BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẢO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN CẢNH
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC LỄ HỘI
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC PHẦN
LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 7 Ở TRƯỜNG THCS
TỈNH THANH HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẢO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN CẢNH
KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC LỄ HỘI
LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC PHẦN
LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 7 Ở TRƯỜNG THCS
TỈNH THANH HOÁ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. HOÀNG THANH HẢI
NGHỆ AN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành
nhất đến:
- PGS.TS. Hoàng Thanh Hải, người trực tiếp hướng dẫn khoa học
đã tận tình chỉ bảo và động viên tôi trong suốt qúa trình học tập và thực
hiện luận văn.
- Các thầy cô trong tổ Bộ môn PPDH Lịch sử, khoa Lịch sử trường
Đại học Vinh, khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều
1.1. Cơ sở lí luận 13
1.1.1. Khái quát chung về lễ hội và lễ hội lịch sử 13
1.1.2. Cách phân loại lễ hội 18
1.1.3. Ý nghĩa việc sử dụng lễ hội lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS
20
1.2. Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1. Mục đích điều tra 24
1.2.2. Đối tượng điều tra 25
1.2.3. Nội dung điều tra 25
1.2.4. Phương pháp điều tra 25
1. 2.6. Một số nhận xét 29
Tiểu kết chương 31
Chương 2 MỘT SỐ HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÁC
LỄ HỘI LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 7 TỈNH THANH HOÁ
2.1. Cơ sở khoa học của việc sử dụng các lễ hội lịch sử địa phương trong dạy học
học lịch sử Việt Nam ở THCS 33
2.1.1. Mục tiêu, nội dung kiến thức cơ bản chương trình phần lịch sử lớp 7
hiện nay 33
2.2. Một số hình thức, biện pháp sử dụng các lễ hội lịch sử địa phương trong dạy
học phần lịch sử Việt Nam lớp 7 ở Tỉnh Thanh Hóa 38
2.2.1. Nguyên tắc khai thác và sử dụng các lễ hội lịch sử trong dạy học lịch sử
Việt nam lớp 7 ở tỉnh Thanh Hóa 38
2.2.3. Các hình thức, phương pháp sử dụng LHLS địa phương trong dạy học
lịch sử ở trường THCS ở Tỉnh Thanh Hóa 48
2.3. Thực nghiệm sư phạm 62
2.3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 62
2.3.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm sư phạm 63
2.3.3. Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm 63
việc dạy học lịch sử ở trường THCS. Rất tiếc, vì nhiều lý do khác nhau, lợi
thế này chưa được phát huy.
1.3. Thanh Hóa là một tỉnh lớn có truyền thống lịch sử lâu đời, mảnh
đất của “tam vương, nhị chúa”, nơi phát tích của các vương triều như Tiền Lê,
Hồ, Hậu Lê, Trịnh, Nguyễn, nơi sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, tiêu biểu
như: Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Lợi, nơi gắn với những sự
kiện lịch sử lớn của dân tộc như 3 lần kháng chiến chống quân Nguyên-
Mông, kháng chiến của nhà Hồ, khởi nghĩa Lam Sơn, khởi nghĩa Tây Sơn,
kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ… Vì vậy, hiện nay Thanh
Hóa vẫn còn lưu giữ nhiều LHLS về các nhân vật đó, các sự kiện đó. Gắn với
các di tích lịch sử là nhiều lễ hội lịch sử được tổ chức hàng năm, tiêu biểu như
lễ hội đền Bà Triệu, lễ hội đền thờ Lê Phụng Hiểu, lễ hội trao ấn tại đền thờ
Lý Thường Kiệt (Hà Ngọc, Hà Trung) lễ hội đền thờ Lê Hoàn, lễ hội Lê Lai.
Lễ hội Lam Kinh, Lễ hội Cửa Đặt, lễ hội Đền Hàn Sơn, lễ hội Phủ Na….
Tuy nhiên, cũng như các tỉnh, thành khác, do nhận thức của các cấp
quản lý, của GV, HS, do thiếu các tài liệu hướng dẫn, do biện pháp khai thác,
sử dụng chưa hiệu quả, chưa khoa học, hình thức dạy học còn nghèo nàn…
nên hệ thống các LHLS vẫn còn ít được được khai thác, sử dụng trong dạy
học lịch sử các cấp học.
1.4. Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
mở rộng giao lưu quốc tế hiện nay, việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá
nói chung, LHLS nói riêng, cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Nghiên cứu
khai thác, sử dụng hiệu quả các LHLS trong dạy học lịch sử ở trường THCS sẽ
góp phần quan trọng trong việc giáo dục cho HS ý thức tôn trọng, gìn giữ các
di sản văn hoá của dân tộc, niềm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước
1.5. Cho đến nay, đã có một số công trình khoa học đề cập đến những
khía cạnh khác nhau liên quan đến đề tài, nhưng chưa có một công trình
2
nghiên cứu đầy đủ, hệ thống về lý luận PPDH lịch sử, về việc sử dụng, khai
thác LHLS nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THCS.
học, tư liệu lễ hội lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS.
- Thứ hai, tổng quan về tình hình bảo tồn, phát huy các giá trị của lễ hội
trên thế giới, ở nước ta hiện nay nói chung và ở Thanh Hoá nói riêng.
2.1. Lý luận dạy học nói chung, lý luận dạy học lịch sử nói riêng,
nhất là về ý nghĩa, vai trò, hình thức, phương pháp sử dụng phương tiện
dạy học, tư liệu lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THCS
- Các công trình nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học của Liên Xô
(cũ) như “Phát triển tư duy của học sinh” của M. Alêxeep [55]; “Tư duy học
sinh” của M.N. Sacđacốp” [56] … đã khẳng định cơ sở tâm lý của việc trực
quan sinh động trong học tập lịch sử khi “ tạo biểu tượng trong sáng và muôn
màu muôn vẻ về các sự vật, hiện tượng đang học. Có thể thực hiện nhiệm vụ
này cho học sinh tri giác các LHLS và các di sản văn hoá” [34;58 ]. N.K.
Crupxcaia coi công tác tham quan, học tập tại LHLS là một công tác quan
trọng trong nhà trường. “Đây là một phương thức dạy cho học sinh đọc cuốn
sách của cuộc sống” [2;59].
Các công trình trên cũng đã dành một số chương đề cập đến những
nguyên tắc, phương pháp tiến hành học tập tại LHLS. Chương XI trong bộ
“Những cơ sở của lý luận dạy học”, tập III [44; 63] đã trình bày ý nghĩa về các
mặt trí, đức, dục của việc tham quan, vị trí của nó trong quá trình dạy học cũng
như hình thức tổ chức các hoạt động của học sinh trong thời gian tham quan.
Tiến sĩ N.G Đai-ri với công trình “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế
nào [57] đã trình bày một vấn đề quan trọng của việc dạy học lịch sử, đó là
“Vấn đề giờp học lịch sử trong những phương thức nhằm nâng cao chất lượng
4
giờ học bộ môn theo hướng mới của lý luận dạy học Xô Viết”. Tác giả nhấn
mạnh “Tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì nó
cho phép hình dung lại quá khứ”[ 20;25] và quan niệm “việc tổ chức công tác
nghiên cứu thực tế, nghiên cứu tại những nơi xảy ra các sự kiện lịch sử là một
“trong những điều kiện hiện có của hoạt động dạy và học để hình thành tư
duy tự lập và tính tự lập của học sinh” [20;26]. Ông cũng đã chỉ ra rằng, thầy
Các nhà nghiên cứu lý luận về dạy học lịch sử Việt Nam với công trình
“Phương pháp dạy học lịch sử” [29, 30], do GS.TS. Phan Ngọc Liên chủ
biên, xuất bản các năm 1992, 2005… đã đề cập đến việc khai thác, sử dụng
LHLS trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông nói chung cà trường THCS
nói riêng. Trong các phần “Hệ thống các phương pháp dạy học”, “Bài học
lịch sử”, “Công tác ngoại khoá lịch sử” của công trình này đã nêu ý nghĩa
nhiều mặt của LHLS trong dạy học lịch sử. Các tác giả đã coi đó là những tài
liệu hiện vật, đồ dùng trực quan hàng đầu trong các tài liệu và đồ dùng dạy
học bộ môn. Nó có ý nghĩa bổ sung, cụ thể hoá, minh hoạ sinh động cho các
sự kiện lịch sử mà học sinh được cung cấp. Các tác giả cũng nêu những hình
thức và biện pháp sử dụng LHLS có tính khả thi và hiệu quả như tổ chức bài
học tại thực địa, tham quan ngoại khoá, công tác công ích tại các địa điểm
LHLS… Trong một số công trình nghiên cứu khác, như: ”Rèn luyện kỹ năng
nghiệp vụ sư phạm” [19], ”Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
học lịch sử ở trường THCS ” [17], ”Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy
học lịch sử ở trường THCS ” [65:68]
Các tác giả khác, như Hoàng Thanh Hải trong ”Lịch sử Thanh Hóa dùng
trong trường phổ thông, CĐSP” [27], Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên) trong
”Giáo trình phương pháp nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương”
[62] đã đề cập một số hình thức, phương pháp giảng dạy các bài lịch sử địa
phương tại LHLS ở Thanh Hóa, Việt Bắc
6
Trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước, như Tạp chí Giáo
dục, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Tạp chí khoa học trường ĐHSP Hà Nội
đăng tải một số bài nghiên cứu như: ”LHLS và việc tích cực hóa hoạt động
nhận thức của HS” [24:47]; ”Tổ chức hướng dẫn cho học sinh THCS tham
gia lễ hội xuân tại LHLS” [37; 59] đã khái quát một số vấn đề lý luận về sử
dụng LHLS trong dạy học lịch sử ở trường THCS.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lý luận dạy học và lý luận dạy học
bộ môn nêu trên đã nêu lên những cơ sở khoa học cho việc đổi mới PPDH
thống về lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ HS, SV thông
qua các LHLS. Tác giả cũng nêu rõ mối quan hệ giữa di tích, bảo tàng, lễ hội,
trong đó lễ hội đóng vai trò trung tâm. Cuốn ”60 lễ hội truyền thống” của Lê
Trung Vũ và Thạch Phương [82] đã mô tả khái quát 60 lễ hội truyền thống
tiêu biểu ở các LHLS nước ta, như các lễ hội Đền Hùng, Đền Hai Bà Trưng,
Trường Yên, Lam Kinh Cuốn sách cũng đã giới thiệu các LHLS tiêu biểu
của đất nước trên các mặt, như: vị trí cảnh quan, ý nghĩa, nội dung sự kiện mà
di tích phản ánh
Trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như ”Tạp chí khảo cổ”, ”Nghiên
cứu Đông Nam Á”, ”Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật”, ”Nghiên cứu lịch
sử” đã có những số chuyên đề về công tác bảo tồn, phát huy các LHLS, như
” Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á” dành hẳn số 24, tháng 3 năm 1996 cho
chuyên đề ”Sử dụng và khai thác các lễ hội” với các bài viết về tổng quan các
LHLS ở Việt Nam, về thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các lễ hội ở
nước ta hiện nay ”Diễn đàn sử học 3003” đã công bố một số công trình
nghiên cứu về LHLS ở nước ta cả về lý luận và thực tiễn của các nhà nghiên
cứu văn hóa hàng đầu, như Nguyễn Quốc Hùng, Phạm Mai Hùng, Trần Lâm
Bền, Lưu Trần Tiêu
8
Thanh Hóa là một tỉnh lớn, có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước oanh liệt
hàng nghìn năm của dân tộc. Vì vậy, Thanh Hóa là một trong số tỉnh có số
lượng lớn về LHLS trong cả nước. Cho đến nay, nghiên cứu về các LHLS ở
các góc độ khác nhau, như giới thiệu lễ hội, đánh giá giá trị lịch sử, văn hóa
của lễ hội, trình bày nội dung sự kiện, nhân vật lịch sử mà lễ hội phản ánh,
thực trạng công tác bảo tồn, phát huy tính tích cực của các lễ hội đã có
nhiều thành tựu đáng kể. Các công trình tiêu biểu như ”Địa chí Thanh Hóa,
tập 1: Địa lý và lịch sử, tập 2: Văn hóa” [38, 39], ”Lịch sử Thanh Hóa, tập 1,
tập 2” [7,8]. Đặc biệt 5 tập :" Thanh Hóa di tích và danh thắng” của Ban
Quản lý di tích danh thắng Thanh Hóa [ 2,3,4,5,6,7 ] đã giới thiệu bức tranh
chung về tổng quan hệ thống LHLS ở Thanh Hóa như: lịch sử hình thành,
học lịch sử ở trường THCS tỉnh Thanh Hoá hiện nay
- Nghiên cứu đề xuất được các hình thức, phương pháp khai thác, sử
dụng một cách hiệu quả các LHLS, nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử
ở các trường THCS tỉnh Thanh Hoá hiện nay nói riêng, cả nước nói chung
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng lễ hội lịch sử trong dạy
học lịch sử ở trường THCS.
- Đánh giá thực trạng việc sử dụng lễ hội lịch sử trong dạy học lịch sử ở
trường THCS ở tỉnh Thanh Hóa
- Nghiên cứu các nguyên tắc, biện pháp sư phạm sử dụng lễ hội lịch sử
trong dạy học lịch sử ở trường THCS
- Thực nghiệm sư phạm các lớp 7 ở trường THCS của tỉnh Thanh Hóa
nhằm kiểm chứng các vấn đề lý luận nêu trên
5. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Thực hiện đề tài này, chúng tôi quán triệt các quan điểm của chủ nghĩa
Mác Lê Nin và tư tưởng HCM, đường lối của Đảng CSVN về lịch sử và giáo
10
dục lịch sử, về khai thác và sử dụng lễ hội lịch sử địa phương trong dạy học
lịch sử ở trường THCS.
5. 2. Phương pháp nghiên cứu.
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Quan sát, điều tra thu thập thông tin về thực trạng sử dụng các lễ hội
lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút ra
những bài học kinh nghiệm, đề xuất các biện pháp sư phạm khoa học.
- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến đề tài
- Thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần để kiểm chứng các
biện pháp sư phạm sử dụng lễ hội lịch sử địa phương trong các hoạt động nội
khóa và ngoại khóa lớp 7 ở một số trường THCS tỉnh Thanh Hóa.
5.2.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
tinh hoa văn hóa của dân tộc cho các lớp thế hệ mai sau, giúp cho học sinh
thấy được trách nhiệm đối với những giá trị lịch sử dân tộc để lại, luôn phải
giữ gìn và ý thức trách nhiệm bảo vệ các giá trị lịch sử của dân tộc, quê
hương.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng các lễ hội lịch sử
địa phương trong dạy học lịch sử trường THCS.
Chương 2. Một số hình thức, biện pháp sử dụng các lễ hội lịch sử địa
phương trong dạy học phần lịch sử Việt Nam lớp 7 ở trường THCS tỉnh
Thanh Hóa
12
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
CÁC LỄ HỘI LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯÒNG THCS
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái quát chung về lễ hội và lễ hội lịch sử
Việt Nam là một quốc gia dân tộc có hàng nghìn năm lịch sử. Cũng như
nhiều quốc gia trên thế giới khác, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc
riêng. Chính những nét đó làm nên cốt cách, hình hài và bản sắc của dân tộc
ta. Trong kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam, sinh hoạt lễ hội là vùng văn
hóa rất đặc trưng có mặt khắp làng quê trong cả nước. Lễ hội là hình thức sinh
hoạt văn hóa tinh thần biểu hiện những giá trị tiêu biểu của cộng đồng, một
dân tộc. Ở nước ta, lễ hội được tổ chức bao gồm nhiều mặt của đời sống xã
hội như tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, sự tích về các vị anh hùng,
diễn xướng dân gian … Hằng năm, đất nước ta có hàng nghìn lễ hội được tổ
Hội ẩm, hội binh, hội diện, hội đồng, hội họp, hội ý, hội kiến, hội minh, hội
nghị, hội quán, hội tâm, hội thí, hội trường, hội trưởng, hội viên, hội xã.Trong
đó không có từ hội lễ [1;388]
Theo nhà văn hóa học, Đoàn Văn Chúc lại xây dựng khái niệm lễ hội từ
cụm từ Lễ - Tết - Hội, theo nghĩa gốc hán, và từ khái niệm lễ, khái niệm tết,
khái niệm hội, ông cho rằng đều chỉ một loại hình nghi thức, cũng là một loại
hình phong tục vào trong đời tại được thực hiện sống xã hội, xâm nhập vào
nhau, đan xen vào nhau. Theo ông, lễ là một sự bày tỏ kính ý đối với một sự
14
kiện hay tự nhiên, hư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện phổ biến theo nghi
thức rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ nhằm biểu hiện giá trị của đối
tượng được cừ lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ.
Hội là cuộc vui chơi bằng vô số các hoạt động giải trí công cộng diễn ra
tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỉ niệm một sự kiện xã hội hay tự
nhiên, nhằm biểu đạt sự phấn khích, hoan hỷ của công chúng dự lễ ’’[2; 132].
Việc phân tích các quan niệm lễ hội trên dựa vào cấu trúc của lễ hội, theo đó
lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội. Tuy nhiên, cách phân chia này chỉ mang
tính chất tương đối. Như chúng ta đã biết, lễ hội là một sự kiện văn hóa mang
tính cộng đồng. “ Lễ ”, có nghĩa là hệ thống những hành vi, động tác nhằm
biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh
Như vậy, lễ trong lễ hội cần được hiểu theo nghi thức, cách thức tiến
hành những qui tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng để đánh dấu, kỷ
niệm một sự kiện, nhân vật nào đó nhằm mục đích cảm tạ, tôn vinh, ước
nguyện về sự kiện, nhân vật đó với mong muốn nhận được sự may mắm tốt
lành, nhận được sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ
cúng. Đó là những sinh hoạt tinh thần của các cá nhân hay tập thể, là sinh
hoạt của cả cộng đồng trong đời sống tín ngưỡng tâm linh, hướng về đối
tượng siêu nhiên có phép màu gọi là thần, trong mối quan hệ “ Người - Thần
”,vốn luôn tồn tại trong tâm thức và hành động của con người.
Lễ và hội là một thể thống nhất không thể tách rời. Lễ là phần tín
thành nhu cầu khát vọng của người dân cần được đáp ứng và thỏa nguyện qua
mọi thời đại. Bản chất của lễ hội là sự tổng hợp và khái quát cao đời sống vật
chất, tinh thần của người dân trong xã hội của từng giai đoạn lịch sử.
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều lễ hội lịch sử, như lễ hội Lê Hoàn, Lễ hội
Lam Kinh ở huyện Thọ Xuân, Lễ hội đền Nưa ở huyện Triệu Sơn, Lễ hội Phủ
16
Na ở huyện Như Thanh, lễ hội Cửa Đặt, lễ hội Đền Hàn Sơn xã Hà Sơn,
huyện Hà Trung
Thông qua các lễ hội này, có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho việc
hình thành nhân cách cho học sinh hiểu được ý nghĩa lịch sử. Đây là phương
pháp học quan trọng, là phương tiện trực quan có sức thuyết phục và sinh
động nhất, giúp cho học sinh cái nhìn chân thực nhất về quá khứ lịch sử của
dân tộc. Vì vậy, lễ hội có vai trò và có ý nghĩa quan trọng trong giáo dục và
phát huy tinh thần và sức mạnh của dân tộc.
Do đặc điểm của việc học lịch sử, không trực tiếp quan sát được các sự
kiện, nên sử dụng phương pháp trực quan là rất quan trọng. Trực quan là một
trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học, nhằm tạo cho học sinh
những biểu tượng, hình ảnh, khái niệm.
Trong việc giảng dạy lịch sử, chúng ta nên nghĩ đến làm thế nào để HS
của ta học sử ta, sao cho có hiệu quả hơn để khỏi phải nằm trong tình trạng
chữ thầy trả lại cho thầy. Dĩ nhiên, trong cuộc sống không có sử, chẳng văn
chương cũng chẳng chết ai, nhưng điều đó rất nguy hại cho sự tồn vong của
cả một dân tộc. Vì vậy, chúng ta nên hạn chế việc một chiều, tổ chức học lịch
sử gắn liền với thực tế cuộc sống thông qua các phương pháp dạy học sau :
+ Sử dụng đồ dùng dạy học lịch sử trực quan các bài tập nhận thức, thảo
luận trong giờ học
+ Tổ chức bài học tại thực địa ( Nơi diễn ra sự kiện lịch sử ), hay ở bảo
tàng hoặc nhà truyền thống.
+ Tiến hành các hoạt động ngoại khóa,thăm quan khu di tích, diễn lại các
tích xưa của sự kiện lịch sử.
vào thời gian để chia lễ hội mùa xuân, lễ hội mùa thu, hay nơi tổ chức ở chùa
18
hay ở đình … Cách phân chia nào cũng có mặt hợp lý, nhưng cũng đều không
tránh khỏi những chồng chéo, bất hợp lý của nó ”.
Như vậy, việc phân loại lễ hội tùy thuộc vào cách tiếp cận và tiêu chí của
mỗi nhà nghiên cứu. Sự phân chia trên cũng chỉ mang tính tương đối. Một di
tích kiến trúc nghệ thuật thường được xây dựng tại một địa điểm lịch sử, gắn
với những sự kiện, nhân vật lịch sử. Các LHLS thường có vị trí, cảnh quan
thiên nhiên đẹp…
Xét dưới góc độ của những người làm công tác quản lý nhà nước về lễ
hội, năm 2001, Bộ trưởng Bộ VHTT, ban hành quyết định số 39 / 2001/QĐ-
BVHTT kèm theo qui chế tổ chức lễ hội. Quy chế này đã đưa ra 4 loại lễ hội
ở nước ta cần phải điều chỉnh là : Lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ
hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào.
Lễ hội đã và đang trở thành nhu cầu văn hóa của các tầng lớp nhân dân,
góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, nhân văn, giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc, thiết thực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương và trên cả nước.
Như vậy, xét trên nhiều yếu tố của lễ hội, ta thấy lễ hội rất đa dạng
và phong phú, là bộ phận hữu cơ hết sức quan trọng của các di sản văn
hóa phi vật thể, là tài sản quí giá của dân tộc trong dòng chảy của lịch sử
nước nhà.
Ngày nay, bước vào thời kì CNH- HĐH, giao lưu và hợp tác với các
quốc gia trên thế giới nên việc giữ gìn các giá trị văn hoá - lịch sử dân tộc. Bộ
môn lịch sử nói chung, các lễ hội lịch sử địa phương nói riêng có ưu thế và
nhiệm vụ to lớn trong việc giữ gìn và phát huy được những giá trị truyền
thống dân tộc. Song để làm được điều này cần phải nhận thức đúng vị trí, ý
nghĩa cũng như tầm quan trọng của việc dạy học lịch sử dân tộc nói chung và
lễ hội lịch sử địa phương nói riêng.
19