SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phần lịch sử Việt Nam (lớp 12) ở trường THPT Ngô Gia Tự - Pdf 26



-1-
MỤC LỤC
PHẦN A . ĐẶT VẤN ĐỀ . Trang
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2
PHẦN B:GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 2

1.1. Một số quan niệm về hiệu quả bài học lịch sử. 2
1.2. Quan niệm về sơ đồ tư duy. 3
2. THỰC TRẠNG. 4
2.1. Thuận lợi và khó khăn: 4
2.2. Tác dụng của sơ đồ tư duy: 5
3 . MỘT SỐ CÁCH THỨC THỰC HIỆN TRONG VIỆC SỬ DỤNG 5
SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT.
3.1. Nguyên lí hoạt động 5
3.2. Phương thức tạo lập 6
3.3. Cách thức thực hiện trong việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử ở
trường THPT. 6
a. Sử dụng sơ đồ tư duy để giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức tổng hợp về bài học.
6
b. Sử dụng sơ đồ tư duy như một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm kiếm kiến
thức của học sinh theo từng mục của bài. 13
c. Sử dụng sơ đồ tư duy như một công cụ để củng cố, khái quát bài học của học sinh
21

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn hiện nay, sự thách thức của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, đòi
hỏi phải có nguồn nhân lực, người lao động có đủ phẩm chất và năng lực để đáp ứng yêu
cầu của xã hội trong thời kỳ mới. Người lao động phải có khả năng thích ứng, khả năng thu
nhận và vận dụng linh hoạt sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều kiện hoàn cảnh thực tế,
tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Để có nguồn nhân lực đó, đòi hỏi việc cần thiết phải đổi mới giáo dục, trong đó có
đổi mới mục tiêu giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học. Bồi dưỡng cho người
học năng lực tự học, khả năng thực hành và lòng say mê học tập, ý chí vươn lên.
Mặc khác, trong thời đại ngày nay, lượng thông tin khoa học phát triển rất nhanh, nổi
lên những vấn đề có tính chất toàn cầu đối với giáo dục, đó là việc giải quyết mâu thuẫn
ngày càng tăng giữa khối lượng tri thức dường như tăng vô hạn với thời gian học tập có hạn
trong nhà trường. Do đó, đặt ra yêu cầu cấp bách đối với giáo dục là làm sao với một lượng
thời gian học tập có hạn trong nhà trường, giáo viên có thể cung cấp những nội dung kiến
thức cơ bản nhất của môn học đến với học sinh.
Xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội, Có thể nói rằng việc dạy học lịch sử ở các
trường THPT nói chung và dạy học lịch sử ở trường THPT Ngô Gia Tự nói riêng có vai trò
quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ là những chủ nhân của đất nước trong tương lai, như
Bác Hồ ta đã nói “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em”
Như chúng ta đã biết Lịch sử là một môn học đặc thù với những chuỗi sự kiện,
diễn biến đã diễn ra trong quá khứ. Vì vậy, nhiệm vụ của dạy học Lịch sử là khôi phục lại
bức tranh quá khứ để từ đó rút ra bài học từ quá khứ, vận dụng nó vào cuộc sống hiện tại và
tương lai. Đây là môn học yêu cầu người học phải “Biết sự kiện – Hiểu sự kiện – Nhớ sự
kiện”, từ đó có sự phân tích, tư duy logic, khái quát và đánh giá sự kiện. Tuy nhiên các đồ
dùng dạy học truyền thống hiện nay còn rất nhiều hạn chế, chưa thể đáp ứng đầy đủ những
yêu cầu của bộ môn và yêu cầu của quá trình đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử.
Trong việc khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách sinh động thì phương tiện trực quan là
một yếu tố hết sức cần thiết. Do đó, bên cạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy

lâu, chính xác, nhiều các sự kiện lịch sử càng nhiều càng tốt. Một số khác chú ý hơn đến
hiệu quả của các bài học là phải phát triển được tư duy cho học sinh. Bởi vì việc đặt ra nhận
thức sẽ kích thích sự chú ý và tư duy tích cực cho học sinh, đồng thời sẽ chuẩn bị cho các
em tri giác tài liệu mới, tìm hiểu các sự kiện, đối tượng và hiện tượng mà các em đang
nghiên cứu, từ đó giúp cho học sinh các thao tác tư duy (phân tích, so sánh), thông qua việc
đặt nhiều câu hỏi trong giờ học và cố gắng tạo được không khí sinh động cho lớp học bằng
việc thực hiện hàng loạt các phương pháp, cách thức dạy học khác nhau: Chẳng hạn như
gọi học sinh đọc sách giáo khoa, sử dụng các đồ dùng dạy học (tranh, ảnh, sơ đồ minh họa,
tranh biếm họa, bản đồ giáo khoa…), tài liệu tham khảo và đặc biệt như: hiện nay sử dụng
cả phương tiện nghe nhìn (Công nghệ thông tin trong dạy học). Mục đích của giáo viên khi
thực hiện như vậy để nhằm yêu cầu học sinh tham gia vào giờ học nhiều hơn, phát huy được
tích tích cực học tập của học sinh, làm cho tiết học thêm sinh động. Nhưng nếu thực sự như
vậy chỉ mới dừng lại ở mức độ hiện tượng của tính sinh động hình thức. Thường những
quan niệm như thế dễ đưa đến tình trạng ôm đồm kiến thức, không biết lựa chọn vấn đề
trọng tâm, tất yếu là không đảm bảo được kiến thức cơ bản của bài học cần phải truyền thụ
cho học sinh và chắc chắn rằng hiệc quả bài học rất thấp.
Có thể nói rằng hiệu quả bài học phụ thuộc vào phần lớn công việc chuẩn bị của giáo
viên: Chuẩn bị bài học (giáo án được soạn theo chuẩn kiến thức kỹ năng, giảm tải nội dung
chương trình của Bộ Giáo Dục & Đào tạo, đồ dùng trực quan, tài liệu tham khảo, tổ chức
điều khiển giờ học, quan trọng nhất là tinh thần kỷ luật, hứng thú học tập…). Hiệu quả bài
học còn phụ thuộc vào điều kiện khách quan, không khí nhà trường, xã hội, điều kiện học
tập.
Nói tóm lại, một bài học được xem là có hiệu quả phải bồi dưỡng được những kiến
thức cơ bản được cho học sinh đồng thời phải có tác dụng giáo dục và phát triển tư duy cho
học sinh. Ba mặt bồi dưỡng này có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Nhiệm vụ
giáo dục và phát triển của bài học chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở hình thành kiến thức. -4-
Đồng thời, chính việc hoàn thành nhiệm vụ giáo dục và phát triển trong giờ học sẽ làm cho

người khả năng to lớn.
Dựa trên những đặc điểm đó của não bộ, Tony Buzan đã sáng tạo ra sơ đồ tư duy
theo nguyên lí hoạt động của bộ não. sơ đồ tư duy không những sử dụng chữ, số, các dòng
kẻ mà còn có thể sử dụng cả màu sắc và hình ảnh. Các dòng kẻ, chuỗi, chữ, số và các danh
sách được xử lí bằng chức năng thần kinh của não trái. Đây là bán cầu não được sử dụng
cho các công việc bình thường. Do đó khi sử dụng nó, tư duy sáng tạo của con người bị giới
hạn. Để thực sự trở nên sáng tạo, chúng cần sử dụng trí tưởng tượng - chức năng hoạt động
của bán cầu não phải như sự tri giác màu sắc, hình ảnh, nhịp điệu, không gian.
Với đặc điểm trên, sơ đồ tư duy kết hợp hoạt động của hai bán cầu não trái và não
phải. Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của
mình khi sử dụng sơ đồ tư duy. Như vậy, sơ đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại,
một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ. -5-
Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu
sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não.
1.3. Tác dụng của sơ đồ tư duy :
1.3.1. Đối với học sinh:
Sơ đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp
học cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu
dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, nhất là
môn học thuộc như Lịch sử, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau quên
phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã
học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng
trên lớp không biết cách tự nghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ
của mình. Sơ đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ
động sáng tạo và phát triển được tư duy.
Sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho
thấy bộ não con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra

-6-
trường vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế còn nhiều khó khăn. Song dạy học bằng sơ đồ tư duy
có thể dạy được ở tất cả các trường học, nơi cơ sở hạ tầng chưa được đầu tư hoặc đầu tư
chưa đầy đủ vẫn có thể áp dụng tốt bằng cách làm bảng phụ.
2. THỰC TRẠNG
Việc dạy học lịch sử ở trường THPT nói chung và dạy học bộ môn lịch sử ở trường
THPT Ngô Gia Tự nói riêng, có vai trò to lớn trong việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống
hướng đến đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người chủ của đất nước trong tương lai. Từ
thực tế đó, đặt ra cho giáo viên một trọng trách lớn lao. Người giáo viên phải không ngừng
học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng sư phạm, tìm ra những phương
pháp dạy học hiện đại, sử dụng thông thạo công nghệ thông tin trong dạy học để không
ngừng nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Trong nhiều năm qua, bản thân tôi là người trực tiếp đứng lớp, qua việc giảng dạy bộ
môn, dự giờ, tiếp xúc với học sinh, trao đổi chuyên môn kinh nghiệm với các bạn đồng
nghiệp, sinh hoạt cụm THPT, tôi nhận thấy có những vấn đề sau :
- Chương trình môn lịch sử 12 phần LSVN có nhiều nội dung phù hợp với phương pháp dạy
mới, củng cố bài bằng sơ đồ tư duy phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho học
sinh làm việc…
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học tập: phòng CNTT,
đèn chiếu, bảng phụ…
- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho con người (giáo viên và học sinh) có đi
ều kiện
tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau.
- Phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy bài mới, củng cố bài phù hợp tâm sinh lý
lứa tuổi học sinh, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền thống. Vì
vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích học sinh tư duy tích cực.
- Hiện nay đa số học sinh THPT rất ít chú ý đến việc học bộ môn lịch sử, xem nhẹ vị trí bộ
môn, coi động cơ học tập chỉ vì điểm số. (Dữ liệu điều tra) – Phụ lục 2
- Một số giáo viên mới ra trường do quá ôm đồm kiến thức dẫn đến tình trạng là giờ học quá
nặng nề, tất bật.

Câu 2. Nếu ngày mai có một bài kiểm tra một tiết môn sử và kiểm tra một tiết
môn toán thì em sẽ giành thời gian cho môn nào nhiều hơn.
(Khoanh tròn vào 1 trong 3 đáp án sau )
A.Môn Sử nhiều hơn.
B. Môn Toán nhiều hơn.
C. Cả hai môn như nhau.
Câu 3. Trong quá trình học tập môn Lịch sử em đã được học sơ đồ tư duy
chưa?
Câu 4. Thái độ học tập của em trong giờ học lịch sử có sử dụng sơ đồ tư duy?
A. Rất thích
B. Thích
C. Bình thường
D. Không thích
Câu 5 . Vì sao em thích học lịch sử theo sơ đồ tư duy?
A. Tạo sự hứng thú trong giờ học.
B. Dễ hiểu bài.
C. Nhớ kiến thức lâu.
D. Cả 3 lí do trên.
* Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên
Họ và tên: …………………………………
Nơi công tác (trường)……………………… -8-
Quận (huyện)…………………………………….
Xin anh , chị vui lòng cho biết ý kiến của mình về việc sử dụng công nghệ thông tin
trong dạy học lịch sử ở trường THPT Ngô Gia Tự hiện nay?
A. Tốt
B. Thường xuyên
C. Đôi khi


Môn Sử nhiều hơn

Môn Toán nhiều hơn Cả hai như nhau Tổng
phiếu
câu 2
Số
lượng
%
Số
lượng
% Số lượng %
29 5 17,2 21 72,4 3 10,4

chưa có Tổng
phiếu
câu 3
Số lượng % Số lượng %
29

Rất thích Thích Bình thường Không thích Tổng
phiếu
câu 4
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số

Tốt Thường xuyên Đôi khi Không sử dụng
Tổng
phiếu
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
8 1 12,5 1 12,5 6 75 0 0

Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít Không sử dụng
Tổng
phiếu
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số
lượng
%
Số


-10-
+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể thay thế
cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình. Sau đó có thể bổ
sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu , câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâu sắc
về chủ đề.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra
một cách dễ dàng.
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian.
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh. Trên
mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa.
+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2 đến
các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ. Các đường kẻ
càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn.
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ cong được tổ
chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn.
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu. Chúng ta thay đổi
màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm
nổi bật cũng như giúp lưu chúngvào trí nhớ tốt hơn.
3.3. Cách thức sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm nâng
cao hiệu quả bài học lịch sử theo đúng lý luận dạy học hiện đại. Ở đây tôi chỉ nêu lên một số

một cách sáng tạo, sinh động trên sơ đồ. Không những cung cấp cho học sinh kiến thức tổng
thể, qua sơ đồ tư duy còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ đó
đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài,
tức tìm ra mạch lôgich của bài học.
Ví dụ 2. Khi dạy bài 15. Phong trào dân chủ 1936->1939. trước hết giáo viên giới
thiệu nội dung kiến thức cần nắm trong bài học, hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy, tổ
chức cho học sinh làm việc theo cá nhân, dựa vào những nội dung trong SGK và bắt đầu xác
định kiến thức tổng quát nhất đó là Phong trào dân chủ 1936->1939, tiếp theo giáo viên
hướng dẫn học sinh xác định những ý lớn của bài: tình hình thế giới và trong nước ; phong -12-
trào dân chủ 1936-1939, từ ý lớn đó giáo viên gợi ý và giúp cho học sinh khai thác những ý
nhỏ trong từng ý lớn, cứ như thế cuối cùng giáo viên và học sinh đã hoàn thành sơ đồ tư duy
kiến thức theo ý mình muốn. Ví dụ 3. khi dạy bài 17. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến
trước ngày 19/12/1946. giáo viên hướng dẫn học sinh xác định kiến thức trung tâm của sơ
đồ từ đó gợi ý cho học sinh xác định ý lớn của bài học: tình hình nước ta trong những năm
đầu sau cách mạng tháng tám 1945; bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng,
giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính; đấu tranh chống ngoại xâm và nội
phản, bảo vệ chính quyền cách mạng, từ ý lớn đó giáo viên hướng dẫn cho học sinh khai
thác từng ý nhỏ của bài. Cuối cùng giáo viên và học sinh cùng hoàn thiện sơ đồ kiến thức
bài học. thông qua đó giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học, đồng thời phát huy tính
sáng tạo, khả năng tư duy của học sinh. Trong quá trình vẽ các nhánh của sơ đồ giáo viên
hướng dẫn học sinh sử dụng nhiều loại màu để vẽ các nhánh để xác định các kiến thức của
bài một cách tốt nhất.
-14-

3.3.2. Sử dụng sơ đồ tư duy như một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm
kiếm kiến thức của học sinh.
Với những ưu điểm của mình, sơ đồ tư duy trở thành một công cụ gợi mở, kích thích
quá trình tìm tòi kiến thức của học sinh. Bước quan trọng nhất là giáo viên giúp học sinh
phát hiện, tìm kiếm được trung tâm sơ đồ - trọng tâm bài học. Sau đó theo nguyên lí sơ đồ
tư duy là ý nọ gợi ý kia dần dần giúp học sinh khám phá kiến thức bài học. Bằng trí tưởng
tượng cùng sự tập hợp kiến thức từ các nguồn, học sinh phải biết cách phân tích tìm ra
những từ khóa, hình ảnh chính xác nhất. Khi các nhánh lớn được xây dựng giáo viên cũng
nên hướng dẫn học sinh sắp xếp theo thứ tự quan trọng bằng cách đánh số ở đầu mỗi nhánh.
Điều đó giúp học sinh dễ dàng ôn tập sau này. Cứ làm việc theo cách đó học sinh sẽ biết
cách tự mình vận động, tìm tòi khám phá, lĩnh hội tri thức một cách có hiệu quả theo từng
mục của bài.

Ví dụ 6. Dạy bài 12 . Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919-> 1925. phần
những chuyển biến mới giai cấp xã hội Việt Nam. Để giúp học sinh hiểu và khắc sâu
kiến thức phần này giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ theo sơ đồ sau:

-15- Ví dụ 7: Dạy bài 13. Phong trào dân tộc dân dân chủ ở việt Nam từ 1925->1930. phần
II. Đảng cộng sản Việt Nam. Để giúp học sinh khắc sâu và hiểu rỏ về sự ra đời của
ĐCSVN, nội dung của Hội nghị, ý nghĩa ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, giáo viên
hướng dẫn các em vẽ theo sơ đồ sau:


(1953-1954) - Lịch sử 12 - ct chuẩn), để học sinh nắm vững về chiến dịch Điện Biên Phủ,
đồng thời giúp các em về nhà tự tạo lập sơ đồ tư duy trên tinh thần và khả năng sáng tạo của
mỗi em, giáo viên có thể cung cấp cho các em sơ đồ tư duy sau: Như vậy để gợi mở và kích thích quá trình tìm kiếm kiến thức của học sinh trong quá

-19- Ví dụ 12: Khi dạy bài 22. Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống ĐQ Mỹ xâm
lược. Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965-1973)- Lịch sử 12 - ct
chuẩn), để học sinh nắm vững phần III. cuộc chiến đấu chống chiến lược “ Việt Nam hóa
chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của ĐQ Mỹ (1969 -1973), giáo viên hướng
dẫn học sinh xác định những ý lớn của mục I: nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa , từ
ý lớn đó giáo viên gợi ý và giúp cho học sinh khai thác những ý nhỏ trong từng ý lớn, cứ
như thế cuối cùng giáo viên và học sinh đã hoàn thành sơ đồ tư duy kiến thức theo ý mình
muốn.

3.3.3. Sử dụng sơ đồ tư duy như một công cụ để củng cố, khái quát bài học của
học sinh.
Sau mỗi tiết học, bao giờ cũng có phần củng cố, nhắc lại kiến thức trọng tâm. Với
cách học truyền thống, học sinh ghi chép và thực hiện kiến thức theo trật tự tuyến tính nên
khả năng nhớ kiến thức thường ít hơn < 50% dung lượng bài. Sử dụng sơ đồ tư duy giúp các
em khắc phục được hạn chế đó. Sau mỗi giờ học, khi cần củng cố kiến thức học sinh chỉ cần
nhìn vào sơ đồ tư duy có thể tái hiện được 80% - 90% kiến thức bài học. Đến khi ôn thi học
sinh không phải mất một lượng lớn thời gian để đọc lại kiến thức như cách học truyền thống
mà chỉ cần quan sát lại sơ đồ tổng thể vẫn có thể tái hiện nội dung bài học một cách cụ thể,
chi tiết. Như thế
học sinh vừa nâng cao được kết quả học tập vừa tiết kiệm được thời gian.
Trong các bước lên lớp của một tiết dạy, việc củng cố nội dung bài học rất cần thiết,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status