Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS.GVC Nguyễn Văn Mỳ thầy giáo trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp em có thể hoàn thành
được khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Phong cách nghệ thuật thuật thơ cổ
thể Lí Bạch qua một số sáng tác tiêu biểu”.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong tổ Văn học nước ngoài
cũng như toàn thể các thầy cô trong khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi
để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã cố gắng tuy nhiên khóa luận tốt nghiệp này không tránh
khỏi những thiếu sót, hạn chế, vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp,
chỉ bảo đóng góp của các thầy cô, các bạn sinh viên để khóa luận của em có
thể hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Nga
SVTH: Nguyễn Thị Nga
K33C – Sp Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Phong cách nghệ
11
V. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 11
VI. Cấu trúc khóa luận ............................................................................
11
Nội dung................................................................................................... 12
Chương 1. Cơ sở hình thành tài năng thơ ca Lí Bạch…………………... 12
Chương 2. Phong cách nghệ thuật thơ cổ thể Lí Bạch qua một số sáng
tác tiêu biểu ...........................................................................................
18
2.1. Một số khái niệm cơ bản........................................................ ..........
18
2.2. Nội dung cảm xúc thơ cổ thể Lí Bạch...............................................
21
2.2.1. Một con người cá nhân, cá tính ngạo nghễ, phóng túng mà phức
tạp trong thơ cổ thể Lí Bạch.................................................................... 22
2.2.2. Một bức tranh đời sống xã hội đa dạng, phong phú trong thơ cổ
thể Lí Bạch……………………………………………………………… 40
2.2.3. Một bức tranh thiên nhiên chân thực và thơ mộng trong thơ cổ
thể Lí Bạch……………………………………………………………… 53
2.3. Bút pháp thể hiện thơ cổ thể Lí Bạch……………………………… 60
2.3.1. Không gian nghệ thuật trong thơ cổ thể Lí Bạch............................ 60
thành” của phong cách thơ hào phóng thời Đường. Thi tiên Lí Bạch được coi
là nhà thơ tiêu biểu cho thời đại Thịnh Đường, thi phong của ông đã phản ánh
cái phong khí hừng hực của thời đại. Có thể nói, thơ Lí Bạch từ nội dung tư
tưởng đến bút pháp thể hiện vừa mang đậm đặc trưng của kiểu tư duy lãng
mạn vừa mang đậm bản sắc cá nhân, cá tính của ông.
Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Lí Bạch để lại cho đời hơn
nghìn bài thơ, nhưng phần lớn là thơ cổ thể; còn luật thi lại chiếm số lượng rất
nhỏ. Đó là bởi nhà thơ vốn là người ưa thích sự tự do, phóng khoáng, không
thích sự gò bó của những khuôn phép, chuẩn mực. Mà cổ thể vốn là thể thơ
tương đối tự do, không có những quy định chặt chẽ về cách luật như thơ
Đường luật. Với tính cách của mình, thi tiên tìm đến với cổ thể là điều dễ
hiểu. Có lẽ do vậy nên các nhà nghiên cứu đã thống nhất quan điểm cho rằng:
Tài năng thơ ca Lí Bạch thể hiện rõ nhất ở loại cổ thể. Ở cổ thể, dấu ấn phong
cách, cá tính của thi tiên được bộc lộ rõ rệt nhất. Mặc dù không thể phủ nhận
một điều, tứ tuyệt của Lí Bạch cũng được đánh giá là loại “tuyệt kì” của thơ
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
5
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
Đường, song đó vẫn không phải là thể loại được nhà thơ ưa chuộng nhất,
không phải là mảnh đất đủ để cho thi tiên thỏa sức vẫy vùng. Chỉ với cổ thể
tài năng, sở trường của nhà thơ mới được phát huy một cách tối đa. Và có thể
khẳng định, khi nhắc tới những bài cổ thể hay nhất trong thơ Đường nói riêng
và thơ ca Trung Quốc nói chung, người ta không thể không nhắc đến những
Khóa luận tốt nghiệp
một tiếng nói của mình vào sự nghiệp nghiên cứu về thơ Lí Bạch nói chung và
thơ cổ thể của ông nói riêng.
Xuất phát từ tất cả những lí do trên nên tác giả khóa luận đã lựa chọn
tìm hiểu đề tài: “Phong cách nghệ thuật thơ cổ thể Lí Bạch qua một số
sáng tác tiêu biểu”.
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Lí Bạch được đánh giá là thiên tài thơ ca lãng mạn vĩ đại không chỉ ở
trong nước mà còn mang tầm cỡ nhân loại, nên giới nghiên cứu ở Trung Quốc
cũng như trên thế giới đã nghiên cứu, tìm hiểu về ông trên mọi phương diện
như: cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp, phong cách...
Trong phạm vi hiểu biết của mình, tác giả khóa luận chỉ đề cập tới một
số công trình nghiên cứu về Lí Bạch đã xuất hiện ở Việt Nam. Những công
trình nghiên cứu ấy có thể chia làm hai loại:
Thứ nhất: Là những tài liệu giới thiệu về tác giả và tác phẩm Lí Bạch
trong đó có tuyển chọn những thi phẩm xuất sắc nhất của ông đặc biệt là
những bài thuộc cổ thể như: Trường tương tư, Xuân tứ, Tương tiến tửu, Hành
lộ nan... trong cuốn: Đường thi tuyển dịch – Lê Nguyễn Lưu, NXB Thuận
Hóa, 1997; Thơ Đường – Nam Trân, NXB Văn Hóa Viện Văn học, 1962; Thơ
Lí Bạch – Ngô Văn Phú, NXB Lao Động, 2006.... Tuy nhiên, cho đến nay,
vẫn chưa có một cuốn sách nào tập hợp và in lại đầy đủ tất cả các trước tác
của thi tiên. Có thể nói đây là một thiếu sót lớn, bởi Lí Bạch đã để lại cho đời
một khối lượng tác phẩm vô cùng đồ sộ (1044 bài thơ) vậy mà đến nay chúng
ta mới chỉ được tiếp xúc với vài chục bài quen thuộc. Như vậy, những tài liệu
về tác phẩm của nhà thơ Lí Bạch vẫn còn rất hạn chế.
Thứ hai: Là những công trình nghiên cứu về Lí Bạch. Loại tài liệu này
cũng không thật phong phú. Ngày nay chúng ta được tiếp xúc với một số sách
nước ngoài dịch ra tiếng Việt như: Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc –
ông trong việc lựa chọn thể loại mà vẫn chưa thực sự chú ý tới vai trò của loại
cổ thể trong việc thể hiện phong cách nghệ thuật của Lí Bạch và tại sao thơ cổ
thể của ông lại có sức hấp dẫn lạ kì đến như vậy ở ngay giữa thời đại thơ cận
thể đang phát triển mạnh mẽ.
III. Mục tiêu nghiên cứu:
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong cuốn Thi pháp thơ Đường có viết:
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
8
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
“Để phản ánh hiện thực người ta thường sử dụng thơ cổ thể, còn trữ phát tâm
tình người ta thường dùng thơ kim thể. Ấy là vì thơ cổ thể có dung lượng lớn
hơn, và thể cách không chặt chẽ, có thể đi sát với đời thường để phản ánh
những diễn biến phức tạp, đa dạng của cuộc sống” [3, 208] và “Đặc điểm của
thơ cổ thể phản ánh cuộc sống đời thường là miêu tả, tự sự, tái hiện bức tranh
hiện thực, những hình ảnh đang diễn ra trong đời thường bằng thứ ngôn ngữ
cụ thể, sinh động” [3, 231]. Điều này có thể đúng với hầu hết các nhà thơ hiện
thực như: Đỗ Phủ với Tam lại, Tam biệt, Thạch hào lại..., Bạch Cư Dị với Tì
bà hành, Tần trung ngâm, Ca vũ..... Nhưng ở cây bút lãng mạn Lí Bạch, hầu
hết những bài thơ cổ thể nổi tiếng như Tương tiến tửu, Hành lộ nan, Xuân
nhật túy khởi ngôn chí, Thục đạo nan.... không phải là tái hiện bức tranh hiện
thực mà là diễn tả bức tranh tâm trạng với những nỗi lòng riêng của ông. Điều
này đã phần nào nói lên phong cách của nhà thơ bởi nếu không có trí tưởng
tượng phong phú bay bổng, không có tình cảm mãnh liệt thì không thể viết ra
xem). Quả thực, nếu như đọc thơ Đỗ Phủ ta có cảm nhận như ông nắn nót, cân
nhắc kĩ lưỡng từng câu, từng chữ, nhưng khi đọc thơ Lí Bạch lại cảm tưởng
lời thơ như buột miệng mà thành, cảm xúc ào ào tuôn chảy, lời thơ bình dị, tự
nhiên. Có người từng cho rằng thơ Đỗ Phủ có thể bắt chước được còn thơ Lí
Bạch thì không thể. Do đó, ta cũng có thể nói thơ cổ thể Lí Bạch không một ai
có thể bắt chước được. Hi vọng thông qua khóa luận, bạn đọc sẽ thêm hiểu và
yêu thơ cổ thể Lí Bạch hơn – những vần thơ “có một không hai”, những vần
thơ được đánh giá là “thiên mã hành không” (ngựa trời đi trên không), là “nộ
đào hồi lãng” (sóng dữ vỗ bờ), là “âm ngoại huyền” (âm thanh ngoài dây tơ),
là “vị ngoại vị” (mùi vị ngoài thức ăn ), là lời thơ của một vị “trích tiên”. Dựa
theo cách giáo sư Nguyễn Khắc Phi đặt tên cho cuốn sách của mình là Thơ
văn cổ Trung Hoa – mảnh đất quen mà lạ,có thể nói vấn đề phong cách nghệ
thuật thơ cổ thể Lí Bạch cũng là một “mảnh đất quen mà lạ” như vậy, dù cho
có nói nhiều bao nhiêu song cũng chưa bao giờ là đủ. Với một tác giả được
giới nghiên cứu mệnh danh là “thi tiên” cùng một khối lượng tác phẩm đồ sộ
và phong phú như Lí Bạch cần phải có những công trình nghiên cứu đầy đủ và
chi tiết hơn nữa. Chỉ có như vậy mới xứng đáng với tầm cỡ của nhà thơ và
mới đáp ứng được lòng mong đợi của những độc giả yêu thơ Lí Bạch nói
chung và thơ cổ thể của ông nói riêng.
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
10
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
IV. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TÀI NĂNG THƠ CA
LÍ BẠCH
Lí Bạch xuất hiện trên thi đàn đã đưa thơ lãng mạn cổ điển Trung Quốc
đạt tới đỉnh cao của nó, nên không phải ngẫu nhiên mà thi tiên được các nhà
nghiên cứu đánh giá là nhà thơ lãng mạn nhất đời Đường. Khi nhận xét về thơ
ông, Trương Chính trong cuốn Thơ Đường (tập 2) từng viết: “Thơ Lí Bạch là
thơ lãng mạn, nói chung là lành mạnh và tích cực. Nội dung và phong cách
thơ ấy chính là phản ánh lối sống, tính cách và tư tưởng của ông,... Thơ Lí
Bạch có một phong cách phóng khoáng, hào hùng rất đặc biệt” [2, 5]. Bởi ông
có một tâm hồn thanh khiết, không hề xu phụ quyền quý, rất tự do, phóng
khoáng. Sống trong xã hội đương thời bị ràng buộc bởi rất nhiều quy tắc lễ
giáo, nhưng trong thực tế, chưa một lần Lí Bạch phải khom lưng uốn gối trước
cường quyền hay bạc tiền. Nên xung quanh tính cách ngang tàng của ông,
người đời đã thêu dệt lên biết bao giai thoại: rằng Lí Bạch là ngôi sao thái
bạch giáng thế, rằng ông có “ngạo cốt” (xương kiêu ngạo) trong người nên
chẳng bao giờ chịu quỳ gối trước những kẻ quyền quý. Con người Lí Bạch
lãng mạn, tâm hồn Lí Bạch thanh khiết, bay bổng, nên thơ, nên thơ ông cũng
phiêu dật, phóng khoáng không chịu bó buộc theo luật, lời thì luôn luôn theo
hứng, ý thì kì lạ, tình thì man mác và tự nhiên như hơi thở và rất đỗi bình dị,
không hề cầu kì đẽo gọt nhưng lại có sức lôi cuốn, hấp dẫn người đọc đến lạ
kì. Để tạo thành thiên tài thi ca lãng mạn của mọi thời đại trước hết là do năng
khiếu bẩm sinh, do cá tính, tính cách yêu thích sự tự do, không muốn bị trói
buộc của nhà thơ. Song đó chỉ là những tiền đề cơ bản ngoài ra còn những
nguyên nhân khác như giáo sư Lê Đức Niệm nói: “tinh thần lãng mạn trong
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
12
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
kháng đối với hiện thực đương thời; đồng thời họ đều là những con người có
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
13
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
phẩm chất, nhân cách cao quý và đều là những thiên tài nghệ thuật. Dựa vào
những điểm tương đồng như vậy, Lí Bạch đã kế thừa và tiếp thu một cách
sáng tạo tinh thần lãng mạn của Khuất Nguyên. Có thể nói, Khuất Nguyên là
người mở đầu còn Lí Bạch chính là người đã khơi nguồn dòng chảy và đưa
thơ lãng mạn cổ điển Trung Quốc đạt tới đỉnh cao của nó. Xét về tinh thần
lãng mạn tích cực, thơ Lí Bạch có nội dung phong phú, đa dạng hơn thơ Khuất
Nguyên rất nhiều. Về bút pháp, ông cũng kế thừa và phát triển những thủ pháp
biểu hiện tinh thần lãng mạn của Khuất Nguyên. Như Khuất Nguyên, thi tiên
Lí Bạch cũng sử dụng hàng loạt các thủ pháp khoa trương, nhân hóa, so sánh,
ẩn dụ.... để xây dựng nên một thế giới hình ảnh kì vĩ, thơ mộng. Nhưng những
thủ pháp trên, đặc biệt là khoa trương, phóng đại được Lí Bạch sử dụng một
cách bạo dạn và sáng tạo đến mức gần như phi lí nhưng ngẫm kĩ lại là điều có
lí. Chẳng hạn:
“Duy có gió bấc gào giận từ trên trời tới
Hoa tuyết Yên Sơn lớn như chiếc chiếu, từng tảng, từng tảng
rơi xuống đài Hiên Viên”
(Bài hành gió bấc)
;
chương: Văn chương quý ở sự giản dị. Phàm viết văn những tay bút già dặn thì
giản dị, ý chân thực thì giản dị, từ thiết thực thì giản dị, thanh đạm thì giản dị,
thần cao mà hàm chứa không cùng thì giản dị. Vì vậy giản dị chính là cảnh giới
tận cùng của văn chương [15, 405]. Để có thể đạt tới “cảnh giới tận cùng của
văng chương”, Lí Bạch đã tiếp thu tinh hoa văn hóa dân gian, học tập lời ăn
tiếng nói của những người thôn cùng ngõ hẻm, học tập loại “sáo trời” (thiên lại)
tự kêu, thẳng thắn bộc lộ cái chí của mình giống như gió lướt trên mặt nước, tạo
thành làn sóng, lời hết rồi mà ý vẫn vô cùng. “Sáo người dễ làm, sáo trời khó
học” (nhân lại dị vị, thiên lại nan học) [15, 406] bởi tiếng sáo trời tự nhiên ấy
“kỳ thực là do sự tích lũy hàng ngày mà có, tựa như nước kia có tích lũy thì khi
có gió thổi tới là tự nhiên xao động thành sóng ngay” [15, 410]. Dù cho khó học
nhưng nếu có ý thức thâm nhập sâu vào đời sống quần chúng nhân dân, học tập
quần chúng từ tư tưởng tình cảm đến lời ăn tiếng nói hàng ngày thì cuối cùng
vẫn có thể đạt tới, nên mới có câu “sáo người cuối cùng cũng thuộc về sáo trời
vậy” (nhân lại tất qui thiên lại hĩ) [15, 410].
Chính bởi học tập những kinh nghiệm quý báu từ thơ ca dân gian nên Lí
Bạch cho rằng ngôn ngữ cần tự nhiên, không nên đẽo gọt. Và điều này đã trở
thành tuyên ngôn nghệ thuật của ông khi chính nhà thơ đã nói:
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
15
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
“Thanh thủy xuất phù dung
Thiên nhiên khử điêu sức”
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
linh hoạt vô cùng. Chẳng hạn như trong Thục đạo nan có câu ba chữ, câu bốn
chữ, có câu năm chữ, có câu bảy chữ, có câu mười một chữ dài ngắn xen kẽ
nhau tạo nên âm hưởng của bài thơ, góp phần tác động vào trí tưởng tượng
của độc giả:
“Y! Hu! Hi! Nguy hồ! Cao tai!
Thục đạo chi nan
Nan ư thướng thanh thiên! ”
(Ôi! Chao! Hỡi ôi! Nguy hiểm sao ! Cao thay!
Đường Thục khó đi, khó hơn lên trời xanh!)
Vì vậy khi nói thi tiên đã kế thừa các thể loại thơ ca truyền thống, sáng
tạo và đưa chúng mà đặc biệt là Nhạc phủ phát triển tới đỉnh cao khiến cho
người đời sau khó còn chỗ kế thừa cũng không phải là nói quá. Kết hợp với đó
là một tâm hồn phóng khoáng yêu tự do, ghét mọi sự ràng buộc nên thể loại
được Lí Bạch ưa chuộng, yêu thích là cổ thể tự do, phóng khoáng. Lưu Hiệp
từng cho rằng: sắc đẹp của một áng mây còn vượt cả sự tuyệt diệu của họa
công, cây cỏ xanh tươi không đợi thợ tô vẽ cho thêm kì lạ. Làm chi phải trang
sức bề ngoài, chỉ cốt sao được tự nhiên mà thôi. Thơ Lí Bạch sở dĩ có sức hấp
dẫn mạnh mẽ đến muôn đời là bởi ông có nhiều “bài thơ cuộc đời” chảy tràn
từ dân ca Nam Bắc triều, kết hợp với tâm hồn Lí Bạch phóng khoáng, giản dị
để trở nên tự nhiên như hơi thở của cuộc sống. Như vậy, có thể thấy để tạo
nên thiên tài thơ ca lãng mạn vĩ đại Lí Bạch là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố
khác nhau, một trong số những yếu tố đó là sự tiếp thu, kế thừa, học tập một
cách sáng tạo những tinh hoa văn hóa quá khứ với một tinh thần “không
khinh người đời nay, rất yêu người đời xưa” của ông. Vậy thì thiên năng của
Lí Bạch được thể hiện ở trong thơ như thế nào, người viết xin trình bày cụ thể
giác được của tất cả các yếu tố chủ yếu thuộc hình thức nghệ thuật. Trong nghĩa
rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc tác phẩm, khiến tác phẩm
có tính chỉnh thể, có giọng điệu và có màu sắc thống nhất rõ rệt.
Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng có thể hiểu phong cách
nghệ thuật là những nét chung nhất, những nét ổn định được lặp đi lặp lại ở
một tác giả qua hàng loạt tác phẩm nhờ đó mà bạn đọc có thể dễ dàng phân
biệt tác giả này với tác giả khác. Từ xưa đến nay đã có nhiều người phân loại
phong cách theo nhiều hướng khác nhau, nhưng tất cả đều phản đối quan
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
18
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
niệm: muôn người một khuôn mặt. Không thể xảy ra chuyện muôn người đều
có chung một khuôn mặt, tương ứng sang lĩnh vực văn chương không thể có
chuyện muôn tác phẩm đều có chung một giọng điệu. Điều này đòi hỏi mỗi
nhà thơ phải có một phong cách riêng độc đáo, mỗi nhà thơ phải phát huy
được tính sáng tạo của cá nhân mình bởi yêu cầu cơ bản nhất của việc sáng tạo
văn chương chính là sự mới lạ, sự khẳng định được cái tôi của mình. Việc
hình thành phong cách sáng tác ở mỗi cá nhân chính là thước đo về tiêu chí
thành thục của tác giả văn chương bởi làm thơ là dùng ngôn ngữ nói ra cái chí,
là bày tỏ tình cảm theo cách của riêng mình. Muốn sáng tạo được phong cách
cá nhân phải tốn nhiều công sức cho việc tu dưỡng tư tưởng nghệ thuật, tiếp
thu tài liệu cuộc sống từ đó phát huy đầy đủ tính sáng tạo độc đáo của mình.
Vì vậy, không phải nhà văn nào cũng có phong cách, mà chỉ những cây bút
Đường chủ yếu là ngũ ngôn, thất ngôn và tạp ngôn với vô số vần điệu. Về mặt
tên gọi, gọi là cổ thể nhằm phân biệt với cận thể thi; trước khi hình thành thơ
cận thể, trừ Sở từ, các thể thơ thường được gọi chung là thơ cổ thể, cũng gọi là
cổ thi hoặc cổ phong.
Theo Nguyễn Thị Bích Hải, do đặc điểm tự do phóng khoáng của cổ thể
nên nó thích hợp với việc phản ánh đời sống sinh động, phong phú, phức tạp.
“Thông thường thì những cảm xúc mạnh mẽ, phong phú được thể hiện trong
thơ cổ phong, còn những xúc cảm tâm tình lắng đọng trầm tư thường tìm đến
với thơ kim thể” [3, 208]. Chính vì vậy “để phản ánh hiện thực người ta
thường sử dụng thơ cổ thể; còn trữ phát tâm tình người ta thường sử dụng thơ
kim thể” [3, 208]. Trong khi đó, Lí Bạch được bạn đọc biết tới với tư cách là
một nhà thơ lãng mạn vĩ đại, thơ ông thiên về thể hiện những tình cảm, suy
nghĩ nhiều hơn là đi kể lể sự tình; ông tái hiện thế giới theo nguyên tắc chủ
quan, làm thơ là sự tự thể hiện, tự bộc lộ của chủ thể thẩm mĩ.
Vậy phải chăng ở đây có sự mâu thuẫn giữa một bên là phong cách thơ
lãng mạn phóng túng với một bên là đặc điểm thể loại thiên về hiện thực? Có
thể khẳng định hoàn toàn không có bất cứ sự mâu thuẫn nào bởi một nhà văn,
một nhà thơ thực sự tài năng là người có khả năng sử dụng tốt mọi loại chất
liệu để tạo ra những tác phẩm có giá trị. Cùng với đó, trong sự hạn chế của các
thể thơ đương thời – tiêu biểu là thơ Đường luật – thì cổ thể là thể thơ tự do
nhất phù hợp với tâm hồn tự do, tự tại, phóng khoáng và bay bổng của thi tiên
Lí Bạch. Sự kết hợp giữa con người cá nhân cá tính ấy với thể loại cổ thể tự
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
20
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
21
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
bẩm của mình, ông đã đưa trào lưu thơ ca lãng mạn mới đạt tới đỉnh cao của
nó.
Vậy thì phong cách thơ cổ thể Lí Bạch độc đáo ra sao chúng ta sẽ được
tìm hiểu kĩ ở phần sau nhưng trước hết cần phải khẳng định: Phong cách thơ
cổ thể Lí Bạch có sự thống nhất với phong cách thơ của ông nói chung nên nó
cũng mang những đặc điểm chung như phóng túng, mạnh mẽ, phóng khoáng,
hào hùng và phiêu dật. Mặt khác, do cá tính sáng tạo của thi sĩ kết hợp với sự
chi phối của đặc điểm thơ cổ thể nên cổ thể Lí Bạch có rất nhiều điểm khác
biệt so với thơ cổ thể của nhiều nhà thơ khác đó là tình cảm mãnh liệt, trí
tưởng tượng phong phú, ít thiên về kể lể sự việc mà chú trọng đi sâu vào thể
hiện tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của bản thân. Những đặc điểm phong cách trên
được thể hiện đầy đủ qua nội dung cảm xúc và bút pháp biểu đạt thơ cổ thể
của thi tiên.
2.2.1. Một con người cá nhân, cá tính ngạo nghễ, phóng túng mà phức tạp
trong thơ cổ thể Lí Bạch
Trong suốt cuộc đời sáng tác nghệ thuật của mình, Lí Bạch đã để lại
cho kho tàng văn học nhân loại một khối lượng tác phẩm hết sức to lớn, đồ sộ
với hơn một nghìn bài thơ (1044 bài). Ông viết về rất nhiều đề tài như: chiến
tranh, biên tái; khuê oán, cung từ; tống biệt; thiên nhiên..... Ở bất cứ đề tài
nào, nhà thơ cũng đạt được những thành tựu đáng kể và có đóng góp nhất
định cho thi đàn. Với mọi đề tài, Lí Bạch đều có những bài thơ xuất sắc, tạo
thành một thế giới nghệ thuật hết sức phong phú, sinh động và vô cùng hấp
đời... Song tất cả vẫn không đủ giúp con người ấy khuây khỏa nỗi lòng nên
đành chỉ biết làm thơ tặng vợ để tự khiển trách mình, tự nhận mình là kẻ vô
dụng, vô tích sự. Cùng với đó là đề tài viết về thiên nhiên (22/142 trong Thơ
Lí Bạch và 19/57 trong Đường thi tuyển dịch) và người phụ nữ (20/142 trong
Thơ Lí Bạch và 19/57 trong Đường thi tuyển dịch). Ở đề tài thiên nhiên, độc
giả biết tới những thi phẩm nổi tiếng như: Nam sơn, Anh Vũ châu, Nga Mi
sơn nguyệt ca,.... Tới đề tài người phụ nữ, ông cũng có những bài thơ hay
như: Thái liên khúc, Tử dạ Ngô ca, Trường can hành, Thiếp bạc mệnh,....
Ngoài những đề tài tiêu biểu trên, đọc thơ cổ thể Lí Bạch ta còn nhận thấy
một số đề tài khá quen thuộc như: đề tài tình bạn, tống biệt với Hí tặng Đỗ
Phủ, Sa Khâu thành hạ kí Đỗ Phủ, Tặng Mạnh Hạo Nhiên....; đề tài chiến
tranh với Chiến thành nam, Tái hạ khúc,....; đề tài hiệp khách với Hiệp khách
hành, Kết miệt từ, Thiếu niên hành....
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
23
Líp: K33C - Ng÷ v¨n
Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy, qua sự khảo sát trên có thể thấy thơ cổ thể Lí Bạch rất phong
phú, đa dạng về đề tài, mọi mặt của cuộc sống đều xuất hiện trong thơ ông;
tuy nhiên ông tập trung khai thác ở một số đề tài chủ yếu như: cái “tôi” cá
nhân cá tính, thiên nhiên và bức tranh đời sống xã hội – đặc biệt là cuộc đời,
số phận của người phụ nữ. Từ việc đi tìm hiểu một số đề tài cơ bản trong thơ
cổ thể Lí Bạch giúp ta hiểu rõ hơn phong cách nghệ thuật thơ cổ thể của ông.
Có thể thấy trong toàn bộ các trước tác của Lí Bạch, ông viết rất nhiều,
người tự ý thức, tự biểu hiện với tư cách là một cá nhân độc lập. Đọc thơ ông,
ta thấy xuất hiện hình ảnh một Khuất Nguyên vừa theo đuổi lí tưởng giúp
vua, báo quốc, vừa trọng cá nhân, trọng tự trọng, quyết giữ vững phẩm hạnh
không hùa theo thói đời, một Khuất Nguyên thích lấy những cái phi thường,
những cái ngoài chuẩn mực để tự ngầm ví với mình: phượng hoàng, đại bàng,
cá kình.... nhằm dựng lên một cái “tôi” cô đơn, một cái “tôi” vĩ đại tồn tại
giữa đất trời. Đó cũng là một kiểu biểu hiện ý thức cá nhân theo khuynh
hướng lí tưởng. Như vậy có thể thấy, việc thể hiện con người cá nhân phức
tạp trong thơ cổ thể Lí Bạch không phải là hiện tượng đột xuất, không phải là
nội dung hoàn toàn mới lạ mà thi tiên chỉ là người kế thừa và phát triển ý thức
cá nhân lên tới đỉnh cao trong sáng tác của mình để xây dựng hình ảnh một
cái “tôi” cá nhân, cá tính, một cái “tôi” đơn nhất – chính là bản thân tác giả.
Với sự thể hiện thành công cái “tôi” cá nhân cá tính, Lí Bạch được đánh giá là
nhà thơ tài năng nhất, là nhà thơ sáng tạo nhất “Đơn độc đi suốt nghìn năm,
duy chỉ có ông ” (Thiên tải độc bộ, duy công nhất nhân). Đến với những vần
thơ cổ thể của ông, người đọc bắt gặp hình ảnh một cái “tôi” mang đậm dấu
ấn con người ông: lãng mạn, phóng túng, phiêu dật, kiêu ngạo trước cường
quyền mà gần gũi thân tình với nhân dân.
Có thể nói, để hình thành kiểu con người cá nhân có những biểu hiện
tương đối đa dạng, phức tạp trơng thơ cổ thể Lí Bạch là do sự hội tụ của nhiều
yếu tố như: môi trường văn hóa, thời đại và hoàn cảnh, tính cách cá nhân. Xét
về yếu tố môi trường văn hóa, nhà Đường với chính sách tư tưởng khai
phóng, mềm dẻo, tự do cho phép các trào lưu tư tưởng, các học thuyết triết
học tồn tại bình đẳng và công khai trên đất Trung Quốc. Vì vậy, giai đoạn này
xuất hiện sự tồn tại song song của các trường phái triết học như Nho, Đạo,
Phật.... điều này đã tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho văn nghệ sĩ. Thi tiên Lí
Bạch đã sống và trưởng thành trong môi trường văn hóa ấy, nên cũng chịu
ảnh hưởng của cùng một lúc nhiều học thuyết, trường phái, nổi bật nhất là của
nhau.Thời đại ấy đã kích thích ý thức cá nhân của con người phát triển lên tới
đỉnh cao: vừa theo đuổi công danh sự nghiệp để khẳng định cái “danh” với
đời sau, vừa yêu thích tự do, giải phóng cá tính, tận hưởng cuộc sống trần thế,
vừa lí tưởng vừa trần tục đời thường đan xen vào nhau không chỉ tồn tại ở
một con người mà ở cả một thời đại.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất, giữ vai trò quyết định dẫn tới sự
hình thành con người với những biểu hiện đa dạng phức tạp trong thơ cổ thể
SVTH: NguyÔn ThÞ Nga
26
Líp: K33C - Ng÷ v¨n