấp độ cấu trúc kỹ thuật, bài giảng điện tử là một tổ hợp các nội dung
dạy học (bao gồm cả nguồn học liệu) được thiết kế phù hợp với các ý đồ triển
khai dạy học (hoạt động dạy, hoạt đông học và tự học, hoạt động kiểm tra
+ Thế hệ 3: Các bài giảng điện tử có tính tương tác cao giữa người dạy,
người học và nội dung dạy học (trực tuyến/ngoại tuyến; trực tiếp/gián tiếp)
trong đó người học có thể tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nội dung
học liệu, các hoạt động dạy học, giao tiếp với nhau…
1.4.2.1. Cấu trúc của bài giảng điện tử
Xét theo quan điểm sư phạm, có thể coi bài giảng điện tử là một tổ
hợp các thành tố nội dung và phương pháp dạy học cho một bài học, chương
học cụ thể. Tuy nhiên, bài giảng điện tử không chỉ đơn thuần là sự tập hợp
các thông tin, dữ liệu được số hóa kèm theo đa phương tiện. Mỗi một bài
giảng điện tử cần được coi như là sự trợ giúp cho người học chiếm lĩnh hệ
thống các vấn đề lý thuyết, hình thành những thao tác, kỹ năng cụ thể theo
một hệ mục tiêu đã định thông qua các con đường tri nhận, tư duy, minh họa,
tra cứu, chỉ dẫn, luyện tập, kiểm tra và ra quyết định. 18
Về tổng thể, mô hình của bài giảng điện tử có thể bao gồm các thành
phần sau:
- Thông tin chung về bài giảng (người dạy, mục tiêu, lịch trình )
- Giáo trình, sách giáo khoa điện tử (các văn bản, nguồn tài liệu phục
vụ dạy học, nội dung bài học, tài liệu tham khảo đã được số hóa)
- Sách chỉ dẫn điện tử (văn bản, từ điển chú giải thuật ngữ đã được
số hóa)
- Hệ thống các nhiệm vụ luyện tập, thực hành (các phần mềm mô
phỏng, thí nghiệm ảo, bài tập mô phỏng )
- Hệ thống kiểm tra đánh giá
Mô hình này có thể được điều chỉnh về tỷ lệ và dung lượng phù hợp
với yêu cầu đặc thù của từng chương bài, môn học, chuyên ngành cụ thể.
Một bài giảng điện tử hiệu quả sẽ phải được cấu trúc thành những bài
giảng con dưới dạng các “khối nội dung” nhỏ như: “Khối nội dung lí thuyết”
người học như sau:
- Chuyển từ hoạt động thông báo và ghi nhớ kiến thức sang hoạt động
độc lập tìm kiếm, khám phá, nỗ lực hợp tác;
- Phá bỏ sự ràng buộc về thời gian, không gian đối với quá trình dạy
học (người học có thể nghe, nhìn, học qua bài giảng điện tử đã được đóng gói,
vào đĩa CD-Rom chẳng hạn, với số lần không hạn chế, mọi lúc, mọi nơi );
- Chuyển từ hoạt động với những người học có học lực khá là chủ yếu
sang làm việc với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ
để thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trong bài
giảng điện tử ); 20
- Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học (mỗi người sẽ
tự chọn cho mình cách thức, cấp độ và tốc độ giải quyết nhiệm vụ học tập);
- Hoạt động đánh giá dựa trên mục tiêu cụ thể (có thể sử dụng bất cứ
hình thức nào để giải quyết nhiệm vụ, miễn là đạt mục tiêu);
- Tiếp cận theo hướng cạnh tranh lành mạnh sẽ chiếm vị thế chủ đạo
trong mọi hoạt động (cạnh trạnh ngay giữa các thành viên trong nhóm, giữa
các nhóm, giữa các hình thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập );
- Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh được một loại kiến thức (đơn
ngành) sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực);
- Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa
giác quan hóa trong quá trình dạy học (người học có thể “sờ mó”, thao tác
được với bài giảng có kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động ).
Như vậy, BGĐT có một số ưu thế sau :
*Tạo môi trƣờng học tập mới
Môi trường học tập hiện nay có tích hợp bài giảng điện tử sẽ mang một
cấu trúc mới đầy triển vọng với những đặc trưng sau:
- Hệ thống tự tổ chức (có định hướng của người dạy), mang tính mở;