Sử dụng kênh hình trong SGK theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại ở lớp 10 - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giáo dục được
coi là “quốc sỏch” hàng đầu, là động lực quan trọng. Giáo dục nước ta có mục
tiêu là “xõy dựng những con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; phát triển tiềm
năng dân tộc và con người Việt Nam” [34;29].
Lịch sử với tư cách là một khoa học xã hội cũng góp phần quan trọng
vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ. Lịch sử không đơn giản chỉ là
quá khứ mà còn là sự kết tinh những giá trị xã hội sâu sắc, nó có ý nghĩa to
lớn trong việc giáo dục truyền thống, tư tưởng chính trị, đạo đức và phát triển
óc thẩm mĩ cho học sinh. Nhà sử học Xô viết Patusụ đó khẳng định: “Muốn
đào tạo con người phù hợp với thời đại chúng ta, cần phải không ngừng cải
tiến và nâng cao chất lượng dạy học lịch sử. Cuộc cách mạng khoa học - kĩ
thuật, sự hấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm bớt sự
chú ý của ta đối với việc dạy học lịch sử. Chớnh lịch sử là bằng chứng hiển
nhiên về sự toàn thắng của công cuộc xây dựng đối với sự tàn phá, chiến
thắng của hoà bình đối với chiến tranh”.
Nhưng để giáo dục toàn diện thế hệ trẻ cần phải đổi mới mạnh mẽ
phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói
quen, nề nếp tư duy của người học; cần phải “biến quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo”; “phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lờn” [30;9].
“Dạy sử cũng như dạy bất cứ môn học nào đòi hỏi người giáo viên phải
gợi trí thông minh làm sao ngay ở nhà trường ta phải bắt buộc học sinh dùng
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

hiện mối liên hệ biện chứng giữa phương tiện nhận thức với chủ thể nhận
thức, giúp học sinh có điều kiện tiếp cận gần hơn với đối tượng nhận thức, từ
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
2
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

đó tích cực tư duy để lĩnh hội kiến thức một cách vững chắc, hình thành
những xúc cảm, tình cảm lich sử, từ đó phát triển toàn diện bản thân.
Từ những lý do trờn tụi chọn đề tài “Sử dụng kờnh hỡnh trong SGK
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử thế giới
nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại ở lớp 10” với mong muốn đề xuất ra được
một số phương pháp sử dụng kờnh hỡnh một cách tích cực, nõng cao hiệu quả
bài học lịch sử ở trường phổ thông. Sở dĩ tôi chọn phần lịch sử thế giới từ
nguyên thuỷ đến hết thời trung đại ở lớp 10 vì bắt đầu từ năm học 2006 -
2007 SGK 10 mới đã được đưa vào sử dụng thay thế hoàn toàn SGK cũ. Đây
lại là những nội dung lịch sử học sinh PTTH được học trước tiên, tiếp nhận
những kiến thức đầu tiên về lịch sử thế giới, là cơ sở để hiểu biết lịch sử dân
tộc. Phần lịch sử thế giới thời nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại trong SGK lịch
sử 10 đựơc biên soạn khá hấp dẫn, với số lượng kờnh hỡnh phong phú, đa
dạng ( ban cơ bản là 28 kờnh hỡnh ban nâng cao là 40 kờnh hỡnh). Sử dụng
tốt kờnh hỡnh theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh sẽ giúp học sinh
có những nhận thức sâu sắc về lịch sử thế giới từ nguyên thuỷ đến hết thời
trung đại, giáo dục cho học sinh tình cảm khâm phục sức sáng tạo của con
người, trân trọng, phát huy những di sản lịch sử văn hoá của nhân loại, của
các nền văn minh trên thế giới, từ đó có cơ sở để hiểu lịch sử Việt Nam, giữ
gìn và phát huy những di sản và truyền thống tốt đẹp của cha ông.
II. Lịch sử vấn đề.
II.1.Tài liệu nước ngoài.

điểm của việc sử dụng các đồ dùng trực quan trong dạy học và cách khắc phục.
Phan Ngọc Liên, Trịnh Đỡnh Tựng trong cuốn “phỏt huy tính tích cực của
học sinh trong dạy học lịch sử THCS” có trình bày quan niệm về phát huy tính
tích cực của học sinh trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng; các
phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử trong đó
phần thứ 3 mục IV có nói đến phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đỡnh Tựng: “Rốn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư
phạm”, chương IV “Rốn luyện kĩ năng xây dựng và sử dụng các loại đồ dùng
trực quan trong dạy học”.
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
4
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

Nguyễn Thị Côi: “Kờnh hỡnh trong dạy học lịch sử ở trường THPT”
(phần lịch sử Việt Nam).
Trịnh Đỡnh Tựng (cb): “Hướng dẫn sử dụng kờnh hỡnh trong SGK lịch
sử THCS” (phần lịch sử thế giới)
Nguyễn Thị Côi (cb): “Hướng dẫn sử dụng kờnh hỡnh trong SGK lịch
sử THCS” (phần lịch sử Việt Nam).
Trong các giáo trình cơ bản của phương pháp dạy học lịch sử, các nhà
giáo dục lịch sử đều thống nhất quan điểm coi “trực quan là nguyên tắc cơ
bản của lý luận dạy học”.
PGS. TS. Trịnh Đỡnh Tựng trong “ Phương pháp sử dụng đồ dùng trực
quan nhằm phát huy tính tích cực hoạt động độc lập trong dạy học lích sử” đã
khẳng định những nhân tố quyết định hiệu quả của việc sử dụng phương pháp
trực quan trong dạy học lịch sử như chất lượng đồ dùng trực quan, phương
pháp sử dụng, kĩ năng và năng lực sư phạm của giáo viên và giới thiệu một số
cách sử dụng đồ dùng trực quan cơ bản.

- Thực nghiệm ở trường phổ thông để có kết quả cụ thể.
IV. Giới hạn, phạm vi đề tài.
Với khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp, do điều kiện thời gian, đề tài
chỉ tập trung khai thác và sử dụng hệ thống kờnh hỡnh trong phần lịch sử thế
giới thời nguyên thuỷ, cổ đại và trung đại ở SGK lịch sử lớp 10 ở cả 2 ban cơ
bản và nâng cao.
V. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
V.1. Ý nghĩa khoa học: Nâng cao trình độ lý luận dạy học nói chung và
dạy học lịch sử nói riêng cho bản thân. Kết quả của đề tài góp phần khẳng
định vai trò, ý nghĩa của hệ thống kờnh hỡnh trong SGK đối với việc dạy học
lịch sử ở trường phổ thông.
V.2. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở hiểu biết về lý luận, khoá luận đi
sâu tim hiểu nội dung và đề xuất các biện pháp sử dụng kờnh hỡnh trong SGK
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử nói riêng và chất lượng bài học lịch sử nói chung; cú thờm
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
6
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

những hiểu biết về thực tiễn dạy học lịch sử hiện nay ở trường phổ thông, rút
ra được những kinh nghiệm quý báu cho bản thân.
VI. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
VI.1.Phương pháp luận.
- Lý luận của các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mac - Lờnin, của Hồ
Chí Minh và của Đảng ta về khoa học lịch sử, về nhận thức và giáo dục.
- Lý luận tâm lý, giáo dục, phương pháp dạy học của các nhà giáo dục
học và giáo dục lịch sử trong và ngoài nước.
VI.2. Phương pháp nghiên cứu.

thuỷ, cổ đại và trung đại ở lớp 10.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
VẤN ĐỀ SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG SGK THEO HƯỚNG
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH – CƠ SỞ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I.1. Cơ sở lý luận.
I.1.1. Cấu tạo SGK.
Sách giáo khoa là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung và phương
pháp dạy học. Về cấu tạo SGK lịch sử nói chung, các nhà giáo dục nước ta
cũng như một số nhà giáo dục lịch sử nước ngoài thường phân nội dung SGK
ra làm 2 phần “kờnh chữ” và “kờnh hỡnh”.
“Kờnh chữ” chỉ tất cả những phần có chữ viết bao gồm bài viết chính
cho tiết học và những phần khác như câu hỏi, bài tập, tóm tắt, tư liệu tham
khảo, chú thích v.v…
“Kờnh hỡnh” chỉ tất cả phần minh hoạ từ tranh ảnh đến lược đồ, bản
đồ, hình vẽ v.v…
Quan niệm về cấu tạo SGK như vậy có phần nặng về thông tin trong
nhận thức không làm rõ chức năng, nhiệm vụ mỗi phần trong SGK lịch sử.
Theo một quan niệm khác của nhiều nhà giáo dục lịch sử nước ta, SGK lịch
sử có 2 phần chính:
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
8
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

“Bài viết” là nội dung cơ bản của chương trình đựoc trình bày trong
một số trang cho mỗi tiết học. Đây là bộ phận chủ yếu của SGK mà học sinh
cần nghiên cứu và nắm vững.


“Kờnh hỡnh” và “kờnh chữ” là hai thành phần chủ yếu cấu tạo nên SGK
có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nội dung kiến thức trong “kờnh chữ” là cơ
sở để giáo viên hiểu rõ “kờnh hỡnh” và đi đến truyền tải nội dung kiến thức
trong “kờnh hỡnh” đến học sinh. Nội dung kiến thức trong “kờnh hỡnh”
dựng để cụ thể hoá, làm phong phú, sâu sắc và khắc sâu thêm nội dung kiến
thức chứa đựng trong “kờnh chữ” Nội dung kiến thức của “kờnh chữ” và
“kờnh hỡnh”bổ sung, hỗ trợ cho nhau tạo nên một tổ hợp kiến thức lịch sử
phong phú. Mối quan hệ giữa “kờnh chữ” và “kờnh hỡnh” chớnh là mối quan
hệ giữa nội dung và phương pháp nhằm đạt tới mục đích của quá trình dạy
học.
Ngoài những kờnh hỡnh có sẵn trong SGK cũn cú những số liệu, sự
kiện có tác dụng tạo nên hình ảnh cho học sinh giúp cho giáo viên căn cứ vào
đó để xây dựng những đồ dùng trực quan mới để phục vụ giảng dạy. Đây là
loại kờnh hỡnh chỡm trong SGK.
Kờnh hình trong SGK là một loại đồ dùng trực quan không những làm
cho SGK thêm sinh động, hấp dẫn mà còn là một nguồn kiến thức quan trọng.
Thông qua kờnh hỡnh một mặt học sinh nắm chắc hơn các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử cơ bản và mặt khác rèn luyện tư duy và kĩ năng thực
hành lịch sử, tăng khả năng tri giác. Trong điều kiện hiện nay khi tài liệu
chính của giáo viên là SGK thỡ kờnh hỡnh là một biện pháp thiết thực để tinh
gọn nội dung nhưng vẫn đảm bảo “sinh động, cụ thể, có hình ảnh”.
Theo tình thần nghị quyết TWII Khoá VIII về giáo dục và đào tạo,
SGK đã và đang được đổi mới, sử dụng đại trà toàn bộ các lớp ở THCS và lớp
10 ở THPT đang thực hiện thí điểm ở lớp 11 và 12 THPT. Tư tưởng xuyên
suốt của việc đổi mới SGK là SGK phải tham gia vào việc tích cực hoá hoạt
động nhận thức của người học, tạo điều kiện để người học được suy nghĩ,
được hoạt động thực sự, từ đó họ có thể chiếm lĩnh kiến thức hình thành được
kĩ năng cho bản thân, giúp họ có thể tự học, tự nghiên cứu. SGK mới tập
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

nước ta (nguồn gốc) đến giữa thế kỉ XIX. Trên cơ sở đó nắm được những giai
đoạn phát triển chủ yếu của lịch sử dân tộc, những sự kiện cơ bản có ý nghĩa
về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá - xã hội và những thành
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
11
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

tựu chính về các mặt trong lịch sử dân tộc thời dựng nước và thời phong kiến
đồng thời cũng nhận thức được một số hạn chế của xã hội đương thời.
Ở mỗi bài trong SGK lịch sử 10 cả ban cơ bản và nâng cao đều được
cấu tạo theo trình tự thống nhất:
Mở đầu: Giới thiệu khái quát nội dung của bài học.
Nội dung bài học: Gồm các mục chính, một số tranh ảnh, lược đồ, các
câu hỏi ở cuối mỗi mục và cuối bài nhằm phát huy tính tích cực và tư duy độc
lập của học sinh. Ngoài ra, còn một số bài tập và câu hỏi ôn tập. Riêng đối với
SGK lịch sử 10 ban nâng cao ở cuối mỗi bài đều có tài liệu tham khảo để
phục vụ cho bài học.
Lượng “kờnh chữ” trong SGK mới được giảm tải, lượng “kờnh hỡnh”
được tăng lên chiếm 25% của SGK. Riêng phần lịch sử thế giới thời nguyên
thuỷ cổ đại và trung đại ban cơ bản có 28 kờnh hỡnh, ban nâng cao có 40
kờnh hỡnh. SGK mới được in 2 mầu, lưọng kờnh hỡnh được đưa vào SGK
chủ yếu phục vụ yêu cầu tăng cường tính tích cực, chủ động của học sinh
trong học tập lịch sử, rèn luyện khả năng tri giác và nhận xét tranh ảnh, hiện
vật và sử dụng bản đồ lịch sử. SGK lịch sử 10 mới còn nâng cao hơn nữa kĩ
năng phân tích, so sánh, tổng hợp sự kiện, vấn đề đồng thời rèn luyện khả
năng sưu tầm các nguồn số liệu, nâng cao năng lực tự học và bồi dưỡng khả
năng liên hệ thực tế, rút ra những bài học cần thiết cho cuộc sống bản thân.
Như vậy SKG có sự đổi mới cả về nội dung và hình thức trình bày

dung trình bày trong kênh chữ, không có những thông tin sai lệch về mặt khoa
học hoặc làm phân tán sự tập trung suy nghĩ của học sinh về sự kiện đang
học.
Thứ hai, màu sắc hài hoà, tươi sáng, gần gũi với tự nhiên.
Thứ ba, các hình ảnh đặt ngay cạnh phần kênh chữ phải có nội dung
tương ứng, có bố cục cân đối. Tranh, ảnh , đồ dùng trực quan qui ước được
đánh số thứ tự từ số 1 đến số cuối cùng ở mỗi bài kèm theo lời ghi chú ngắn
gọn (nếu xét thấy cần).
Là một loại đồ dùng trực quan nhưng kờnh hỡnh trong SGK mang tính
pháp lý đã được thẩm định, được lựa chọn đáp ứng đủ 3 yêu cầu nêu trên. Vì
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
13
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

vậy, giáo viên cần thiết sử dụng và yên tâm khi sử dụng kờnh hỡnh trong
SGK trong quá trình dạy học.
Kờnh hình trong SGK cũng mang tính phổ thông, khoa học, vừa sức
với học sinh nên học sinh cần phải được biết, được tìm hiểu.
Kờnh hình trong SGK là một loại đồ dùng trực quan có sẵn, giáo viên
không mất công sức và thời gian tự tạo, là loại đồ dùng trực quan dễ sử dụng
và sử dụng có khả năng đem lại hiệu quả cao vì học sinh có thể dễ dàng tri
giác, có thể tìm hiểu trước ở nhà, càng hiệu quả hơn khi sử dụng với sự hỗ trợ
của các phương tiện kĩ thuật.
Những đặc điểm của kờnh hỡnh trong SGk chi phối phương pháp dạy
học của giáo viên. Dung lượng kờnh hỡnh trong SGk tăng lên đòi hỏi giáo
viên phải sử dụng hợp lý theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh để
nâng cao hiệu quả bài học.
I.1.3.Cỏc loại kờnh hỡnh trong SGk.

Bản đồ tổng hợp phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của
một nước hay của nhiều nước có liên quan ở một thời kì nhất định, trong
những điều kiện nhất định. Ví dụ, Lược đồ các quốc gia Đông Nam Á cổ đại
và phong kiến; bản đồ chiến tranh thế giới thứ nhất.
Lược đồ, bản đồ chuyên đề nhằm diễn tả những sự kiện riêng rẽ hay
một mặt của quá trình lịch sử như diễn biến một trận đánh như lược đồ chiến
thắng Bạch Đằng năm 938, lược đồ trận Ngọc Hồi - Đống Đa hay sự phát
triển kinh tế của một nước trong một giai đoạn lịch sử.
Trong SGK lịch sử lớp 10, bản dồ chiếm một tỉ lệ khá lớn: ban cơ bản
là 13/81 kờnh hỡnh bằng 16,05%; ban nâng cao là 12/79 kờnh hỡnh bằng
15,19 %, cho nên giáo viên cần có biện pháp khai thác và sử dụng chúng
nhằm làm đa dạng nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh, phát huy tính tích
cực của học sinh, gây hứng thú với các em.
٭Hình vẽ và tranh, ảnh lịch sử.
Là loại tư liệu trực quan tạo hình phản ánh lịch sử ở những góc độ khác
nhau, một sự kiện hay một nhân vật lịch sử, hoạt động sinh hoạt lịch sử…
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
15
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

Tranh thể hiện sự sáng tao nghệ thuật của người nghệ sỹ. Nó cú từ rất
sớm gắn với đời sống con người. Nó phản ánh kịp thời những sinh hoạt của
con người trong xã hội. Ngay từ thời nguyên thuỷ người ta đã vẽ bức tranh
“người đi săn hươu nai” trờn vách hang, Có cả những tranh do người đời sau
lấy chủ đề lịch sử để phác họa lại như bức tranh Xụ viờt Nghệ Tĩnh. Loại
tranh này có thể phản ánh hiện thực khách quan nhưng dễ rơi vào tính chủ
quan do nhận thức của người vẽ.
Ảnh là sự phát triển của hình thái nghệ thuật ghi lại những sự kiện có

một thời gian dài (“niờn biểu các cuộc đấu tranh của nhân dân từ thế kỉ I đến
thế kỉ V”, “niờn biểu các cuộc đấu tranh vũ trang từ thế kỉ VI đến đầu thế kỉ
X”), trình bày những mặt khác nhau của một sự kiện xảy ra ở một số nước
trong một thời gian hay trong nhiều thời kì như niên biểu “những thành tích
của nhân dân Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp từ
1946 đến 1954”.
+ Niên biểu chuyên đề: Đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan
trọng nổi bật của một thời kỳ lịch sử nhất định nhờ đó mà học sinh hiểu được
bản chất sự kiện một cách toàn diện, đầy đủ ví dụ niên biểu “Cỏc giai đoạn
chớnh trong vận động cách mạng giành chính quyền 1930-1945”.
+ Niên biểu so sánh: Dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra
cùng một lúc trong lịch sử nhằm làm nổi bật bản chất, đặc trưng của các sự
kiện ấy hoặc để rút ra một sự kiện khái quát có tính chất nguyên lý như niên
biểu sản lượng thép của Anh, Pháp, Đức trong 2 năm 1800 và 1900 cho thấy
tốc độ phát triển khác nhau của các nước đế quốc, sự thay đổi vị trí giữa các
nước.
Niên biểu trong SGK cũng là một loại đồ dùng trực quan rất cần cho
dạy học lịch sử nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói riêng.
I.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng kờnh hỡnh trong SGK theo
hướng phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử.
I.1.4.1. Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch
sử ở trường phổ thông.
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
17
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

Phát huy tính tích cực của học sinh là một yêu cầu cấp bách đặt ra cho
giáo dục hiện nay nhằm nâng cao chất lượng môn học. Dạy học là một quá

Loan

hoạt động nhận thức. Chính sự biến đổi liên tục bên trong của mô hình tâm lý
của hoạt động nhận thức đặc trưng cho tính tích cực nhận thức của học sinh.
Sự biến đổi đó càng linh hoạt, càng năng động bao nhiêu thì càng thể hiện
tính tích cực nhận thức ở mức độ cao bấy nhiêu.
Từ những quan niệm, ý kiến trên chúng ta có thể hiểu tính tích cực
nhận thức là ý thức, thái độ hoạt động tích cực của mỗi người nhằm đạt được
hiệu quả cao những mục đích đã đề ra. Học sinh chỉ ghi nhớ, nắm được
những gì đã trải qua trong hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó
các em phải có những cố gắng trí tuệ và khát vọng học tập. Có thể nhận biết
tính tích cực nhận thúc của học sinh ở những mặt sau:
1 - Học sinh chú ý theo dõi vấn đề đang học, khao khát, tự nguyện tham
gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung câu trả lời của bạn, tích cực phát
biểu ý kiến của mình về vấn đề mà giáo viên và các bạn đưa ra.
2 - Đào sâu suy nghĩ hay nêu thắc mắc đòi hỏi được giải quyết cặn kẽ
những vấn đề giáo viên trình bày chưa rõ.
3 - Chủ động vận dụng những kiến thức đã học, vốn hiểu biết của bản
thân để nhận thức những vấn đề mới.
4 - Hào hứng, say mê tiếp thu bài giảng của thầy cố gắng hoàn thành
những bài tập được giao.
Ngoài ra, giáo viên còn có thể nhận thức tính tích cực của học sinh qua
ánh mắt, cử chỉ, nét mặt khi theo dõi bài giảng.
Phát huy tính tích cực trong học tập sẽ tạo cơ hội cho người học phát
huy được trí tuệ, tư duy và óc thông minh của mình, khêu gợi, kích thích tiềm
năng, sở trường đang ngủ yên trong mỗi học sinh, đòi hỏi học sinh phải suy
nghĩ, tìm tòi, phát huy tư duy đến mức cao nhất để có thể giải quyết được vấn
đề đặt ra. Đây cũng là cơ hội để phát huy trí tuệ tập thể một cách rộng lớn;
giúp học sinh phương pháp tự học và lòng ham học; nó góp phần thực hiện
nhiệm vụ giáo dục trên cả ba mặt: giáo dưỡng, giáo dục, phát triển. Có thể

biểu hiện tích cực chủ yếu trong hoạt động tư duy và kết quả của hoạt động tư
duy này là sự lĩnh hội kiến thức mới trên cơ sở kiến thức đó cú. Từng sự kiện
lịch sử cụ thể phải đi sâu vào bản chất của vấn đề tiến tới hiểu cả quá trình
lịch sử trong chương trình học ở từng khối và từng cấp học. Mặt khác tính
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
20
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh còn thể hiện một cách lặng lẽ nhưng
cơ bản ở chỗ các em chăm chú nghe giảng, ghi chép hoặc chăm chú tìm hiểu
nội dung kờnh hỡnh, chăm chú học theo SGK và đọc tài liệu tham khảo để
củng cố, vận dụng những khái niệm đã nắm được qua đó tiếp thu những kiến
thức mới. Việc giơ tay phát biểu xây dựng bài chẳng qua là những biểu hiện
bên ngoài của tính tích cực.
Do đặc trưng bộ môn nên việc phát huy tính tích cực của học sinh trong
dạy học lịch sử gặp rất nhiều khó khăn. Giáo viên phải tác động vào mô hình
tâm lý của hoạt động nhận thức tức là trong quá trình dạy học giáo viên phải
khơi dậy nơi học sinh tình cảm với môn học, tác động vào ý chí và đặc biệt là
vào nhận thức của các em thông qua nhiệm vụ học tập. Người thầy phải phát
huy vai trò chủ đạo của mình, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh thực
hiện vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức. Để làm được điều
đó, người thầy phải biết phối hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau, huy
động những nguồn kiến thức khác nhau, trong đó có việc sử dụng kờnh hỡnh
trong SGK.
I.1.4.2. Kờnh hình trong SGK với việc phát huy tớnh trớch cực của
học sinh trong dạy học lịch sử.
Dạy học lịch sử ở trường phổ thông có đặc trưng là dạy và học những
cái đã qua, là phải khôi phục quá khứ đúng như nó tồn tại. Cái đã qua, cái quá

ngọc” trong dạy học.
Đối với bộ môn lịch sử, xuất phát từ mục đích, đặc trưng, chức năng,
nhiệm vụ bộ môn, quá trình nhận thức của học sinh trước tiên đi từ những sự
kiện, những quá trình lịch sử cụ thể (nhận thức gián tiếp thông qua giáo viên
và các nguồn tài liệu) tạo thành những tri giác và biểu tượng lịch sử. Đó là
giai đoạn nhận thức cảm tính trong học tập lịch sử. Ở giai đoạn tiếp theo,
bằng sức mạnh của tư duy trừu tượng thông qua hoạt động tích cực, độc lập
của tư duy học sinh đi tới nắm khái niệm, qui luật và bài học lịch sử. Nhưng
học lịch sử chưa dừng lại ở đó mà học sinh tiếp tục vận dụng những tri thức
đã học để hiểu tri thức mới, sử dụng kiến thức về quá khứ để hiểu ngày nay,
để hành động trong thực tiễn cho phù hợp.
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
22
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

Quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử diễn ra như vậy
nên bên cạnh việc tái hiện bức tranh quá khứ đúng như nó tồn tại thì điều
quan trọng là phải phát huy được tính tích cực học tập của học sinh.
Để hướng học sinh nhận thức theo hướng tích cực có nhiều phương
pháp khác nhau trong đó phương pháp trực quan là quan trọng nhất.
Đồ dùng trực quan nói chung và kờnh hỡnh trong SGK nói riêng là
nguồn cung cấp kiến thức quan trọng có tác dụng tạo nên hình ảnh giúp học
sinh lĩnh hội kiến thức một cách dễ dàng và vững chắc, để qua đó giáo dục tư
tưởng tình cảm và phát triển toàn diện học sinh. Đồ dùng trực quan là “chiếc
cầu nối” giữa hiện thực với quá khứ, đưa học sinh tiếp cận gần hơn với quá
khứ.
Trong dạy học có nhiều “kờnh thụng tin”, trong đó cú kờnh dựng lời,
tương ứng với hoạt động nghe, trao đổi ý kiến (trình bày miệng) của học sinh;

với những nét chung nhất, điển hình nhất sẽ tránh cho học sinh khuynh hướng
sai lầm là “hiện đại hoá lịch sử”.
Trên cơ sở những biểu tượng đó cú, kờnh hỡnh trong SGK còn là chỗ
dựa để học sinh hiểu sâu sắc bản chất những sự kiện, hiện tượng lịch sử, là
phương tiện để hình thành khái niệm, rút ra qui luật, bài học lịch sử. Việc tạo
biểu tượng không dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài sự vật, hiện tượng mà đi
sâu hơn vào bản chất sự kiện, nêu lên đặc trưng tính chất của sự kiện. Biểu
tượng rất gần với những khái niệm đơn giản. Vì vậy, tạo biểu tượng lịch sử
chính xác sẽ giúp học sinh dễ dàng đi đến nắm khái niệm và rút ra các qui luật
về sự phát triển của xã hội. Ví dụ khi dạy học về “Đời sống con người thời xã
hội nguyên thuỷ” ở lớp 6 THCS, giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu
bức tranh “hỡnh vẽ trờn vỏch hang”, “người đi săn hươu nai” giúp học sinh
hình thành những biểu tượng về săn bắn còn hiểu được nhờ cung tên con
người đã chuyển từ hoạt động săn bắt sang hoạt động săn bắn có hiệu quả
kinh tế hơn. Điều đó giúp học sinh biết được sự thay đổi trong đời sống vật
chất của con người nguyên thuỷ luôn gắn với sự tiến bộ trong kỹ thuật chế tác
công cụ lao động của họ. Từ đó, học sinh hiểu rõ vai trò của việc cãi tiến công
Líp CLC - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
24
Khoá luận tốt nghiệp Đặng Thị
Loan

cụ lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, với sự phát triển của loài
người.
Chỉ dùng lời nói của giáo viên khó có thể làm cho học sinh có biểu
tượng về tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà thực dân Pháp cho là “một pháo
đài kiên cố bất khả xâm phạm”. Hay khi dạy bài “ các quốc gia cổ đại Phương
Đụng” lớp 10 ban nâng cao, nếu giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bức
tranh “ cột đá khắc toàn văn bộ luật Ham-mu-ra-bi” trong SGK theo hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status