LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận rất nhiều sự động viên,
giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS.TS Kiều Thế
Hưng, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại
học, Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, Tổ bộ môn Lý luận và phương pháp dạy
học Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp
đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hoài Thu
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
LSVN Lịch sử Việt Nam
LSDT Lịch sử dân tộc
LSĐP Lịch sử địa phương
GV Giáo viên
HS Học sinh
PP Phương pháp
DH Dạy học
SGK Sách giáo khoa
THPT Trung học phổ thông
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
dân tộc" [24;24].
LSĐP là một bộ phận cấu thành của LSDT, LSDT bao giờ cũng được
diễn ra trên phạm vi không gian, thời gian nhất định, ở những địa phương cụ
thể. LSĐP có thể phản ánh sự phát triển của LSĐP hoặc mang tầm LSDT,
phản ánh sự phát triển của LSDT, vì thế việc gắn kết chặt chẽ giữa việc
nghiên cứu LSDT và LSĐP luôn mang tính nhất quán và không tách rời.
Chỉ có thể hiểu sâu sắc LSDT khi hiểu sâu sắc LSĐP, nơi diễn ra sự
kiện mang tầm LSDT và ngược lại, chỉ có thể hiểu sâu sắc LSĐP khi đặt nó
trong mối quan hệ với LSDT. Nó là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng,
cái phổ biến với cái đặc thù, cụ thể.Việc nghiên cứu, học tập LSĐP không chỉ
có ý nghĩa đối với LSĐP mà còn có ý nghĩa quan trọng với việc nhận thức
LSDT. Tài liệu LSĐP không chỉ có ý nghĩa trong việc dạy học bài LSĐP mà
còn góp phần bổ sung và làm phong phú thêm, sinh động thêm LSDT, đồng
thời thực hiện được nguyên lí giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết
hợp với giáo dục gia đình và xã hội”. [44;8].
LSĐP có vai trò quan trọng, nhưng thực tế DH lịch sử hiện nay ở
trường phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu này. Việc sử dụng tài liệu
LSĐP chưa được coi trọng đúng mức, chưa khai thác hết hiệu quả của tài liệu
LSĐP trong dạy học LSDT. Cách DH hiện nay còn nặng về lý thuyết, hàn
lâm, thiếu tính sáng tạo, hạn chế tính tích cực của HS trong nhận thức LSDT
cũng như LSĐP. Và việc chuyển đổi dạy học theo mô hình "lấy giáo viên làm
trung tâm" sang mô hình "lấy học sinh làm trung tâm” là một trong những
biện pháp để chúng ta khắc phục điều đó.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Đông - Bắc, là nơi địa đầu Tổ
Quốc. Lạng Sơn có núi non hũng vĩ, phong cảnh hữu tình làm say mê lòng
người. Lạng Sơn có 17 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo nên nét văn hóa
phong phú, đặc sắc. Nổi bật lên là những câu hát giao duyên sli, slượn duyên
2
dáng, tình tứ, văn hóa Then đậm chất tâm linh của người dân tộc Mảnh đất
của các nhà khoa học, còn có hoạt động nghiên cứu trong nhà trường. M.V.
Lômônôxốp đã thu hút HS ở nông thôn sưu tầm nghiên cứu các mỏ đá và kim
loại qúi. N.P. Bunacốp, một GV trường trung học, đã viết 20 cuốn sách về
LSĐP [40,16].
Hoạt động nghiên cứu địa phương cũng được đẩy mạnh trong các
trường đại học ở Cadan, Kháccốp, Kiép, Ôđetxa v.v Các hội nghiên cứu
khoa học lần lượt được thành lập ("Hội nghiên cứu LS cổ đại Nga" (1840),
"Hội khảo cổ học" (1846) ).
Văn kiện giáo dục đầu tiên của chính quyền Xô viết (1918) đã yêu cầu
các trường phổ thông dạy học LSĐP trong giờ nội khóa. Từ năm học 1920 -
1921, địa phương học đã đưa vào chương trình DH ở nhà trường và sau đó trở
thành tài liệu bắt buộc.
Đến năm 1930, môn Địa phương học được đưa vào giảng dạy ở các
trường Đại học Sư phạm. Từ những năm 50 của thế kỉ XX trở đi, với việc thành
lập các "Hội bảo tàng địa phương", "Hội bảo vệ các di tích LS và Văn hoá"
(1966), hoạt động nghiên cứu LSĐP càng được đẩy mạnh, đã góp phần quan
trọng vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ trong nhà trường Xô Viết trước đây.
Cuốn “Lịch sử địa phương” do G.N.Matiusin chủ biên (1980) nhấn
mạnh rằng việc dạy học LSĐP trong nhà trường phổ thông đã trở thành một
nguyên tắc giáo dục chung. Các tác giả không chỉ giới thiệu các nguồn tư liệu
mà còn hướng dẫn PP nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn và giảng dạy LSĐP.
Dựa trên kinh nghiệm thực tế ở nhà trường Xô viết, tài liệu đã khái quát lí
luận nhiều vấn đề liên quan đến công tác LSĐP, về các hình thức cơ bản của
việc DH.
Quyển “PP công tác LSĐP ở trường phổ thông” (1982) do N.X. Bô-ri-
ôp chủ biên trình bày hai vấn đề chính: nguồn tư liệu và công tác LSĐP ở
trường phổ thông. Các tác giả nêu lên những mặt mạnh, yếu của công tác này,
4
đề xuất những PP sư phạm tiến hành có hiệu quả và nhấn mạnh phải làm cho
HS hứng thú trong quá trình nhận thức LS quê hương mình.
Nghệ An kí (đầu thế kỉ XIX) của Bùi Dương Lịch, Đồ Bàn kí của Nguyễn
Văn Hiển, Vương quốc Đàng Ngoài của S. Barong, Làng xã An Nam ở Bắc
Kì (1894) của P.Ory, Thành bang An Nam (1909) của C. Briphô, Nhân dân
đồng bằng Bắc Bộ (1936) của Piê-Guru,…
Ở miền Nam, dưới thời Mỹ - ngụy cũng có một số soạn giả nghiên cứu
và xuất bản sách về LSĐP: Cao nguyên miền thượng, Phong quang Đắc Lắc
của Cửu Long và Toan Ánh; Nước non Bình Định của Quách Tấn… Các tài
liệu này đã trình bày đầy đủ, hệ thống về một địa phương, thể hiện một phần ý
thức dân tộc.
Việc giảng dạy và học tập LSĐP ở nước ta sớm được đưa vào chương
trình, nhất là sau các cuộc cải cách giáo dục (năm 1950, 1956, 1979), bước
đầu đạt kết quả về mặt nội dung và PPDH. Cho đến nay đã có nhiều quyển
sách biên soạn về LSĐP.
Cuốn “Lịch sử địa phương” (1989) của Trương Hữu Quýnh, Phan
Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Văn Am là một công trình khoa
học tương đối đầy đủ và có hệ thống về việc nghiên cứu, biên soạn và giảng
dạy LSĐP ở trường phổ thông.
Trong các giáo trình “PPDH lịch sử” (xuất bản lần đầu năm 1978 và tái
bản nhiều lần vào các năm 1980, 1992, 1998, 2000, 2001) của Phan Ngọc
Liên, Trần Văn Trị (chủ biên) đều nhấn mạnh việc nghiên cứu và giảng dạy
LSĐP ở các trường phổ thông, gắn việc học tập LS với đời sống xã hội. Các
tác giả cũng tập trung đi sâu vào việc hướng dẫn biên soạn và giảng dạy các
tiết LSĐP, cũng như công tác sưu tầm, nghiên cứu và xử lí tài liệu thu thập
được (trong giáo trình năm 2002 và 2009).
Cuốn “PP giảng dạy LS” tập 1, 2 (1966) do Phan Ngọc Liên, Trần
Văn Trị biên soạn đã khẳng định: “Giảng dạy LS gắn liền với đời sống và
6
cần phải liên hệ tri thức LS trong sách vở với cuộc sống, liên hệ LS toàn quốc
với LSĐP” [44; 9].
Tại Hội thảo khoa học về vấn đề “Nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy
nhấn mạnh đến vai trò của tư duy tích cực trong việc lĩnh hội tri thức. Ông
cho rằng chỉ có phát huy tư duy tích cực, độc lập của học sinh mới giúp các
em chủ động lĩnh hội kiến thức.
I.F.Kharlamop trong cuốn "Phát huy tính tích cực của HS như thế
nào" (Nxb Giáo dục, 1978), tác giả đã đề cập đến những biện pháp nhằm kích
thích hoạt động nhận thức của học sinh. Theo ông, để giờ học đạt kết quả cao
thì nhiệm vụ trọng tâm là phải phát huy tính tích cực.
B.P.Êxipôp (nhà giáo dục học Liên Xô trước đây), trong cuốn " Những
cơ sở của lý luận dạy học" (tập 3, Nxb Giáo dục, 1971), tác giả nhấn mạnh
đến việc nâng cao tính tích cực, sáng tạo và tính tự lập, ham hiểu biết của HS
trong quá trình học tập. Đồng thời nêu rõ nhiệm vụ của nhà trường là phải
phát triển tính tích cực của HS và PP làm việc tự lập của HS.
N.V.Savin trong cuốn "Giáo dục học" (Tập 1, Nxb Giáo dục, 1983) đã
nêu ra vấn đề làm thế nào để khơi gợi được hoạt động nhận thức tích cực của
HS để các em nắm được tri thức, kĩ năng, kĩ xảo. Đồng thời tác giả cũng chỉ
ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả DH như sử dụng đồ dùng trực quan, tư
liệu DH, tình huống có vấn đề, hứng thú học tập và đặc biệt là phát huy tính
tích cực của HS.
T.A. Ilina đã đề cập đến những con đường nâng cao hiệu quả bài học
trong cuốn "Giáo dục học" (tập 1, Nxb Giáo dục, 1979), tác giả nhấn mạnh
yêu cầu tăng cường mối quan hệ của việc giảng dạy những cơ sở khoa học với
đời sống, đặt ra cho GV nhiệm vụ tìm cách phát huy tính tích cực của HS,
phát triển ở các em năng lực nhận thức và sáng tạo, xây dựng kỹ năng, kỹ xảo
độc lập.
8
Trên cơ sở các công trình nghiên của các nhà giáo dục học nêu trên, các
nhà giáo dục sử học có nhiều công trình nhiên cứu về vấn đề phát huy tính
tích cực của HS trong dạy học LS, tiêu biểu như I.Ia.Lecne, N.G Đairi.
I.Ia.Lecne trong cuốn "Phát triển tư duy của HS trong dạy học LS"
(Tài liệu dịch thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội, 1982), đã đặc biệt
Hà Nội, 2001), cũng trình bày một số vấn đề về tính tích cực, độc lập, tự giác
của HS trong quá trình học tập. Tác giả nhấn mạnh đến vai trò của hứng thú đối
với việc phát huy tính tích cực của HS trong học tập. Từ đó, tác giả đưa ra một
số biện pháp để phát huy tính tích cực nhận thức của HS trong giờ lên lớp.
Đặng Thành Hưng trong cuốn "Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp,
kĩ thuật" (Nxb ĐHQG Hà Nội, 2002) đã đề cập đến vấn đề tích cực hóa và
biện pháp tích cực hoá để thể hiện mình và phát triển. Đồng thời, tác giả cũng
nêu lên các biện pháp, kĩ thuật nhằm làm cho giờ học đạt kết quả cao như: kĩ
thuật ghép nhóm, kĩ thuật sử dụng câu hỏi, kĩ thuật sử dụng và khai thác các
phương tiện, tài liệu DH, đây thực sự là giải pháp về tổ chức nhằm đảm bảo
quá trình học tập diễn ra tích cực và hiệu quả.
Giáo trình "Phương pháp dạy học lịch sử" của Phan Ngọc Liên, Trần
Văn Trị (chủ biên) xuất bản các năm 1976 (tập 1), năm 1980 (tập 2), tái bản
nhiều lần sau đó, đã dành hẳn một phần đề cập đến vấn đề phát triển các năng
lực nhận thức, năng lực hành động của HS trong dạy học LS. Đặc biệt là cuốn
"Phương pháp dạy học lịch sử" (tập 1,2 Nxb ĐHSP Hà Nội, 2002) do giáo sư
Phan Ngọc Liên chủ biên, tái bản và có sửa chữa năm 2009, 2010 đã hoàn
chỉnh hơn vấn đề sử dụng sách giáo khoa, tài liệu tham thảo và phát huy tính
tích cực của HS trong dạy học LS.
Trong cuốn "Phát huy tính tích cực của HS trong dạy học LS ở trường
trung học cơ sở" do Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng chủ biên (Nxb Giáo
dục, 1998) đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực
HS trong dạy học LS ở trường trung học cơ sở, khẳng định tầm quan trọng
10
của tài kiệu tham khảo và đề ra những con đường, biện pháp, hình thức để
phát huy tính tích cực của HS trong học tập LS.
Cuốn "Đổi mới dạy học lịch sử lấy "Học sinh làm trung tâm"" do giáo
sư Phan Ngọc Liên chủ biên (Nxb ĐHQG, 1996) và cuốn "Đổi mới PPDH
lịch sử ở trường phổ thông" (Một số chuyên đề) do giáo sư Phan Ngọc Liên
chủ biên đã cho chúng ta thấy đổi mới PPDH nói chung, dạy học LS nói riêng
Việc nghiên cứu thành công đề tài sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất
lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông, cũng như góp phần làm tài liệu tham
khảo cho các đồng nghiệp ở Lạng Sơn khi dạy học giai đoạn lịch sử này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sử dụng tài liệu LSĐP Lạng
Sơn trong dạy học LSVN (1945 - 1954).
3.2. Trong khuôn khổ của một Luận văn Thạc sĩ, chúng tôi sẽ không đi
sâu vào nghiên cứu tiết dạy LSĐP riêng biệt. Trên cơ sở tìm hiểu lí luận và
thực tiễn liên quan đến đề tài, chúng tôi tập trung đề xuất các hình thức, biện
pháp sử dụng tài liệu LSĐP Lạng Sơn trong dạy học LSVN (1945 - 1954) cho
HS lớp 12 các trường THPT ở Lạng Sơn theo hướng phát huy tính tích cực HS.
Tác giả soạn nội dung “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp (1946 - 1950)" (tiết 3) để thực nghiệm sư phạm
theo các biện pháp đã đề xuất trong Luận văn, hình thức DH nội khóa ở lớp
12 trường THPT Đồng Đăng - Lạng Sơn.
4. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
4.1. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn DH lịch sử nói chung,
vận dụng các hình thức, PPDH tích cực khi tiến hành sử dụng tài liệu LSĐP
trong dạy học LSDT lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) nói riêng, đề tài sẽ:
- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu LSĐP
trong dạy học LSVN.
12
- Khảo sát, điều tra thực trạng về việc dạy học LSĐP trong dạy học
LSVN.
- Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu LSĐP khi tiến hành
dạy các bài LSVN (1945 - 1954) lớp 12 THPT (chương trình chuẩn) theo
hướng phát huy tính tích cực HS.
- Chỉ rõ những yêu cầu và PP luận vận dụng các hình thức, biện pháp
khi sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy các bài LSVN (1945 - 1954) .
4.2. Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận DH bộ môn về sử
dụng các PPDH. Việc hoàn thành đề tài này sẽ giúp chúng tôi nâng cao trình
độ về lí luận DH, nhất là các hình thức, biện pháp vận dụng các PPDH tích
cực vào dạy học LSĐP trong bài LS dân tộc.
6.2. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được tác giả ứng
dụng rộng rãi vào quá trình DHLS ở trường THPT. Mong rằng đây cũng là tài
liệu tham khảo bổ ích cho học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lí luận
và PPDH môn LS.
7. Giả thuyết khoa học
Dạy học LSĐP nói chung, sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN
theo hướng phát huy tính tích cực HS là một xu thế tất yếu của nền giáo dục
hiện đại, nền giáo dục vừa giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá, bản sắc
dân tộc vừa có khả năng hội nhập quốc tế. Nếu GV có quan niệm đúng đắn về
sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LS dân tộc, nắm được lí luận DH bộ
môn và áp dụng hiệu quả các hình thức, biện pháp sư phạm theo những đề
xuất của Luận văn, đảm bảo các yêu cầu và PP luận đã nêu sẽ góp phần nâng
cao chất lượng DH bộ môn ở trường phổ thông.
14
8. Đóng góp của đề tài
Luận văn có đóng góp về khoa học và thực tiễn ở các mặt sau:
- Tiếp tục khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu lịch
LSĐP trong dạy học LSVN.
- Cung cấp thêm thực trạng việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học
LSVN theo hướng phát huy tính tích cực HS.
- Đề xuất các hình thức, biện pháp vận dụng các hình thức, PPDH tích
cực khi sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN theo hướng phát huy tính
tích cực học sinh.
9. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
lịch sử chính là tài liệu thành văn, tài liệu hiện vật và tài liệu trực quan.
*Lịch sử địa phương
Tìm hiểu thuật ngữ “địa phương" là một cơ sở để nắm vững nội hàm
khái niệm "lịch sử địa phương". Cho đến nay, có nhiều quan niệm về "địa
phương". "Địa phương là những vùng, những khu vực trong quan hệ với
những vùng, những khu vực trong nước" [39;11], "địa phương là những khu
16
vực, vùng được phân ra từ một tổ chức cao nhất là Trung ương" [39; 321], và
có thể hiểu một cách đơn giản "địa phương" là những gì không phải là
"Trung ương", "cả nước", "dân tộc" [39; 11].
Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia,
có sắc thái đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu
thành của đất nước. Theo nghĩa cụ thể thì địa phương là đơn vị hành chính
của một quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, quận, xã phường, thôn, bản, ). Còn
hiểu một cách khái quát thì địa phương là những vùng đất, khu vực nhất định
được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (nhưng không có địa giới
hành chính) để phân biệt với vùng đất khác về mặt tự nhiên, kinh tế, như
miền Bắc, miền Trung, miền Nam, cụ thể là vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Nam
Trung Bộ.
Với những nhận thức trên, chúng ta có thể hiểu LSĐP chính là lịch sử
các làng, các xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng, miền. Cụ thể hơn,
đó chính là lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của các địa phương. LSĐP
còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường
học, cơ quan, xí nghiệp, xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đều gắn với một địa
phương nhất định. Song nội dung của nó mang tính chuyên môn, kỹ thuật, do
đó các ngành nghiên cứu xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành.
Từ định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy LSĐP có hai đối tượng nghiên
cứu chính:
- Lịch sử các đơn vị hành chính (thôn, xã, huyện tỉnh, thành phố, ), cụ
thể là quá trình hình thành, ổn định và phát triển của một địa phương và các
những công trình kiến trúc nghệ thuật, các di tích lịch sử, cách mạng ở địa
phương. Những sử liệu vật chất có giá trị chân thực, giúp chúng ta xác định
một số vấn đề đặt ra đối với những thời đại xa xưa, khi chữ viết chưa ra đời
hoặc góp phần xác minh những sự kiện thu thập được từ các nguồn khác nhau.
18
Tài liệu dân tộc học: miêu tả một cách sinh động nền văn hoá vật chất,
tinh thần, sinh hoạt xã hội của con người như: phong tục, tập quán, hội hè,
nghi lễ
Tài liệu ngôn ngữ học: có hai hình thức phổ biến là phương ngôn và địa danh.
Tài liệu truyền miệng: là nguồn tư liệu vô cùng phong phú giúp các nhà
nghiên cứu lịch sử nói chung, LSĐP nói riêng biên soạn và giảng dạy lịch sử
có sức hấp dẫn, truyền cảm. Tài liệu truyền miệng bao gồm các loại như:
truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, hò vè, truyện kể của các cụ già, của các cán bộ
lão thành cách mạng; những câu chuyện truyền lại trong Lễ hội - Hội làng.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập chung khai thác các nguồn tài
liệu chủ yếu sau:
Tài liệu thành văn được ghi trong các sách, tạp chí, chuyên khảo đã
xuất bản, các báo cáo từ các hội nghị, hồi kí các nhân chứng lịch sử
Các di tích lịch sử: là những địa điểm của tỉnh đã từng diễn ra các sự
kiện, hiện tượng từ năm 1945 - 1954.
Tài liệu truyền miệng
Do nội dung các nguồn tài liệu về LSĐP phong phú như vậy nên hình
thức và biện pháp sử dụng cũng rất đa dạng, nhưng trong phạm vi đề tài, chúng
tôi chỉ tập trung đề cập đến việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN.
1.1.1.3. Đặc điểm của việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSVN
Để dễ dàng nhận biết đặc điểm của việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy
học LSVN, chúng tôi tiến hành một vài so sánh nhỏ, cụ thể là so sánh tiết dạy
LSVN có sử dụng tài liệu LSĐP với tiết dạy LSVN không sử dụng tài liệu
LSĐP và tiết dạy LSĐP riêng biệt (được quy định trong PPCT Bộ GD- ĐT)
Về kiến thức:
Tiết dạy LSĐP được quy định trong phân phối trường trình do bộ GD –
ĐT ban hành là 04 tiết, lớp 10: 01 tiết, lớp 11: 01 tiết; lớp 12 : 02 tiết. Với số
tiết quy định này đã cho thấy Bộ GD – ĐT đã coi trọng việc giáo dục LSĐP
cho thế hệ trẻ. Nhưng LSĐP là một bộ phận của LSDT, là một dòng chảy nhỏ
20
trong dòng chảy LSDT, đôi chỗ dòng chảy này hợp vào dòng chảy LSDT, khi
sự kiện xảy ra tại địa phương trở thành sự kiện LS chung của dân tộc, được
ghi trong chương trình và SGK. Việc dạy học LSĐP như đã nêu trên có ý
nghĩa to lớn trên cả 3 mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đối với HS, thì
việc dạy học LSĐP chỉ thực hiện từ 01- 02 tiết cho một khối lớp theo phân
phối chương trình là rất ít và để đảm bảo được việc giáo dục HS và khắc phục
được hạn chế do quy định số tiết của Bộ GD – ĐT đưa ra thì biện pháp tốt
nhất là cùng với các tiết dạy LSĐP riêng biệt, GV sử dụng thường xuyên tài
liệu LSĐP trong dạy học LSDT. Để việc sử dụng tài liệu LSĐP trong dạy học
LSDT một cách hiệu quả cần dụng tài liệu LSĐP trong dạy học LSDT theo
hướng phát huy tính tích cực của HS.
1.1.1.4 . Một số yêu cầu khi sử dụng tài liệu LSĐP trong DHLS Việt Nam ở
trường THPT
Căn cứ vào đặc điểm của tài liệu LSĐP và đặc trưng của quá trình
DHLS ở trường THPT, việc sử dụng tài liệu LSĐP trong DHLS Việt Nam
cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
Thứ nhất, mục đích sử dụng: Các tài liệu LSĐP được sử dụng trong
giảng dạy LSVN cần phải nhằm mục đích chung của bộ môn LS và mục tiêu
của giáo dục. Sử dụng tài liệu LSĐP nhằm làm phong phú thêm nội dung LS
và nâng cao hiểu biết của HS về LSĐP. Một trong những nguyên tắc của việc
dạy học LS là liên hệ kiến thức quá khứ với thực tế, làm sống lại sự kiện LS
trong cuộc sống hiện tại. Vì vậy, khi giảng dạy LS thế giới và LSDT cần hiểu
rõ LSĐP. Quy luật chung của LS thế giới và lịch sử dân tộc được thể hiện
trong LSĐP. Tuy mỗi địa phương có nét đặc thù nhưng nó làm phong phú cái
chung và đều mang nét chung của LSDT.
THPT, HS ở thành phố với HS ở nông thôn,… để xác định nội dung cơ bản
phù hợp với từng đối tượng HS. Sau đó mới lựa chọn các tài liệu LSĐP phù
hợp với từng đối tượng, tránh trường hợp tài liệu quá dễ hay quá khó với trình
độ nhận thức của các em.
22