Tiểu luận giáo dục công dân: Vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 8 ở trường THCS. - Pdf 37

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TIỂU LUẬN
Đề tài: Vận

dụng phương pháp dạy học bằng tình huống

nhằm Giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học
môn Giáo dục công dân lớp 8 ở trường THCS.

Người hướng dẫn: TS. Phạm Việt Thắng
Học viên: Trần Thị Nguyệt
Lớp: Bồi dưỡng kiến thức pháp luật K2A


Hà Tĩnh, năm 2015
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới chất lượng của giáo dục đào tạo nói chung,
chất lượng giáo dục học sinh phổ thông nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Xuất phát từ tầm quan trọng của các bộ môn Giáo dục công dân nói
chung, mảng kiến thức giáo dục pháp luật nói riêng trong việc hình thành,
phát triển nhân cách, rèn giũa, định hướng, giáo dục hành vi đúng đắn cho
học sinh. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển xã hội chủ yếu dựa trên nền
kinh tế tri thức, cộng với trình độ phát triển cao của hoạt động dạy học và
giáo dục trên thế giới thì việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực
(trong đó có phương pháp dạy học tình huống) là việc làm cần thiết đối với
giáo viên dạy môn Giáo dục công dân.
3. Xuất phát từ thực trạng dạy và học bộ môn Giáo dục công dân trong nhà

và phát triển năng lực thực tiễn, thái độ, hành vi đúng đắn cho học sinh.
III. ĐỐI TƯỢNG
Phương pháp dạy học tình huống trong môn Giáo dục công dân tại
trường THCS.
IV. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

3


Nếu áp dụng PPNCTH vào giảng dạy mảng kiến thức pháp luật ở môn
Giáo dục công dân theo qui trình hợp lý, khoa học sẽ góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân.
V. NHIỆM VỤ VÀ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra thực trạng việc dạy và học môn GDCD tại trường THCS Xuân
Lĩnh
- Nghiên cứu, tổng hợp và khái quát hóa các cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng PPNCTH vào dạy học môn Giáo
dục công dân ở trường THCS Xuân Lĩnh
- Xây dựng tuyển tập hệ thống bài tập tình huống trong dạy học môn Giáo
dục công dân
2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Những năm gần đây
- Không gian: Tại trường THCS Xuân Lĩnh
- Nội dung: nghiên cứu phương pháp dạy học tình huống và áp dụng vào
thực tiễn giảng dạy môn GDCD hiện nay.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc sách, nghiên cứu tài liệu và
tổng kết lý thuyết.
4

Phương pháp dạy học đòi hỏi có sự tương tác tất yếu của thầy và trò,
trong quá trình đó thầy tổ chức sự tác động của trò đến đối tượng nghiên
cứu, mà kết quả là trò lĩnh hội được nội dung trí dục.
Những định nghĩa này đã nêu lên được một cách khái quát về phương
pháp dạy học. Qua quá trình nghiên cứu về phương pháp dạy học ta thấy
rằng giữa dạy và học có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp
học, chúng là hai hoạt động khác nhau về đối tượng, nhưng thống nhất với
nhau về mục đích, tác động qua lại với nhau và là hai mặt của một quá trình
dạy học. Trong sự thống nhất này phương pháp dạy giữ vai trò chỉ đạo, còn
phương pháp học có tính độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương
pháp dạy, nhưng phương pháp học có ảnh hưởng trở lại đối với phương pháp
dạy.
Phương pháp dạy có hai chức năng là truyền đạt và chỉ đạo. Phương
pháp học cũng có hai chức năng là tiếp thu và tự chỉ đạo.
Thầy truyền đạt cho trò một nội dung nào đó, theo một lôgic hợp lý,
và bằng lôgic của nội dung đó mà chỉ đạo, ( định hướng, tổ chức, hướng dẫn
và kiểm tra, đánh giá) sự học tập của trò. Trong bản thân phương pháp dạy,
hai chức năng này gắn bó hữu cơ với nhau, chúng không thể thiếu nhau
được. Trong thực tiễn, nhiều giáo viên chỉ chăm lo việc truyền đạt mà coi
nhẹ việc chỉ đạo. Người giáo viên phải kết hợp hai chức năng trên đây bằng
chính lôgic của bài giảng, với lôgic hợp lý của bài giảng, thầy vừa giảng vừa
truyền đạt ), vừa đồng thời điều khiển việc tiếp thu ban đầu và cả việc tự học
của trò. Vì vậy phương pháp dạy chính là mẫu, là mô hình cơ bản cho
phương pháp học trong tất cả các giai đoạn của sự học tập.
Còn về phía học sinh, khi học tập vừa phải tiếp thu bài thầy giảng, lại
vừa phải tự điều khiển quá trình học tập của bản thân. Nói cách khác, học
6



nó là vận dụng kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo việc giải quyết các bài tập nhận
thức.
Trong quá trình dạy và quá trình học thì quá trình dạy có vai trò chỉ
đạo trong cả ba giai đoạn của quá trình học, quá trình dạy hợp lý thì quá
trình học sẽ đạt kết quả cao.
1.1.1.2. Quan niệm về tình huống và phương pháp dạy học bằng tình huống
* Quan niệm tình huống:
“Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, trong đó chứa đựng những mâu
thuẫn xung đột. Người ta phải đưa ra một quyết định trên cơ sở cân nhắc các
phương án giải quyết khác nhau. Tình huống cũng có thể là một hoàn cảnh
gắn với câu chuyện có cốt truyện, nhân vật, có chứa đựng xung đột, có tính
phức hợp được viết ra để minh chứng một vấn đề hay một số vấn đề của
cuộc sống thực tế. Tình huống dạy học là những tình huống thực hoặc mô
phỏng theo tình huồng thực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích dạy học”.
Tình huống bao giờ cũng là tình huống có vấn đề.
“Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan
của bài toán nhận thức được chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và
có thể giải quyết được, kết quả là họ nắm được tri thức mới. Trong đó, vấn
đề học tập là những tình huống về lý thuyết hay thực tiễn có chứa đựng mâu
thuẫn biện chứng giữa cái (kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo) đã biết với cái phải
tìm và mâu thuẫn này đòi hỏi phải được giải quyết”.
“Tình huống có vấn đề, đó là trở ngại trí tuệ của con người, xuất hiện
khi anh ta chưa biết cách giải thích hiện tượng sự kiện, quá trình của thực tế,
khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen thuộc. Tình
huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới.
Tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo, có hiệu
8


quả. Nó quy định sự khởi đầu của tư duy, hành động tư duy tích cực sẽ diễn

của học sinh.
* Quan niệm về phương pháp dạy học bằng tình huống
Phương pháp dạy học bằng tình huống là phương pháp dạy học mà
trong đó giáo viên đặt học sinh vào một trạng thái tâm lý đặc biệt khi họ gặp
mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức giữa cái đã biết và cái phải
tìm, tự họ chấp nhận và có nhu cầu, có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó là
bằng tìm tòi, tích cực, sáng tạo, kết quả là họ giành được kiến thức và cả
phương pháp giành kiến thức .
Với phương pháp này giáo viên đặt trước học sinh một vấn đề sau đó
cho các em thấy rõ lợi ích về mặt nhận thức hay mặt thực tế của việc giải
quyết nó nhưng đồng thời cảm thấy có một số khó khăn về mặt trí tuệ do
thiếu kiến thức cần thiết nhưng thiếu sót này có thể khắc phục nhờ một số nỗ
lực của nhận thức.
Dạy học bằng tình huống có những đặc điểm sau:
Giáo viên phải tạo ra được mâu thuẫn nhận thức, có điều học sinh
chưa biết cần tìm hiểu, việc đi tìm lời giải đáp chính là đi tìm kiến thức, kỹ
năng, phương pháp mới.
Giáo viên gây được sự chú ý ban đầu, từ đó kích thích sự hứng thú tạo
nên nhu cầu nhận thức, khởi động tiến trình nhận thức của học sinh. Học
sinh chấp nhận mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.
Tình huống và vấn đề nêu ra phải rõ ràng, phù hợp với khả năng của
học sinh. Từ những điều quen thuộc, bình thường đã biết phải đi đến cái mới
(mục đích cần đạt được) học sinh cảm thấy có khả năng giải quyết được vấn
đề.
Dạy học bằng tình huống là một trong những yêu cầu quan trọng của
đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, dạy học bằng tình huống là một
10


trong những phương pháp dạy học hiện đại, hay phương pháp dạy học tích

quan điểm đó. Họ không bị phụ thuộc vào ý kiến và quyết định của giáo
viên khi giải quyết một tình huống cụ thể mà có thể đưa ra các phương án
giải quyết sáng tạo. Bên cạnh đó, dạy học bằng tình huống còn giúp người
học có thể chia sẻ tri thức, kinh nghiệm cho nhau; học được những ý kiến,
quan điểm, thông tin từ những bạn học khác làm phong phú hơn vốn tri thức
của họ.
Thứ ba: “Dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để
liên kết, vận dụng các kiến thức đã học được”. Để giải quyết một tình huống,
học viên có thể phải vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong
cùng một môn học hoặc của nhiều môn học khác nhau.
Thứ tư: “Dạy học bằng tình huống thông qua việc giải quyết tình
huống giúp người học có thể phát hiện ra những vấn đề cuộc sống đặt ra
nhưng bản thân chưa đủ kiến thức giải quyết”. Cuộc sống vốn đa dạng và
phong phú nên không loại trừ khả năng phát sinh những tình huống mà
người học và thậm chí cả người dạy chưa gặp bao giờ. Trong tình huống
này, người dạy phải định hướng và khơi gợi khả năng tư duy độc lập, sáng
tạo của người học được vận dụng, phát huy tối đa và không loại trừ khả năng
người học sẽ tìm ra được những các lý giải mới làm bổ sung thêm kiến thức
cho cả người học lẫn người dạy.
Thứ năm: “Phương pháp dạy học bằng tình huống giúp cho người học
có thể rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh
luận và thuyết trình”. Đây là những kỹ năng quan trọng giúp cho người học
có thể thành công trong tương lai. Học bằng tình huống giúp người học dễ
dàng nhận ra những ưu điểm và hạn chế của bản thân khi họ luôn có môi
trường thuận lợi để so sánh với các học viên khác trong quá trình giải quyết
tình huống. Từ đó họ sẽ có cơ hội học hỏi kỹ năng làm việc nhóm, tranh
12


luận và thuyết trình từ những học viên khác. Phương pháp học bằng tình

bằng tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học
sinh, đồng thời họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin,
giải pháp mới từ học viên để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài
giảng của mình, nhất là từ những học sinh có tư duy nhanh nhẹn sáng tạo.
Qua quá trình hướng dẫn học sinh nghiên cứu tình huống, giáo viên cũng có
thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình huống và có
những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.
1.1.2.2. Hạn chế của phương pháp dạy học bằng tình huống
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, phương pháp dạy và học bằng tình
huống còn có một số điểm hạn chế nhất định.
Thứ nhất: “Đối với các môn học là ngành khoa học xã hội, khi giảng
dạy bằng tình huống, các vấn đề xã hội thường được giải thích theo nhiều
quan điểm khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm sống, vào vốn
kiến thức xã hội và kinh nghiệm của người học. Vì vậy, đôi khi cuộc thảo
luận về tình huống sẽ không hướng theo con đường và dẫn đến một kết cục
như người soạn thảo tình huống mong muốn, nhất là trong những lớp học
mà học viên đa dạng về trình độ và đến từ những vùng miền khác nhau, và
giáo viên không có kinh nghiệp trong việc điều phối, dẫn dắt cuộc thảo luận”.
Thứ hai: “Phương pháp dạy học bằng tình huống đòi hỏi tinh thần tự
học, thái độ làm việc nghiêm túc và khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, năng
động. Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều học sinh không quen với phương
pháp học bằng tình huống, họ không có kỹ năng làm việc nhóm, thụ động, ỷ
lại, không hợp tác từ đó làm giảm hiệu quả của phương pháp dạy học bằng
tình huống”.
Thứ ba: “Phương pháp dạy học bằng tình huống tốn nhiều thời gian
của người học”. Trong phương pháp học truyền thống, trong một khoảng
14


thời gian nhất định, giáo viên có thể cung cấp một lượng kiến thức tương đối

họa cho kiến thức mà giáo viên vừa giảng và (2) kích thích học sinh tư duy
tại chỗ và dẫn dắt sang nội dung kiến thức tiếp theo”.
Loại 2 – Tình huống phức tạp: “Loại này bao gồm các tình huống
phức tạp hơn Loại 1 sử dụng với mục đích buộc học sinh chuẩn bị bài trước
khi lên lớp giờ thuyết giảng. Các tình huống phức tạp cần đủ dài vài bao
gồm một hoặc một số vấn đề nhằm gợi mở kiến thức bắt đầu giờ thuyết
giảng của một bài học mới. Các tình huống này cần được giao trước cho học
sinh cùng với tài liệu hướng dẫn để học sinh đọc. Các tình huống không cần
quá khó mà chỉ cần đủ để định hướng cho học sinh nghiên cứu và ghi nhớ
những khái niệm khởi đầu của bài học”.
Loại 3 – Tình huống đầy đủ: “Loại này bao gồm các tình huống phức
tạp nhất và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Mục đích của loại tình huống này
là để học sinh áp dụng các kiến thức đã học qua giờ thuyết giảng vào giải
quyết các vụ việc trong thực tiễn và qua đó học thêm kiến thức mới. Loại
tình huống này yêu cầu học sinh không những phải nghiên cứu tài liệu được
giao mà còn phải thực hiện các bước chuẩn bị theo yêu cầu của giáo viên.
Phương pháp nêu vấn đề sẽ hỗ trợ để giải quyết tình huống, trong đó học
sinh là người làm việc chính và giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh.
Về nội dung, tình huống này có độ phức tạp cao nhất. Nó thường bao gồm ít
nhất ba vấn đề xuyên suốt trong một hay nhiều bài học và do đó yêu cầu về
sự chuẩn bị của cả học sinh và giáo viên cũng ở mức độ cao nhất”.
Ngoài ba loại tình huống này ta cũng có thể phân chia các tình huống
theo độ mở của vấn đề trong tình huống. Theo cách phân loại này, giáo viên
có thể xây dựng các tình huống mở và các tình huống đóng. Tình huống mở
là các vụ việc mà trong đó lời giải để ngỏ hoặc có nhiều cách giải khác nhau.
Loại tình huống này rất tốt trong việc kích thích khả năng tư duy và rèn
16


luyện kỹ năng cho học sinh. Khi học sinh xử lý các tình huống thuộc loại

những vụ việc đã xảy ra và đã được giải quyết một cách sáng tạo. Nếu có
những vụ việc liên quan tới những nội dung kiến thức mà giáo viên đang
muốn học sinh tìm hiểu thì giáo viên có thể lấy tình tiết của vụ việc đó rồi
điều chỉnh tình tiết sự kiện cho phù hợp với yêu cầu của mình. Thứ hai, nếu
không tìm được vụ việc thực tế thì giáo viên có thể tự xây dựng nên một tình
huống giả định. Trong trường hợp này các tiêu chuẩn của một tình huống tốt
như phân tích trên đây phải được tuân thủ”.
Việc xây dựng được tình huống tốt là một công đoạn quan trọng trong
quá trình dạy học bằng tình huống .
1.2 Thực trạng của việc giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học
môn GDCD lớp 8 ở trường Trung học cơ sở.
1.2.1 Đặc điểm của địa bàn khảo sát
Ở địa bµn bản thân công tác là vùng nông thôn, miền núi còn gặp nhiều
khó khăn, các em chưa có điều kiện để giao lưu, học hỏi nhiều, đặc biệt các
thông tin về kiến thức pháp luật. Bởi thế các em còn rụt rè trong giao tiếp,
lúng túng trong việc xử lý những vấn đề liên quan đến pháp luật. Do đó có
những tình huống xẩy ra mà các em không lường trước được hậu quả của
nó. Đó chính là các em đang thiếu những kiến thức cơ bản về pháp luật.
Bên cạnh đó cơ sở vật chất còn thiếu thốn, tài liệu tham khảo còn hạn
chế, đặc biệt thiếu những tài liệu về kiến thức pháp luật. Mặt khác bộ môn
Giáo dục công dân lâu nay còn xem là môn phụ nên thường giáo viên dạy
trái cua, không được đào tạo bài bản nên dẫn đến sự lệch lạc trong việc dạy,
học . Đặc biệt kiến thức còn chung chung xa rời thực tế, học chưa đi đôi với
hành, học sinh chưa biết vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tế một
cách thiết thực.
Với đối tượng học sinh THCS có độ tuổi 11 đến 15. Đây là lứa tuổi
phát triển mạnh mẽ về thể chất lẫn tinh thần, bởi vậy thường khó bảo, dễ xúc
động. Chính vì thế mà các em dễ bị ảnh hưởng môi trường xung quanh, biến
những cái xung quanh thành thói quen và hành vi của mình. Vì vậy người
giáo viên bên cạnh là người truyền đạt tri thức còn là người dâi theo hµnh vi,

1.2.3.2 Nhng hn ch:
S dng PPDH bng tỡnh hung cũn mt nhiu thi gian. Cỏc tỡnh
hung a ra cũn di nờn cỏc em nm bt chm nờn vic x lớ tỡnh hung
mt nhiu thi gian. Bi vy khi s dng PPDH bng tỡnh hung giỏo viờn
cn lu ý:
- Tỡnh hung a ra phi phự hp vi ch phỏp lut trong bi hc
- Phự hp vi trỡnh nhn thc hc sinh
- Tỡnh hung phi gn gi vi cuc sng hc sinh d hỡnh dung
- Tỡnh hung ngn gn, d hiu nhng phi cha ng nhng mõu
thun cn gii quyt, gi ra cho hc sinh nhng suy ngh gii quyt liờn quan
n ni dung bi hc.
1.2.3.3 Nguyờn nhõn:

19


Về phía người dạy phải tìm hiểu và lựa chọn tình huống cho phù hợp
với bài học, đối tượng. Tình huống trong SGK còn dài nên giáo viên phải
sưu tầm hoặc suy nghĩ tình huống giả định.
Về phía người học, các em giải quyết tình huống còn chậm, nhiều em
lười suy nghĩ nên giờ học nhiều lúc chưa sôi nổi. Đặc biệt nhiều em chưa
biết liên tưởng lồng tình huống đó vào nội dung bài học.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương I đã đi sâu phân tích các nội dung cơ bản làm cơ sở lý
luận cho đề tài nghiên cứu như trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu
vấn đề trên thế giới và Việt Nam, giải thích những khái niệm cơ bản liên
quan đến đề tài. Đặc biệt các nội dung liên quan đến PPNCTH trong dạy học
như khái niệm, cấu trúc tiến trình thực hiện, ưu nhược điểm của phương
pháp và khả năng vận dụng vào giảng dạy môn Giáo dục công dân trong các
nhà trường phổ THCS nói riêng.

thiếu tinh thần trách nhiệm, không biết bảo vệ rừng- tài sản quý của Nhà
nước. Nhưng Lan nghĩ đấy là trách nhiệm của những người được giao quản
lí tài sản và các cấp chính quyền; chỉ các cán bộ kiểm lâm hoặc Ủy ban nhân
dân mới có quyền can thiệp và xử lí những việc đó.
- HS thảo luận theo nhóm với các câu hỏi sau: ( Gv chia lớp thành 4
nhóm)
1, Ý kiến của các bạn đúng hay ý kiến của Lan đúng? Vì sao?
2, Nếu là Lan, em xử lí như thế nào?
3, Qua tình huống trên, em rút ra bài học gì?

21


Sau khi thảo luận xong, GV yêu cầu đại diện từng nhóm trình bày. Sau đó
GV nhận xét và chốt vấn đề:
- Ý kiến của Lan là đúng vì rừng là tài sản quốc gia, Nhà nước giao cho
kiểm lâm, ủy ban nhân dân quản lí.
- Em sẽ báo với cơ quan có thẩm quyền can thiệp.
- Phải có trách nhiệm với tài sản Nhà nước.
Từ đó GV nêu câu hỏi: Em hãy kể tên một số tài sản nhà nước và những
công trình công cộng mà em biết?
HS suy nghĩ trả lời.
Tài sản nhà nước: đất đai, rừng núi, …
Công trình công cộng: đường sá, cầu cống…
GV nhận xét và khẳng định: Những tài sản và công trình công cộng trên là
tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước.
Từ đó Gv chuyển sang nội dung bài học.
Hoạt động 2: Nội dung bài học
Từ tình huống trên học sinh rút ra:
1) Khái niệm tài sản nhà nước.

Vậy theo em Trung và Dũng đã có vi phạm gì? Nhà trường sẽ xử lí như thế
nào?
Từ đó GV cho HS thấy được trách nhiệm của công dân:
- Có ý thức bảo vệ tài sản, lợi ích công cộng.
- Tuyên truyền giáo dục, thực hiện quy định của pháp luật.
- Đấu tranh với những hành vi xâm phạm đối với tài sản nhà nước và lợi ích
công cộng.
Hoạt động 3: GV củng cố khắc sâu nội dung bằng cách: Gv đưa ra một tình
huống cho HS đóng vai và diễn trước lớp. Từ đó HS khắc sâu và liên hệ bản
thân.
Như vậy qua việc giải quyết những tình huống trên GV giúp HS nắm
được khái niệm tài sản Nhà nước và lợi ích công cộng, từ đó HS xác định
được nghĩa vụ của mình đối với tài sản nhà nước và lợi ích công cộng.
Trên đây là một số bước thực hiện phương pháp dạy học bằng tình
huống nhằm giáo dục pháp luật cho học sinh trong dạy học môn Giáo dục
công dân ở trường THCS. Nhưng không phải ai cũng đạt được hiệu quả cao
mà cần phải căn cứ vào thực tế địa phương, đối tượng học sinh để có
phương pháp hình thức tổ chức các hoạt động cho phù hợp và thiết thực thì
mới nhằm phát huy được hiệu quả của nó.
Quả thật phương pháp tổ chức rất quan trọng. Chính vì vậy mà người
dạy trước hết phải được đào tạo về chuyên môn và không ngừng học tập,

24


trau di kin thc, d gi ỳc rỳt kinh nghim qua ng nghip c bit l
phi hiu bit v tỡnh hỡnh c im a phng ni mỡnh cụng tỏc.
2. Kt qu t c.
Do vấn đề còn mới mẻ và đặc biệt địa phơng trờng đóng còn gặp
nhiều khó khăn về kinh tế, văn hoá, giáo dục, ảnh hởng không nhỏ đến quá




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status