LUẬN VĂN:
Vận dụng phương pháp điều tra thống kê
trong thu thập thông tin về tình hình làm
thêm của sinh viên khoá 46 trường ĐH
Kinh Tế Quốc Dân
MỞ ĐẦU
- Điều tra thống kê là phương pháp thu thập thông tin cần thiết về hiện tượng nghiên
cứu nhằm làm cơ sở cho việc tổng hợp và phân tích các hiện tượng cần nghiên
cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của thống kê là các hiện tượng số lớn và những hiện tượng
này rất phức tạp bao gồm nhiều đơn vị ,phần tử khác nhau mặt khác lại có sự biến
PHẦN I : KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐIỀU TRA THỐNG KÊ
1.Phạm vi nghiên cứu
- Cả nước ,quy mô lớn
phạm vi rộng liên quan đến
nhiều ngành,nhiều lĩnh vực
Đi
ều tra thống kê
1.Phạm vi nghiên cứu
- Tổ chức không có báo cáo
thống kê hoặc các cơ sở
kinh doanh cá thể,hộ,cá nhân
2.Đặc điểm
- Chu kỳ dài ( khoảng 10 năm m
ột lần).
- Kinh phí lớn.
2.Đ
ặc
đi
ểm
- Sử dụng khi cần điều tra
bổ sung thông tin hay có nhu cầu đột
xuất.
cũng như những ưu nhược đỉêm của từng phương pháp và phạm vi áp dụng mà ta cần vận
dụng linh hoạt ,đúng đắn khi nghiên cứu thống kê. I. Điều tra thường xuyên và không thường xuyên
- Dựa trên tính liên tục của quá trình điều tra cũng như hệ thống ,kết cấu của từng
cuộc điều tra mà người ta có thể thu thập thông tin theo 2 phương pháp điều tra
thường xuyên và điều tra không thường xuyên.
1. Điều tra thường xuyên
Định nghĩa
- Đây là phương pháp thu thập thông tin và ghi chép tài liệu ban đầu của hiện tượng
theo 1chu kỳ liên tục thường theo quá trình phát sinh và phát triển của hiện tượng.
- ví dụ :việc chấm công cho lao động ở 1 doanh nghiệp(chi tiết sẽ đưa bảng số liệu)
Đặc điểm
- Thu thập được số liệu đầy đủ sẽ theo dõi được tỉ mỉ vể tình hình phát triển của
hiện tượng theo thời gian.Đánh giá được sự phát triển ,tích luỹ của hiện tượng.
- Đây là cơ sở chủ yếu để lập các báo cáo thống kê định kỳ và theo dõi tình hình
thực hiện kế hoạch. Hình thức
- Tuy nhiên để tiện cho việc theo dõi ,so sánh phân tích sự biến động của hiện tượng
theo thời gian ,nhiều cuộc điều tra không thường xuyên vẫn được thực hiện lặp đi
lặp lại theo chu kỳ nhất định.
Hình thức
- Các cuộc điều tra chuyên môn
+ Chỉ được tổ chức khi cần bổ sung thông tin
+ Phục vụ những mục đích nhất định
- Mỗi cuộc điều tra thường được tiến hành theo kế hoạch và phương pháp riêng.
Ưu điểm và nhược điểm
a. Ưu điểm
- Thời gian và chi phí được giảm bớt
- Tập trung vào những vấn đề quan trọng cần nghiên cứu
- Phục vụ được yêu cầu trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau.
b. Nhược điểm
- Cần xác định phương án điều tra tỉ mỉ ,toàn diện và chi tiết.
II. Điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ
Trong quá trình tiến hành điều tra một đối tượng nào đó ,ta cần xác định phạm vi của đối
tượng để điều tra thực tế để lựa chọn phương pháp điều tra toàn bộ hay không toàn bộ.
1. Điều tra toàn bộ
Định nghĩa
- Điều tra toàn bộ là qúa trình tiến hành thu thập thông tin ,số liệu ban đầu trên tất
cả các đơn vị của đối tượng điêuf tra,không loại trừ bất kỳ đơn vị nào.
- ví dụ : bảng số liệu về cuộc tổng hợp điều tra dân số ngày 1/4/1999 ở nước ta.
Đặc điểm
- Tài liệu thu thập trên tất cả các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu nên vừa tính
điều tra thực tế và sẽ dựa vào kết quả điều tra để tính toán và suy rộng cho toàn bộ
hiện tượng.
- Để tiến hành điều tra chọn mẫu cần phải chọn ra 1số lượng đơn vị đủ lớn để điều
tra thực tế .Có 2cách chọn các đơn vị là chọn ngẫu nhiên và phi ngẫu nhiên
- Ưu điểm:
+ Tiết kiệm về người và tiền của. + Có tính kịp thời cao và đảm bảo thông tin thu được có tính chính xác lớn.
+ Cho phép mở rộng nội dung điều tra,tài liệu cho điều tra chọn mẫu rất phong phú
và đa dạng.
- Ví dụ:Điều tra kiểm tra chất lượng độ bền một sản phẩm nào đó(có bảng số liệu
đính kèm)
b. Điều tra trọng điểm
- Người ta tiến hành điều tra ở bộ phận quan trọng nhất của tổng thể chung
- Kết quả không được suy rộng thành đặc điểm chung của tổng thể nhưng vẫn giúp
nắm được tình hình cơ bản của hiện tượng.
- Loại điều tra này thích hợp với những đối tượng có bộ phận tương đối tập trung và
chiếm tỷ trọng lớn.
- Ví dụ nghiên cứu tình hình trồng chè ở Tây Nguyên( sẽ có bảng số liệu kèm theo
sau)
c. Điều tra chuyên đề
- Được tiến hành trên 1số rất ít ,thậm chí là 1đơn vị của tổng thể nhưng lại đi sâu
vào nghiên cứu chi tiết nhiều khía cạnh khác nhau của đơn vị đó nhằm rút ra vấn
đề cốt lõi ,tìm ra những baì học kinh nghiệm.
- Không dùng để suy rộng hoặc làm căn cứ đánh giá tình hình cơ bản của hiện
tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu những vấn đề mới phát sinh để nghiên cứu kinh nghiệm của các đơn
vị tiên tiến hoặc phân tích nguyên nhân của đơn vị yếu kém.
- Ví dụ :Tìm thông tin về 1đơn vị đỉên hình tiên tiến.
phương pháp này.
- Tuy nhiên phỏng vấn cần phải tuân thủ theo mục tiêu nghiên cứu ,theo đối tượng
hay nội dung nghiên cứu đã được xác định rõ trong chương trình hay phương án
điều tra.
3. Đặc điểm
a. Về nhân viên điều tra
- Phải tuân thủ phương án điều tra nhất là nội dung điều tra được trình bày cụ thể
trong phương án điều tra.
- Phải chuẩn bị kỹ lưỡng về kỹ năng phỏng vấn ,về năng lực chuyên môn,sự am
hiểu nội dung ,đối tượng điều tra. - Ghi chép : chính xác ,trung thực ,tuân theo hướng dẫn quy định của phiếu điều tra
để tạo thuận lợi cho việc xử lý ,tổng hợp thông tin sau này.
b. Phạm vi áp dụng
- Phù hợp với nhiều hoàn cảnh ,hiện tượng và đối tượng nghiên cứu khác nhau.
c. Ưu điểm
- Độ tin cậy cao, dễ tổng hợp ,tập trung vào những nội dung chủ yếu nhờ bảng hỏi
hoặc phiếu điều tra.
d. Phân loại
Tuỳ theo đặc điểm của quá trình hỏi ,người ta chia ra làm 2loại phỏng vấn cơ
bản:phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn gián tiếp.Trong mỗi loại lại được chia nhỏ hơn
như bảng sau.
+ Quá trình phỏng vấn cũng phức tạp hơn nên đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng
ở tất cả các khâu như nội dung phỏng vấn ,trình độ chuyên môn của điều tra viên
,hình thức gặp gỡ
+ Trong phỏng vấn trực tiếp có thể do tác động của ý kiến chủ quan của người phỏng
vấn làm thông tin thu được sai lêch đi.
- Tính chất
+ Phỏng vấn trực tiếp luôn gồm những tính chất sau: tính một chiều ,tính quy định ,
tính giả định và tính phi hậu quả.
d.2 Phương pháp phỏng vấn gián tiếp
- Đây là phương pháp thu thập thôgn tin khi người hỏi và người trả lời không trực
tiếp gặp nhau mà quá trình khai thác thông tin sẽ được thực hiện một cách gián
tiếp thông qua phiếu điều tra.Người được hỏi sẽ nhận phiếu điều tra sau đó điền
các thông tin vào đó và gửi trả lại cho đơn vị điều tra.
- Ưu điểm + D t chc,tit kim chi phớ v thi gian.
+ Mang tớnh khỏch quan.
- Nhc im
+ Ch c ỏp dng trong nhng iu kin thc hin nht nh khi i tng phi cú
trỡnh dõn trớ cao,cú tinh thn trỏch nhim.
+ Ngi hi v ngi tr li khụng trc tip gp nhau nờn khụng th gii thớch c
nhng thc mc ca i tng iu tra.Cng nh khụng th quan sỏt thỏi ca i
tng bit c tin cy ca cõu tr li.
+ T l thu hụỡ phiu khụng cao vỡ ph thuc vo nhiu yu t nh s hp dn ca
cuc iu tra,ni dung,phng phỏp trỡnh by bng hi,hỡnh thc phõn phỏt bng
hi
+ i tng ỏp dng ch l nhng ngi cú trỡnh dõn trớ cao.
d.3 Phng phỏp quan sỏt
- Phng phỏp quan sỏt l cỏch thu thp thụng tin khụng ch bng th giỏc m l s
cái gì?Nội dung cụ thể như thế nào?Các vấn đề có liên quan tới đối tượng?Đó
chính là mục đích của cuộc điều tra .Từ đó xác định tên đề tài và nội dung nghiên
cứu.Đặc biệt trong nội dung nghiên cứu cần xác định được mục đích cụ thể của nó
để bám sát trong quá trình thực hiện điều tra.
- Căn cứ xác định mục đích điều tra thường là những nhu cầu thực tế đời sống hoặc
những nhu cầu hoàn chỉnh lý luận.
II. Xác định phạm vi,đối tượng và đơn vị điều tra
1. Đối tượng điều tra và phạm vi
- Cần phải xác định những đơn vị tổng thể nào thuộc phạm vi điều tra từ đó tập
trung vào để thu thập thông tin,tránh sai hướng điều tra.
- Cần phải xác định được đối tượng điều tra bằng cách dựa vào những tính chất cơ
bản của nó để phân biệt nó với hiện tượng khác .Khi đã xác định được đối tượng
cho cuộc điều tra thì có nghĩa là phạm vi đã được xác định ,phù hợp với đối tượng
của cuộc điều tra.
- Mặt khác ,cần phải dựa vào mục đích nghiên cứu để xác định ranh giới rõ ràng
giữa hiện tượng nghiên cứu với các tổng thể khác,tránh được tình trạng trùng lặp
hoặc bỏ sót .
2. Đơn vị điều tra
- Đơn vị điều tra là một đơn vị thuộc đối tượng điều tra thực tế. - Để thu thập được một hệ thống thông tin ,phải xuất phát từ những tài liệu ban đầu
mà chúng ta sẽ khai thác đựợc từ đơn vị điều tra.Để xác định được 1hệ thống
thông tin phải xuất phát từ những tài liệu ban đầu mà chúng ta sẽ khai thác được từ
đơn vị điều tra
- Để xác định được chính xác đơn vị điều tra cần đặt câu hỏi điều tra ở đâu .Đơn vị
điều tra có thể trùng hoặc với đối tượng điều tra với cách xây dựng bằng câu hỏi
“điều tra ai?” hoặc khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng cuộc điều tra.
- Ví dụ
- Phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể
- Để thu được những nội dung cần thiết ,người ta phải cụ thể hoá những nội dung đó
thành những câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu.Theo hình thức thì câu hỏi được chia làm 2
loại là câu hỏi đóng và câu hỏi mở.Trong phần sau trình bày về bảng hỏi sẽ nêu rõ
hơn về các laọi câu hỏi và tác dụng của nó.
b. Phiếu điều tra
- Là một hệ thống các câu hỏi đựoc sắp xếp một cách logic nhất phù hợp với nội
dung cần có của cuộc điều tra.Tuỳ thuộc vào yêu cầu của từng cuộc điều tra có thể
có một hay nhiều bảng hỏi.
c. Văn bản giải thích
- Đi kèm với mỗi loại phiếu điều tra thông thường sẽ có thêm 1văn kiện để hướng
dẫn về cách ghi phiếu điều tra nhằm giúp cho người hỏi và người trả lời có cách
ghi chép và cung cấp thông tin một cách đúng nhất.
IV. Chọn thời điểm ,thời kỳ và quy định thời hạn điều tra.
- Các hiện tượng luôn thay đổi không ngừng về thời gian và không gian .Vì vậy
muốn có những thông tin chính xác thì cần xác định rõ thời điểm ,thời kỳ và quy
định thời hạn điều tra.
1. Thời điểm điều tra
- Đây là một mốc thời gian được quy định thống nhất chỉ ra thời điểm mà cuộc điều
tra phải thu thập thông tin về hiện tượng nghiên cứu
- Xác định thời điểm điều tra nhằm giúp cho các thông tin thu được không bị trùng
lặp hay bỏ sót.
2. Thời hạn điều tra
- Đây là thời gian thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin ,số liệu ban đầu của cuộc
điều tra. - Thời hạn điều tra dài hay ngắn phụ thuộc vào điều kiện riêng của mỗi cuộc điều
tra như: quy mô ,chi phí, khả năng của nhân viên điều tra Nhưng nói chung thời
hạn điều tra không nên quá dài hay quá ngắn.Nếu quá dài có thể làm nhiều người
quên đi những gì đã xảy ra tại thời điểm điều tra.Nếu quá ngắn thì lại cần một đội
* Cần tránh những câu hỏi quá chung chung, trừu t-ợng, thậm chí khó hiểu đối
với ng-ời đ-ợc hỏi
* Nên tránh những câu hỏi gợi nên một l-u ý có ảnh h-ởng hay chứa đựng những
đánh giá tr-ớc
* Chú ý cách thể hiện diễn đạt ý : rõ ràng, dễ hiểu
2. Những nguyên tắc cụ thể của việc xây dựng bảng hỏi
Bảng hỏi không phải đơn thuần là tổng số các câu hỏi riêng rẽ mà cần
mang nhiều ý nghĩa hơn nữa. Nguyên tắc sắp xếp các câu hỏi là nguyên tắc tâm
lý chứ không phải căn cứ theo lôgic nội dung; đồng thời ý nghĩa của mỗi câu hỏi
thờng đợc đánh giá cùng với vị trí của nó trong bảng hỏi.
* Những nguyên tắc cụ thể của việc xây dựng bảng hỏi:
Bảng hỏi phải gợi ý và duy trì sự quan tâm và nhiệt tình trả lời
Trong các cuộc phỏng vấn dài, các câu hỏi nên bố trí tập trung theo độ t-
t-ởng tăng dần nh-ng về cuối lại giảm dần
Ng-ời đ-ợc phỏng vấn phải đ-ợc dẫn dắt, chuyển đề tài một cách hợp lý
Thời gian của các cuộc phỏng vấn không nên quá dài
Hình thức bảng hỏi cần đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ trong điều kiện cho phép
Bảng hỏi nhất thiết phải có phần mở đầu và kết thúc
* Bố cục chung của một bảng hỏi:
Th- giải thích: nhằm làm cho ng-ời trả lời biết mục đích của bảng hỏi và
đề nghị họ tham gia
Các h-ớng dẵn: h-ớng dẫn cách trả lời cho ng-ời đ-ợc hỏi
Các câu hỏi :
H-ớng dẫn cách gửi trả bảng hỏi
Lời cảm ơn: cần ngắn gọn, nhã nhặn để cảm ơn ng-ời trả lời đã bỏ thời gian
và công sức hoàn thành bảng hỏi * Kỹ thuật câu hỏi trong bảng hỏi
Trong quá trình lập bảng hỏi, việc sắp xếp trình tự câu hỏi sao cho hợp lý
thể hoàn thành công việc thu thập thông tin của mình một cách dễ dàng hơn.
- Trong điều tra thống kê,tuỳ theo từng chi tiết phân loại khác nhau mà các câu hỏi
được chia ra thành nhiều loại nhỏ tương ứng với các tiêu thức đó.Ta có sơ đồ phân
loại như sau:
S¬ ®å 1 C¸c lo¹i c©u hái
Các loại câu hỏi
Theo công
dụng
Theo biểu
hiện
Nội
dung
Chức
năng
Câu trả
lời
kiể
m
tra
Câu
hỏi
đón
g
Câu
hỏi
mở
Câu
hỏi
nửa
đón
g
Câ
u
hỏ
i
tr
ực
Câu hỏi
lỡng cực
Câu hỏi
cờng độ
Câu hỏi tuỳ
chọn
i. Nếu so sánh đối chiếu trên những bậc thang về nhận thức thì câu
hỏi sự kiện mới là ở mức biết, còn đến câu hỏi tri thức mới đạt tới
mức hiểu.
c. Câu hỏi về quan điểm, thái độ, động cơ
- Câu hỏi về thái độ (còn gọi là câu hỏi ý kiến) là câu hỏi nhằm
thu thập tất cả những xử sự nói (hoặc viết ra) của ngời đợc
hỏi thành các nhận xét, phê phán.
- Câu hỏi về quan điểm: quan điểm đợc hiểu là thói quen xử
xự, nghĩa là các quan hệ tơng đối ổn định của con ngời đối
với các hiện tợng, sự vật, nhóm ngời, xã hội, các chuẩn mực và
giá trị của chúng. Chức năng của câu hỏi về quan điểm và thái
độ có thể gần giống nhau và khác chăng chỉ là về mức độ. Cụ
thể: quan điểm là dạng tổng hợp và suy diễn của các ý kiến
thái độ.
- Câu hỏi về động cơ: động cơ đợc hiểu là cơ sở bên trong của
cách xử xự và thói quen xử xự và là động lực nguyên nhân của
cách xử xự đó.i vi bt k mt s kin no ,mt vn no
cng cú nhiu ng c khỏc nhau nhng thụng thng nghiờn
cu ,ngi ta ch a ra nhng ng c ch yu ,nhng ng c
chớnh.Vỡ vy cn chỳ ý t mc ớch nghiờn cu ,c im ca
hin tng xỏc nh nhng nguyờn nhõn chớnh ,ch yu.
1.2 Theo chức năng
- Trên thực tế, để truyền tải những nội dung của cuộc điều tra,
đặc biệt là trong hình thức phỏng vấn trực diện, cần phải có
những câu hỏi mang tính chất kỹ thuật, đó là các câu hỏi chức
năng. Các câu hỏi về chức năng cũng thờng đợc chia thành 3 loại
sau: