PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA KHOÁ LUẬN
Du lịch được biết đến là một trong những ngành kinh tế tăng trưởng nhanh
nhất trên thế giới, góp phần tạo ra việc làm, tăng nguồn thu, cải thiện cơ sở hạ
tầng, nâng cấp các di sản văn hoá, khuyến khích phát triển kinh tế, giao lưu văn
hoá và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giưã các khu vực, thông qua đó góp phần
bảo vệ và gìn giữ hoà bình trên thế giới. Vai trò, vị trí và hiệu quả nhiều mặt của
du lịch rất dễ thuyết phục và được nhiều biết đến, được chính phủ nhiều nước
chấp nhận.
Ở Việt Nam du lịch đang cố gắng phát triển nhanh và bền vững làm cho
“Du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”. Việt Nam đang
phấn đấu đẻ đẩy mạnh xúc tiến du lịch, đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng vật
chất kỹ thuật để từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm
cỡ của khu vực, phấn đấu đến năm 2020 đưa Du Lịch Việt Nam vào nhóm nước
có ngành du lịch phát triển hàng đầu khu vực.
Cùng với sự phát triển chung của du lịch cả nước, du lịch Hà Nội cũng
đang có những bước phát triển nhanh chóng nhờ những ưu thế cạnh tranh là
trung tâm kinh tế, chính trị, du lịch...của Việt Nam. Rất nhiều những hoạt động
du lịch hấp dẫn trong những tour đa dạng được khai thác nhằm đáp ứng mọi nhu
cầu của du khách trong và ngoài nước. Hà Nội đang chuẩn bị lễ kỷ niệm 1000
năm “ Thăng Long -Đông Đô - Hà Nội” và những tiềm năng du lịch sẵn có khác
như nhân văn, tự nhiên...đã tạo ra rất nhiều những tour du lịch độc đáo, trong đó
phải kể đến chương trình du lịch sông Hồng hiện được khai thác bởi xí nghiệp
đầu tư và phát triển du lịch sông Hồng( thuộc Công ty Du lịch và Thương mại
tổng hợp Thăng Long) dưới sự giúp đỡ về chuyên môn của một số cơ quan
chuyên ngành như Sở Du lịch Hà Nội , Tổng cục du lịch...Tuy mới hoạt động
1
khoảng gần 10 năm nhưng tuyến du lịch sông Hồng cũng góp phần không nhỏ
trong việc phát triển du lịch Hà Nội nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, tiềm năng của tuyến du lịch sông Hồng còn rất phong phú và
đa dạng nhưng vẫn chưa được khai thác hiệu quả trong đó quan trọng nhất là yếu
như:
+ Quản lý
+ Lưu trú
+ Dịch vụ bán hàng , phục vụ khách hàng
+ Hướng dẫn viên tại điểm
* Cơ sở hạ tầng và sơ sở vật chất kỹ thuật
+Phương tiện vận chuyển
+Bến bãi
+Thắng cảnh
+Vui chơi giải trí
* Đào tạo nhân lực
* Các chính sách, cơ chế
4.2. Một số kiến nghị
* Với xí nghiệp đầu tư và phát triển du lịch sông Hồng
* Với chính quyền địa phương
* Với Tổng cục du lịch
5. KẾT CẤU KHOÁ LUẬN
5.1. Phần mở đầu
5.2. Phần nội dung
CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận về du lịch và du lịch bền vững
3
CHƯƠNG 2: Tiềm năng và thực trạng tuyến du lịch sông Hồng
CHƯƠNG 3: Kiến nghị xây dựng chương trình tour mới và một số giải
pháp
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG
1.1. KHÁI NIỆM VỀ DU LỊCH:
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của du lịch:
Du lịch bắt nguồn từ mong muốn được sống sót, khát vọng được chinh
1.1.2. Định nghĩa về du lịch:
Kể từ khi ra đời đến nay đã có khá nhiều quan niệm khác nhau về du lịch.
Thuật ngữ du lịch được bắt nguồn từ Pháp:”Tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc
dạo chơi, còn “tourtiste” là người đi dạo chơi.
Trong vòng hơn 6 thập kỷ vừa qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội quốc tế
các tổ chức du lịch IUOTC ( International Union official Travel organiration)
năm 1925 tại Hà lan, khái niệm du lịch luôn luôn được tranh luận. Đầu tiên, du
lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ
ở của mình trong từng khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ
ngơi, giải trí hay chữa bệnh. Ngày nay, người ta đã thống nhất rằng về cơ bản tất
cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hayngoài nước trừ việc đi cư
trú chính trị, tìm việc làm và xâm lược, đều mang ý nghĩa du lịch [10,11,12].
Như vậy du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép. Một mặt, nó
mang ý nghĩa thông thường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ
5
ngơi, giải trí. Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là
hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế, sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo
ra.
Trong điều kiện kinh tế phát triển, du lịch là một hoạt động không thể
thiếu được trong cuộc sống bình thường cua mỗi người dân. ở các chuyến du lịch
trong hoặc ngoài nước, con người không chỉ dừng lại ở việc nghỉ ngơi, giải trí
mà còn nhằm thoả mãn cả những nhu cầu to lớn về mặt tinh thần. Mỗi quốc gia
dân tộc đếu có những đặc trưng riêng biệt về tự nhiên, lịch sử, văn hoá, truyền
thống... thu hút khách du lịch. Thông qua việc phát triển du lịch quốc tế, sự hiểu
biết và mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng được mở rộng. Năm 1979, Đại
hội của tổ chức du lịch thế giới (WTO) đã thông qua hiến chương du lịch và
chọn ngày 27/9 làm ngày du lịch thế giới với các chủ đề cho từng năm gắn du
lịch với việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, vì nền hoà bình và
tình hữu nghị trên toàn thế giới. Du lịch không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc
quyền của cá nhân hay nhóm người nào đó. Ngày nay nó mang tính phổ biến và
con ngưòi.Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp
xúc với những thành tựu văn hoá phong phú đa dạng và lâu đời của các dân tộc,
từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế hình thành những
phẩm chất đạo đức tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn. Điều đó quyết định
sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội.
1.1.3.2. Chức năng kinh tế:
Chức năng kinh tế của du lịch liên quan mật thiết với vai trò của con
người như là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Một mặt nó góp phần vào
7
việc phục hồi sức khoẻ cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản
xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt.
Chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở một khía cạnh khác đó là
dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ
chế lao động của nhiều ngành kinh tế. Chính vì vậy dịch vụ du lịch là cơ sở quan
trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước.
1.1.3.3. Chức năng sinh thái:
Chức năng sinh thái của du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môi
trường sống ổn định về mặt sinh thái. Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng
kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoá môi trường thiên nhiên bao
quanh bởi vì chính môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và các hoạt
động của con người. Mặt khác việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập
trung khách vào những vùng nhất định lại đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sử
dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Đến lượt mình, quá trình này kích thích việc
tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo sử dụng nguồn tài nguyên một
cách hợp lý. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ
chặt chẽ. Một mặt xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt
khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của dòng khách
du lịch và của việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Du lịch- bảo vệ môi
trường là những hoạt động gần gũi và liên quan đến nhau.
1.1.3.4. Chức năng chính trị;
trình văn hoá, kiến trúc, các phong tục tập quán.
e. Du lịch công vụ:
Du lịch- hội nghị nhằm phục vụ cho những thành viên đi dự hội thảo , hội
nghị nên họ có khả năng chi trả cao. Đây là loại hình rất có tiềm năng phát triển.
f. Du lịch tôn giáo:
Nhằm thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo tôn giáo
khác nhau. Đâylà loại hình lâu đời và phổ biến với hai dạng cơ bản: đi thăm nhà
thờ, đền chùa vào ngày lễ hội và đi xưng tội.
g. Du lịch thăm hỏi:
Nảy sinh do nhu cầu giao tiếp xã hội, nhằm thăm hỏi bà con họ hàng, bạn bè
thân quen...Hình thức du lịch này có ý nghĩa quan trọng đối với những nước có
nhiều người sống ở nước ngoài.
1.1.4.2. Phân loại theo phạm vi lãnh thổ:
- Du lịch trong nước ( nội địa):
10
Được hiểu là chuyến đi của người du lịch từ chỗ này sang chỗ khác nhưng
trong phạm vi đất nước mình, chi phí bằng tiền nước mình. Điểm xuất phát và
điểm đến đều nằm trong lãnh thổ một nước.
- Du lịch quốc tế:
Được hiểu là chuyến đi từ nước này sang nước khác. Du lịch quốc tế được
chia làm hai loại: du lịch chủ động và du lịch bị động. Du lịch chủ động là nước
này chủ động đón khách du lịch nước khác đến và tăng thêm thu nhập ngoại tệ.
Du lịch bị động là nước này gửi khách đi du lịch sang nước khác và mất một
khoản ngoại tệ.
1.1.4.3. Phân loại theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch:
- Du lịch nghỉ biển:
Là những cơ sở du lịch nằm ở vùng ven biển với mục đích khách tắm biển.
Trên phạm vi thế giới số khách du lịch lớn nhất là cơ sở khách du lịch đi nghỉ
biển.
- Du lịch nghỉ núi:
5 - Du lịch thiếu niên: dưới 17 tuổi, thường đi du lịch trong dịp hè hoặc theo
chương trình học tập, thăm quan.
6 - Du lịch gia đình: hình thức đi nghỉ cả gia đình.
1.1.4.7. Phân loại theo hình thức tổ chức:
7 - Du lịch có tổ chức theo đoàn với sự chuẩn bị chương trình từ trứơc hay
thông qua các tổ chức du lịch như đại lý lữ hành, tổ chức công đoàn...
8 - Du lịch cá nhân: cá nhân tự định ra tuyến hành trình, kế hoạch lưu trú, địa
điểm và ăn uống tuỳ nghi.
12
13
1.2-CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG:
1.2.1.Khái niệm:
Khái niệm về du lịch bền vững mới xuất hiện trên cơ sở cải tiến và nâng cấp
khái niệm về du lịch mềm của những năm gần đây.
Theo hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC), 1996 thì “ Du lịch bền
vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn
đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”
[3,63].
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách
nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu câù kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong
khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản , đa dang
sinh học và các hệ đảm bảo sự sống [Hens L, 19].
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
• Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế, môi trưòng.
• Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển.
• Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa.
• Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.
• Duy trì chất lượng môi trường.
1.2.2.Các nguyên tắc của du lịch bền vững:
• Sử dụng tài nguyên một cách bền vững bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã
Bền vững môi trường là sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên nhằm đáp
ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm phương haị đến nhu cầu của thế hệ
tương lai [3, 40].
15
b. Những tác động của du lịch đền môi trường:
9 Tác động tích cực:
• Bảo tồn thiên nhiên.
• Tăng cường chất lượng môi trường
• Đề cao môi trường
• Cải thiện hạ tầng cơ sở
• Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương
10 Tác động tiêu cực:
• Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước
• Nước thải
• Rác thải
• Ô nhiễm khí
• Ô nhiễm tiếng ồn
• Ô nhiễm phong cảnh
• Làm nhiễu loạn sinh thái
1.2.3.2. Bền vững về kinh tế:
a. Khái niệm:
Bền vững kinh tế là kinh tế phát triển ổn định giữa các thành phố, các vùng,
các cộng đồng và các cá nhân trong một thời gian dài nhằm tạo ra lợi nhuận cho
nhiều người [3, 42].
b. Những tác động của du lịch đến kinh tế địa phương:
11 * Tác động tích cực:
Du lịch tạo thu nhập, ngân sách, giải quyết công ăn việc làm, nguồn thu ngoại
tệ... Điều đó giúp cho việc nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương, phát
triển kinh tế địa phương, kinh tế vùng và quốc gia. Du lịch tạo ra chất xúc tác để
16
18
• Tăng cường khả năng giao lưu, trao đổi văn hoá giữa du khách và người dân
địa phương, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hoá của cả hai phía
cũng như sự hiểu biết, hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác.
14 * Tác động tiêu cực:
• Quá tải dân số và mất các tiện nghi môi trường nhất định dành cho người dân
địa phương. Khi khách du lịch quá đông người dân địa phương sẽ bị tranh
giành tiện nghi giao thông, nhà hàng, chợ búa và xuất hiện cảm giác bực bội
vì mất chủ quyền.
• Sự xói mòn bản sắc văn hoá, lòng tự tin do sự vượt trội hơn của các đặc trưng
văn hoá ngoại lai do du khách mang đến so với văn hoá bản địa. Hiểu lầm và
xung đột có thể nảy sinh giữa khách và chủ vì những khác biệt ngôn ngữ, thói
quen, tôn giáo và cách ứng xử.
• Các tệ nạn xã hội có nguy cơ bùng phát liên quan với sự phát triển du lịch.
1.2.4. Mối quan hệ giữa phát triển du lịch bền vững và cộng đồng dân địa
phương:
Du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang khách hàng đến sản phẩm, chứ không
mang sản phẩm đến khách hàng [7, 25]. Sản phẩm du lịch không chỉ không gian
môi trường nơi cộng đồng địa phương sử dụng hoặc sở hữu mà còn là chính
cộng đồng địa phương với bản sắc văn hoá của họ. Hoạt động du lịch bền vững
chỉ thực sự được thực thi nếu cộng đồng địa phương từ vai trò là “sản phẩm” du
lịch hoặc đứng ngoài du lịch được tham gia vào lĩnh vực du lịch dưới dạng:
• Tham gia quy hoạch phát triển du lịch.
• Tham gia vào việc lập quyết định liên quan đến phát triển của điểm du lịch.
• Tham gia hoạt động và quản lý hoạt động du lịch ở những vị trí, ngành nghề
phù hợp.
Sự không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ của cộng đồng địa
phương sẽ khiến chính họ trở thành “ sản phẩm” bị cho hoạt động du lịch hoặc
19
họ sẽ khai thác tài nguyên du lịch theo kiểu của họ không có lợi cho hoạt động
tiền mặt hoặc các khuyến khích vật chất khác. Nông dân
có thể cung cấp ruộng và lao động, nhưng được thu hút
vào việc thí điểm hay quá trình học tập. Điều rất thường
20
thấy là tuy mang tiếng là tham gia, song người dân
không có vai trò gì trong việc kéo dài các công nghệ
hoặc công tác thực hành khi các khuyến khích kết thúc
5. Tham gia chức
năng
Sự tham gia được các cơ quan bên ngoài xem như một
phương tiện để đạt được các mục tiêu của dự án, đặc
biệt là để giảm chi phí. Người dân có thể tham gia bằng
cách lập ra các nhóm để đáp ứng các mục đích đã định
trước mang tính tương tác và kéo theo sự chia sẻ. Về sau
khi các quyết định chủ yếu đã được đưa ra bởi các cán
bộ từ nơi khác đến. Trong trường hợp xấu nhất, người
dân địa phương đã được mời đến phục vụ cho những
mục đích thứ yếu.
6. Tham gia có tính
tương tác
Người dân tham gia vào việc cùng phân tích, triển khai
các kế hoạch hành động và thành lập hoặc tăng cường
các cơ quan địa phương. Tham gia được xem là một
quyền, không chỉ là một phương tiện nhằm đạt những
mục tiêu của dự án. Quá trình này bao gồm các phương
pháp luận liên ngành nhằm tìm kiếm đa mục tiêu và tận
dụng các quá trình học tập hệ thống và có kết cấu. Vì
các nhóm thực hiện sự kiểm soát đối với các quyết định
địa phương và xác định xem các nguồn lực hiện có đã
được sử dụng ra sao cho nên họ có vai trò trong việc
24 Nhà nghỉ <= 25% nhà địa phương.
25 Số giường nghỉ cực đại bằng số dân địa phương (1: 1)
26 Tránh xây khách sạn lớn
27 Cộng đồng địa phương tích cực tham gia vào các quyết định phát triển du lịch
22
28 Cơ sở hạ tầng cho khách du lịch có một văn phòng thông tin du lịch, không
có hoặc rất ít cơ sở dịch vụ như làm đầu, nướng bánh, tạp phẩm chỉ dành cho du
khách, dễ tiếp cận với các tiện nghi môi trường.
1.2.5.2. ECOMOST: Mô hình du lịch bền vững của công đồng Châu Âu (Ecomost:
european Community Models of Sustainable Tourism).
Mô hình Ecomost được xây dựng thử nghiệm tại Mallorka, Tây Ban Nha. Đây là
một trung tâm du lịch lớn nhất châu Âu. Mallorka phát triển được là nhờ du lịch:
50% thu nhập nhờ du lịch cuối tuần. Để khắc phục tình trạng suy thoái của
ngành du lịch ở Mallorka, một chương trình nghiên cứu xây dựng mô hình
DLBV đã được tiến hành.
Theo mô hình ECOMOST, phát triển DLBV cần gắn kết ba mục tiêu chủ yếu là:
• Bền vững về mặt sinh thái: bảo tồn sinh thái và đa dạng sinh học, phát triển
du lịch cần phải tôn trọng khả năng tải của hệ sinh thái.
• Bền vững về mặt văn hoá xã hội:bảo tồn được bản sắc xã hội muốn vậy mọi
người quyết định phải có sự tham gia của cộng đồng.
• Bền vững về mặt kinh tế: đảm bảo hiệu quả kinh tế và quản lý tốt tài nguyên
sao cho tài nguyên có thể tiếp tục phục vụ cho các thế hệ tương lai.
Ba yêu cầu chính nhằm duy trì khu du lịch:
• Dân số cần được duy trì hợp lý và giữ vững bản sắc văn hoá
• Cảnh quan cần duy trì được sự hấp dẫn du khách
• Không làm gì gây hại cho sinh thái
Muốn đạt được ba yêu cầu trên cần có một yêu cầu thứ 4:
• Có một cơ chế hành chính hiệu quả. Cơ chế này phải nhằm vào thực hiện các
nguyên tắc, phát triển bền vững, đảo bảo thực thi một kế hoạch hiệu quả và
tổng hợp cho phép sự tham gia của cộng đồng vào hoạch định các chính sách
lịch chẳng mảy may ảnh hưởng đến họ hay nói cách khác đa số những người dân
bản địa xứ Bali không hề được hưởng chút lợi lộc gì từ nguồn thu này.
Mô hình cơ cấu du lịch phi lý này đã hướng một số tổ chức phi chính phủ
[NGC] của Inđônêxia và các nhà hoạt động vì môi trường vào việc tìm kiếm các
giải pháp thay thế. Mục đích của họ là tăng cường sự tham gia của người dân địa
phương vào các hoạt động du lịch, trút bỏ gánh nặng mà các cộng đồng bản địa
đang phải gánh chịu và đảm bảo việc phát triển du lịch một cách bền vững.
• Nghiên cứu, quy hoạch và triển khai:
Nhận thấy rõ tính khả thi của dự án này các nhà hoạch định đã giới thiệu các
chuyến du lịch chuyên đề dưới dạng các tour du lịch trọn gói tự chọn cho cả du
khách trong nước và nước ngoài. Nội dung chương trình các chuyến đi là sự kết
hợp giữa nghiên cứu dự án phát triển với du lịch giải trí mà không bỏ qua mục
tiêu và nhiệm chính.
Nhằm giảm đến mức tối đa sự hiểu nhầm và nhận thức sai lệch, sự tham gia
của người dân bản xứ là rất quan trọng trong giai đoạn đầu quy hoạch một
chương trình du lịch như vậy. Nhân viên làm công tác du lịch phải cố vấn cho
cộng đồng bản xứ về việc lên kế hoạch chuyến đi, đặc biệt những khía cạnh đời
sống thường ngày và các chuẩn mực xã hội cơ bản có thể giới thiệu cho du
khách lập kế hoạch chuyến đi cũng bao gồm việc chuẩn bị và lựa chọn cộng
đồng bản địa nào sẽ đến thăm. ở giai đoạn này nhân viên làm công tác du lịch sẽ
là cộng tác viên, giữ vai trò quan trọng trong việc thông báo trứơc cho người dân
bản xứ mục đích của các cuộc viếng thăm. Nội dung thông báo liên quan đến
mục đích của chuyến đi, giới thiệu khái quát về du khách và các thông tin cần
thiết khác. Khâu này là tối cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
giao lưu, xây dựng quan hệ tin cậy lẫn nhau và đảm bảo các sản vật địa phương
có thể đem lại thu nhập cho dân địa phương.
25