Đề tài phong cách nghệ thuật thơ huy cận qua lửa thiêng - Pdf 12

1
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nghiên cứu thơ Huy Cận tức là nghiên cứu một trong những gương
mặt thơ lớn của thời đại, một trong những nhà văn hóa có đóng góp đáng kể
cho sự nghiệp văn học, văn hóa dân tộc Việt Nam thế kỷ XX.
Trên thi đàn Việt Nam vào những năm 1930-1945, từ phong trào Thơ
mới đã xuất hiện những tài năng thơ, trong đó có Huy Cận, Xuân Diệu… Nhà
phê bình văn học Hoài Thanh qua quyển Thi nhân Việt Nam đã nhận xét bước
đầu về phong cách của các nhà thơ trẻ: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca
Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao
giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ,
mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như
Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị
như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [128, tr.
37]
Dấu ấn phong cách thơ Huy Cận đã bắt đầu từ tập Lửa thiêng (ra đời
năm 1940). Âm hưởng của tập thơ đã lan tỏa “một thời đại trong thi ca” (*tên
tiểu luận của nhà phê bình Hoài Thanh, đăng trong Thi nhân Việt Nam) từ
giữa thế kỷ XX đến nay.
Ngày nay, từ thế kỷ XXI, với cái nhìn mới, rộng mở chúng ta càng có cơ
hội nghiên cứu thấu đáo hơn phong cách thơ đặc sắc của Huy Cận trong giai
đoạn sáng tác trước Cách Mạng Tháng Tám (đặc biệt, nghiên cứu dày công về
tập Lửa thiêng).
1.2. Xã hội Việt Nam đang đổi mới, chuyển biến, hội nhập thế giới.
Hoạt động văn hóa nói chung đang được rộng mở. Các hoạt động lý luận, phê
bình văn học nghệ thuật mới của thế giới cũng được chúng ta nghiên cứu, gạn
2
lọc, tiếp thu trên tinh thần “học xưa vì nay”, “học ngoài vì trong”. Trong đó,
có thể kể đến sự gạn lọc, tiếp thu, vận dụng ở lĩnh vực nghiên cứu văn học.
Vì vậy, vấn đề nghiên cứu phong cách thơ Huy Cận trên cơ sở lý luận

cùng nhuốm một màu vĩnh viễn”. Là bạn tri kỷ, tri âm của Huy Cận, ngay từ
buổi đầu Lửa thiêng ra đời, ông đã “nghe”, đã “cảm” được “cảm giác không
gian” và “cái sầu của vũ trụ” của Huy Cận: “…ta nghe xa vắng quanh mình;
ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời
vợi dàn ra cho đến hư vô…”
Sau Xuân Diệu, hai nhà phê bình văn học Hoài Thanh- Hoài Chân có
bài nhận xét Lửa thiêng: “…Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình
thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng
lặng lẽ của thế giới bên trong…”, “Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông
Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi
đất này”. Hai nhà phê bình cũng cho rằng hồn thơ Huy Cận “trong cuộc viễn
du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian…”, với “con
đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch, tứ bề càng vắng lặng, mênh
mông…” [128, tr. 164-165]
Tâm trạng này, chính Chế Lan Viên qua một tứ thơ tương tự cũng đã bộc
bạch một cách đau đáu về sự cô đơn trên nẻo đường riêng của thơ ông:
Đường về thu trước xa lắm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi.
Theo dõi những diễn biến thơ ca trên thi đàn lúc bấy giờ, Lương An viết
trên báo Tràng An, số 12, tháng 3 năm 1941, tỏ ra khá ưu ái khi nhận xét Lửa
thiêng:
4
“Tập thơ Lửa thiêng là một tập thơ rất đáng chú ý về tình cảm cũng như
về văn pháp. Không cần so sánh cũng đủ nhận thấy đó là một tập thơ hay và
tác giả là một thi nhân có đặc tài. Trong cuộc xây đắp thi giới nước nhà, một
tập thơ như thế là tất cả sự gắng công, và có lẽ là một công trình văn nghệ
đáng chú ý nữa.
Lửa thiêng ra đời, được hoan nghênh nhiệt liệt, cái đó không phải nghi
ngờ gì nữa. Nhưng phần thưởng đích đáng nhất cho Huy Cận là tác phẩm của
chàng sẽ được sống lâu.”

Việt Nam giai đoạn này. Nét riêng này được thể hiện từ quan niệm thẩm mỹ
của thơ Thế Lữ với cái tôi nghệ sĩ là “cây đàn muôn điệu”; Xuân Diệu với
quan niệm thẩm mỹ hồn thơ là “những khúc nhạc thơm”, “khúc nhạc hường”;
Huy Thông đi tìm giấc mộng anh hùng trong lịch sử; Lưu Trọng Lư “hướng
cái nhìn vào một thế giới mơ màng”; còn “chàng Huy Cận ngày xưa hay sầu
lắm”, lại đi vào vũ trụ trăng sao…” [25, tr. 53]
Khảo sát phong trào Thơ mới như hệ quy chiếu từ thực tại xã hội đến
quan niệm sáng tác, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nêu lên một số nội dung,
một số đề tài được tìm thấy trong thơ mới: “cái tôi” cô đơn; tình yêu mộng
tưởng; cảnh đẹp của thiên nhiên, sông núi, làng quê; tình yêu quê hương, đất
nước… Và, bóc tách ra lớp vỏ bên ngoài của thơ ca lãng mạn, Hà Minh Đức
nhận định cái “mạch ngầm” ý nghĩa trong Thơ mới: “Thơ mới chứa đựng
nhiều nỗi niềm, niềm vui gắn bó với từng cuộc đời đến những nỗi buồn riêng
thấm thía cô đơn và đau khổ. Trào lưu thi ca này như một tâm hồn trĩu nặng
ưu tư và xao động trong tình cảm buồn vui, xót xa. Những tình cảm này gắn
liền với từng cuộc đời thơ, nhưng cũng mang theo hơi thở chung của thời đại.
Đó là tiếng nói, tâm tình của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị trước một thực
6
tại không như mình mong muốn. Chế độ thực dân phong kiến ngày càng xiết
chặt xiềng gông lên số phận mỗi con người.” [32, tr. 665-669]
“Cái tôi” vốn bé nhỏ và bị gò bó trong cuộc sống hằng ngày, nên luôn
cảm thấy thiếu một tầm vóc, thiếu một tiềm lực. Các nhà thơ mới Huy Cận,
Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tế Hanh… ít nhiều đều có những tứ thơ nói lên sự
khát khao được giải phóng khỏi sự ngột ngạt, bế tắc của xã hội. Cái tôi trong
thơ mới là cái tôi bộc lộ, cái tôi cảm xúc đang mở hết các giác quan để nhận
biết thế giới xung quanh. Vũ trụ bao la, trời cao, biển rộng vẫn là những đối
tượng mà cảm hứng thi ca muốn vươn tới để hòa nhập. Phải chăng vì thế, nói
riêng trong Lửa thiêng, Huy Cận đã tìm đến vũ trụ bao la để tạo ra sự cảm
hóa, để giải tỏa tâm tình, bộc lộ “cái tôi” riêng biệt của thi nhân?
Phân tích riêng thơ Huy Cận với ý nghĩa “ngọn Lửa thiêng trong đời và

nhưng không thể được.” [62, tr. 468]
Cùng trong thập niên 60, 70, ở Sài Gòn, không kể những quan điểm
xuyên tạc “nhà thơ tiền chiến” của một vài tác giả vùng văn học đô thị tạm
chiếm, phần nhiều, các tác phẩm như Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên
của Phạm Thế Ngũ hay Đi vào cõi thơ của Bùi Giáng, Dư vang nghệ thuật
của Trần Nhựt Tân… đã luận bàn, phân tích nhiều vấn đề liên quan đến tập
Lửa thiêng của Huy Cận.
Viết về hồn thơ Huy Cận qua Lửa thiêng, Phạm Thế Ngũ nêu một số
nhận xét tương đối bao quát những vấn đề cốt lõi trong thơ Huy Cận: tình yêu
thiên nhiên, sự mơ mộng trong tình yêu, nỗi buồn, tính suy tưởng về cuộc
đời… Phạm Thế Ngũ nhận xét thơ Huy Cận chất chứa nhiều “tình yêu mãnh
liệt nhưng hay giấu”; cùng đem thiên nhiên vào thơ nhưng ở thơ Xuân Diệu
“thiên nhiên thường sực nức hương vị tình yêu và ngôn ngữ ái tình”, còn Huy
8
Cận thích nói đến “núi sông, cây cỏ bình thản, lặng lẽ, hàm súc, như tâm hồn
tác giả”. Phạm Thế Ngũ nhận định thơ Huy Cận “hay sầu rồi trốn về đường
thơ triết, ngẫm nghĩ về sự tẻ nhạt của cuộc đời và suy tưởng về cái chết…”.
Điểm đáng chú ý ở đây, Phạm Thế Ngũ nhận xét nỗi buồn của Huy Cận là sự
phản ứng của thời đại: “…Thơ Huy Cận đào sâu cái buồn mênh mang ấy đã
góp phần bổ túc cho một đề tài muôn thuở, làm phong phú thơ mới, ở một
giai đoạn chuyên về đạo tình. Song ta có thể nói, qua năm 1938, ở xã hội Việt
Nam, cái vui vẻ trẻ trung người ta, kể cả thanh niên uống đã tới chỗ cạn đắng.
cái buồn của Huy Cận đây phải chăng là một phản ứng của thời đại. Người ta
nghĩ đến những lời rầu rĩ, bâng khuâng của Á Nam và Tản Đà. Chiếc linh hồn
nhỏ là tác giả Lửa thiêng, phải chăng như một cánh chim đầu đàn tiên cảm
cơn bão tố sắp tới” [99, tr. 575-579]
Có thể nói, những năm này, không khí “triết học hiện đại”, “triết học
hiện sinh”… nói chung được giới thiệu tương đối rộng rãi ở các trường đại
học vùng đô thị tạm chiếm. Đó là điều dễ hiểu khi một số lý thuyết, triết học
của Kant, Bergson, Nietzsche, Heidegger, Husserl, Sartre, Merleau Ponty…,

Lê Thị Anh v.v…
Tham khảo chuyên luận Thi pháp thơ Huy Cận, người viết tìm thấy công
trình nghiên cứu công phu của Trần Khánh Thành về thơ Huy Cận (công trình
nghiên cứu này bao quát những tác phẩm từ tập Lửa thiêng đến những tập thơ
sáng tác sau Cách Mạng Tháng Tám). Dưới góc độ thi pháp học, ông phân
tích quan niệm nghệ thuật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, các
phương thức biểu hiện và cái tôi trữ tình với nhiều đối cực trong thơ Huy
Cận. Nhận định Huy Cận không tách rời hình tượng con người cô đơn với nỗi
buồn sầu, tình yêu mộng mơ… qua Lửa thiêng, Trần Khánh Thành mô tả và
10
chứng minh “cái tôi trữ tình hài hòa luôn vận động giữa nhiều đối cực xuyên
suốt, so sánh với giai đoạn sáng tác thơ của Huy Cận sau này”… Đó là sự thể
hiện “niềm khát vọng của nhà thơ là tìm đến cái đẹp hài hòa giữa cuộc đời và
vũ trụ, giữa cuộc đời riêng và cuộc đời chung, giữa cảm hứng lãng mạn và
cảm hứng hiện thực, giữa cảm xúc tươi tắn và tầm cao trí tuệ…” [132, tr. 56-
57]
Người nghiên cứu sâu về tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, ngoài
những chuyên đề về các nhà thơ, gần đây nhất, nhà nghiên cứu Mã Giang Lân
đã trở lại chuyên đề Cấu trúc câu thơ Lửa thiêng của Huy Cận, đăng trên Tạp
chí Văn Học. Qua bài viết, Mã Giang Lân bộc lộ rõ sự chú trọng của ông về
ngôn ngữ nghệ thuật thơ. Với hướng phân tích này, ông đã phát hiện thêm
một số chi tiết nghệ thuật mới mẻ của câu thơ Lửa thiêng và góp thêm một
vệt nghiên cứu mới về thơ Huy Cận. [66]
Ngoài ra, người viết còn ghi nhận nhiều thông tin từ mảng bài nghiên
cứu, đánh giá cuộc đời, sự nghiệp hay hồi ức và kỷ niệm về Huy Cận - một
nhà thơ, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, sau khi ông qua đời (19-2-2005). Đó
là những bài báo, bài nghiên cứu đăng tải trên các báo in, báo điện tử: Nhân
Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Văn Nghệ, tạp chí Hồn Việt, Sông Hương, Hà
Tĩnh, Bình Định… của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ: Phan Cự Đệ,
Hà Minh Đức, Mai Quốc Liên, Hữu Thỉnh, Giang Nam, Trần Phương Trà,

phong trào Việt Minh… [190, tr. 7-10]
Về bản tiếng Anh, quyển “Vietnamese Literature” (Văn chương Việt
Nam), Red River, Nhà xuất bản Ngoại văn xuất bản năm 1979, do Nguyễn
Khắc Viện và Hữu Ngọc chủ biên cùng đội ngũ dịch thuật: Mary Cowan,
Carolyn Swetland, Đặng Thế Bính, Paddy Parrington, Elizabeth Hodgkin, đã
12
giới thiệu khái quát lịch sử văn chương Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX.
Trong phần dịch sang bản tiếng Anh, tập Lửa thiêng (Sacred Fire) được giới
thiệu hai bài: Nhạc sầu (Music for the dead) và Tràng giang (Vast river).
Tóm lại, về lịch sử vấn đề nghiên cứu thơ Huy Cận qua tập Lửa thiêng
có thể tính đến hàng trăm bài báo và nhiều chuyên luận dưới nhiều góc độ
nghiên cứu khác nhau theo thời gian và bối cảnh không gian khác nhau.
Nhưng, tựu trung, những vấn đề về cảm hứng thời đại, cảm hứng cô đơn của
con người với nỗi sầu vũ trụ, nỗi buồn thế kỷ, tình yêu thiên nhiên, tình yêu
quê hương, đất nước, yêu tiếng nói của dân tộc, những suy tư về cuộc đời…
của Huy Cận, được các tác giả nhận định, phân tích, bàn luận tương đối có
nhiều điểm gặp gỡ, trùng hợp. Riêng về vấn đề phong cách thơ Huy Cận có
đặt ra trong một số bài viết của Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Văn Long, Hà
Minh Đức, Trần Khánh Thành, Mã Giang Lân…, nhưng phần lớn, các tác giả
chỉ nêu một cách khái quát hoặc nhận xét rải rác những khía cạnh chung khi
khảo sát thơ Huy Cận qua nhiều thời kỳ sáng tác; hoặc có công trình chỉ đề
cập vài nét phong cách thơ Huy Cận, chủ yếu qua những tác phẩm đươc nhà
thơ sáng tác từ những năm 1960 trở về sau…
Cho nên, xét trên góc độ nghiên cứu tổng hợp mới, tương thích cho
việc tìm hiểu phong cách thơ Huy Cận nổi bật qua tập thơ Lửa thiêng,
người viết nhận thấy vẫn chưa có tác giả nào đề cập chuyên biệt. Tuy vậy,
xuất phát từ sự gợi mở của một số công trình nghiên cứu đi trước này, đã tạo
tiền đề quý báu, giúp người viết suy nghĩ sâu hơn việc nghiên cứu phong cách
thơ Huy Cận. Đó là việc nghiên cứu phong cách thơ với cách nhìn toàn
diện hơn trên cơ sở tìm hiểu tư tưởng, triết học, tâm lý học sáng tạo, tư

viết cũng cần nói rõ: chỉ tham khảo, vận dụng vài lý thuyết nghiên cứu, nhằm
14
làm sáng tỏ thêm đề tài luận án, dưới góc độ nghiên cứu lịch sử văn học, hơn
là đi sâu vào lý luận văn học.
Tuy nhiên, một điều hiển nhiên và khách quan cho thấy: sự vận động
không ngừng của ngôn ngữ văn học, của các lý thuyết văn học trong đời sống
hiện nay vẫn đang diễn biến và luôn chịu sự tương tác qua lại của xã hội. Nhà
nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh đã nhận định trong lời giới thiệu công trình dịch
Chủ nghĩa cấu trúc và văn học [28] và gần đây nhất là bài đăng báo Văn
Nghệ Về khuynh hướng duy ngữ trong văn học hiện nay đều phân tích những
diễn biến văn học trên bình diện lý thuyết. Trịnh Bá Đĩnh phân định: “…hiện
nay xu hướng phê bình ngữ học hầu như đang chiếm ưu thế, nhất là trong khu
vực phê bình học viện.” Ông mô tả tiến trình của xu hướng được mệnh danh
“chủ nghĩa đế quốc ngôn ngữ học”, thế nhưng, xem ra tình hình của xu hướng
này ở phương Tây vào cuối thế kỷ XX đã và đang “lắng đọng”! Điều đó cho
thấy quy luật vận động của tư duy văn học không bao giờ đứng yên. Ở đoạn
kết bài viết, Trịnh Bá Đĩnh nhận định sâu sắc vấn đề: “văn học là một hiện
tượng rất phức tạp, một hiện tượng mang tính tổng hợp văn hóa rất cao, một
bộ phận không thể tách rời khỏi văn hóa thời đại. Làm nên nó không chỉ có
những thành phần của riêng nó như cách tự sự, cách cấu tạo, mà còn có những
thành phần khác của văn hóa như tâm lý thời đại, hệ tư tưởng, các nghệ thuật
khác. Mà mỗi thời đại lại không tách rời khỏi toàn bộ truyền thống văn hóa
quá khứ (trong mỗi thành tố nhỏ nhất của văn học cần nghe được tiếng vọng
nhiều thế kỷ đã qua) và cả những mơ ước, dự phóng về tương lai. Văn học
phải là sự tổng hợp của mỹ học của lời nói và mỹ học của cái được nói tới.
Không phải ngẫu nhiên mà văn học ngay từ khởi thủy cho đến ngày nay vẫn
kiên nhẫn kể về tình dục và quyền lực, về cái thiện, cái ác đích thực và giả
trang… Điều đó có nghĩa là văn học của chúng ta vẫn rất cần phải tiếp tục kể
15
về những điều trông thấy mà đau đớn lòng, về tình yêu, số phận con người.”

Lược thuật sơ nét diễn biến tình hình hoạt động gần đây nhất của các lý
thuyết nghiên cứu văn học ở phương Tây, người viết nhằm rút ra kinh nghiệm
quý báu: không sa đà vào một lý thuyết nghiên cứu nào một cách cực đoan.
“Gạn đục, khơi trong” các lý thuyết được coi như là phương châm vận dụng
nghiên cứu của luận án. Chính vì vậy, về phương pháp người viết lựa chọn
phương pháp nghiên cứu hợp lý, dung hòa, tổng hợp mới, tìm hiểu các
mối liên quan đến sáng tác và cuộc đời tác giả, trên cơ sở thống kê, hệ
thống, so sánh và đi sâu vào phân tích văn bản tác phẩm thơ ca. Đó là
việc chọn lựa một số phương pháp thích hợp như phương pháp lịch sử,
phương pháp phân tích theo thi pháp học, phong cách học, khảo sát, thống kê,
so sánh… Về lý thuyết, luận án tham khảo, vận dụng một số ý kiến bàn luận
văn chương trong di sản văn học Việt Nam; tham khảo lý luận văn học trong
Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp; tham khảo lý thuyết tưởng tượng, hình
thành thi ảnh của nhà triết học kiêm phê bình văn học Pháp, Gaston
Bachelard; tham khảo các phương thức cơ bản của thi pháp học- chủ nghĩa
cấu trúc của Roman Jakobson, cấu trúc văn bản nghệ thuật của IU. M.
Lotman…
7. Những đóng góp mới của luận án
7.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua việc tổng hợp mới,
luận án nhằm: (1) góp thêm vài ý kiến chứng minh phong cách thơ độc đáo
qua ngôn ngữ thơ và thi ảnh mang tính văn chương - văn hóa - triết học của
Huy Cận; (2) góp thêm một hướng tiếp cận mới về nghiên cứu thơ ông trong
dòng chảy của đời sống văn học, văn hóa, xã hội đương đại; (3) bổ sung tư
17
liệu qua một số văn bản thơ, đối chiếu những tư liệu bản thảo ban đầu trong
tập Lửa thiêng đã được nhà thơ sử dụng qua thao tác chọn lựa hoặc kết hợp
trong quá trình sáng tác, đầy ý nghĩa thể hiện tình cảm yêu tiếng Việt của nhà
thơ.
7.2 Ý nghĩa thực tiễn

sáng tác, khi nhà văn vừa vượt lên trên mọi sự mô phỏng đối với tự nhiên vừa
vượt lên trên cái tác phong, kiểu cách chủ quan của chính người sáng tác. Ý
kiến của Nguyễn Khắc Sính khi viết về phong cách đã liên hệ về trường hợp
chính Marx cũng sử dụng khái niệm phong cách- style để đánh giá tác phẩm
kinh tế học của Proudhon. Tư tưởng này được Diderot, Flaubert (Pháp), Rauli
(Anh) tán thành… [119]
Vào những năm đầu thế kỷ XX, Roland Barthes, nhà ngôn ngữ học- phê
bình văn học Pháp, một trong những người đại diện lỗi lạc của chủ nghĩa cấu
trúc, không dùng khái niệm style khi bàn luận những vấn đề liên quan phong
19
cách. Ông sử dụng khái niệm écriture- lối viết và cho rằng phong cách nhà
văn này khác nhà văn kia chính nhờ lối viết. Cách gọi écriture là lối viết riêng
của mỗi nhà văn được Barthes diễn giải trong công trình Độ không của lối
viết. Ông cho rằng lối viết là cái trung gian giữa ngôn ngữ và văn phong. “…
Văn phong là niềm đơn độc khép kín của nhà văn: một cách nói, một từ vựng
nảy sinh từ cá thể và quá khứ của anh ta là chiều thẳng đứng cắm vào huyền
thoại riêng biệt và bí ẩn của tác giả”. [28, 54]
Cũng trong cuốn Độ không của lối viết, Barthes phân biệt trong một tác
phẩm văn chương: “ngôn ngữ” chung cho tất cả các nhà văn và “lối viết” do
sự suy nghĩ của nhà văn khi sử dụng hình thức mà họ chọn…” [88, tập 2, tr.
57]
Tuy vậy, đồng thời với R. Barthes, nhà bác ngữ học Đức, Léo Spitzer
định nghĩa văn phong là style. Ông cho rằng mỗi không khí văn hóa sản sinh
ra một văn phong khác nhau.
Một ý kiến khác của J. Derrida được tìm thấy trong quyển “Các khái
niệm và thuật ngữ các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ
thế kỷ XX” . J. Derrida, người đại diện khuynh hướng giải cấu trúc luận, đã
sử dụng khái niệm thuật ngữ écriture “là ngọn nguồn, khởi đầu của ngôn ngữ,
tuyệt nhiên không phải là cái tiếng nói đã chuyển tải ngôn từ nói ra”. Ông phê
phán những vấn đề còn bất cập của chủ nghĩa cấu trúc và ký hiệu học. [54,19]

nghĩa đó, khái niệm phong cách có thể được áp dụng vào những loại nghệ
thuật khác nhau và giữa chúng có thể có những sự tương ứng đồng đại. Hoặc,
theo Ar. Grigorian: Phong cách nghệ thuật không thể vô can với phương
pháp, với thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ, với cách hiểu
của nghệ sĩ về thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta…
21
Phong cách là sự thống nhất cao nhất tất cả những phạm trù đó. Ya. Elxberg
phát triển ý phong cách với tư cách là hình thức mang tính nội dung. Phong
cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung. Phong cách - đó là
sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh của tổ chức của nó…
Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác về phong cách tương đối có sự bổ sung qua
lại của các nhà lý luận văn học như V. Turbin, B. Tômashevski. V.
Jirmunxky, Xtêpanôp, Pacpêlop, V. Kôvalev, L. Nôvichenkô, V. Đneprov, A.
Xôcôlôv…
Sau khi mô tả một cách khái quát, Khrápchenkô có cách cắt nghĩa riêng
và nhấn mạnh tính cá biệt trong sáng tác nghệ thuật thể hiện ở phong cách.
Ông cho rằng phong cách là cách thể hiện nét độc đáo của sự sáng tạo văn
học, là toàn bộ sự cảm thụ cuộc sống của nhà văn, quan điểm của nhà văn về
thế giới. Nhân cách, cá tính của nhà văn được thể hiện trong tác phẩm văn học
rất đa dạng. Mỗi sự biến đổi trong phương pháp sáng tác, trong cảm thụ, đều
dẫn đến sự thay đổi phong cách. Phong cách là khả năng thể hiện sự chiếm
lĩnh cuộc sống bằng hình tượng, khả năng chinh phục bạn đọc của nhà văn,
phong cách thực hiện vai trò trong sự hình thành cấu trúc bên trong của các
hiện tượng văn học. Phong cách cá nhân của nhà văn là hạt nhân của quá trình
văn học. Phong cách thể hiện trong ngữ điệu, giọng điệu, cảm hứng sáng tạo,
tính độc đáo trong sự miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, thể hiện trong cấu
trúc tác phẩm, trong kết cấu, trong ngôn ngữ, trong thể loại, trong trường
phái.
Bàn về phong cách chẳng bao giờ dứt theo thời gian với nhiều lý thuyết
của các nhà lý luận, phê bình và cả giới sáng tác văn học! Đôi khi, khái niệm

trong sáng thì văn phong thanh tân (khí chất ở đây người đọc có thể hiểu như
23
bút lực của nhà văn, nhà thơ)… Phong cốt tác dụng cho văn chương cũng
giống như chim bay phải dùng đến đôi cánh vậy.
Phong cách của tác phẩm thay đổi theo cá tính của tác giả. Cá tính khác
nhau thì phong cách cũng khác nhau. Mà cá tính của nhà văn là bao gồm đủ
cả các mặt: tài năng, khí chất, học vấn, tập quán… Chúng chủ yếu là do hậu
thiên (hình thành do rèn luyện trong cuộc sống, trái với tiên thiên là do di
truyền phú bẩm) tùy theo sự thay đổi của hiện thực mà thay đổi. Phong cách
của tác phẩm thể hiện cá tính, đương nhiên cũng thay đổi, cũng phát triển.
Điều đó hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan.
Tóm tắt quan niệm của Lưu Hiệp trong hai chương này, cho thấy thể tính
bao gồm: thể là hình trạng, là bản thân tác phẩm văn chương; tính là tính cách
của tác giả. Phong cốt được hiểu với tình, khí song đôi, từ, thể phối hợp. Văn
sáng, khí mạnh, ngọc quý người cầu. Dựng thêm phong cốt, tạo thành phong
lực tài hoa nổi bật, rực rỡ đẹp sao! Phong cốt tức phong thái và cốt cách của
văn chương. [44, 338]
Sức lan tỏa của lý luận văn học của Lưu Hiệp rất lớn theo thời gian.
Phạm trù văn học phong cốt đã nhiều lần được các nhà ngữ văn học Trung
Quốc hết sức chú ý. Hoàng Khản (học trò của Chương Thái Diễm- một nhà
cải cách chính trị và là một học giả nổi tiếng Trung Quốc đầu thế kỷ XX) đã
ráp cái khái niệm phong và cốt vào các khái niệm hình thức và nội dung. Ông
cho rằng: “Phong là tư tưởng của văn, còn cốt là ngôn từ của văn”.
Theo cách nhận định của nhiều nhà nghiên cứu thời đại sau này đã “gạn
lọc” nhiều vấn đề lý luận văn học của Lưu Hiệp về hình tượng riêng lẻ, các
thủ pháp nghệ thuật, những chỗ gợi nhắc, liên tưởng, là những cái cố kết với
nhau thành một khối trong ý đồ tác giả… Ví dụ, họ nhắc lại ý kiến Lưu Hiệp
khi cho rằng cái cốt vẫn có thể là chết nếu thiếu ngôn từ. Và, ngược lại, ngôn
24
từ cũng chỉ nhờ cốt mới có thể trở thành tác phẩm văn học được. [55, 124-

miêu tả núi rừng, ẩn dật quý ở chỗ nhàn nhã, phóng khoáng. Tỏ bày ý chí cần
phải trang trọng: viếng cổ cần phải cảm khái; tặng nhau nên mềm mỏng, lưu
luyến. Ý tứ lập trước, từ điệu theo sau, đem loại thơ này dùng cho các loại thơ
khác mà không được, thế mới là tinh xảo, sít sao.” [141, tập 1, 87] Nguyễn
Đức Đạt luận bàn về văn chương trong Nam Sơn tùng thoại cũng nêu ý tương
tự: “Văn như con người của nó. Văn thâm hậu thì con người của nó trầm mà
tĩnh; văn ôn nhu thì con người của nó khiêm mà hòa; văn cao khiết thì con
người của nó đạm mà giản; văn hùng hồn thì con người của nó thuần túy mà
đúng đắn” [141, tập 1, 276]. Hoặc, trong bài viết cuối Tập thơ Rừng Chuối,
Cao Bá Quát cho rằng: “Thơ không có phẩm chất nhất định, phẩm chất của
người là phẩm chất của thơ. Phẩm chất của người cao thì phẩm chất của thơ
cao…” Cao Bá Quát nhận xét ý nghĩa này không khác với ý nghĩa “văn chính
là người” của Buffon. Nhưng lời nhận định ở đây có dạng “định lý đảo” khi
ông cho rằng “xem người thì có thể biết được thơ”. [141, tập 1, 246]
Nghiên cứu những vấn đề lý luận văn học qua nhiều thời đại, thuật ngữ
phong cách được nhà lý luận văn học Phương Lựu cắt nghĩa trong Từ điển
Văn học, tập 2 như sau: “Phong cách là chỗ độc đáo mang phẩm chất thẩm
mỹ cao được kết tinh trong sự sáng tạo của nhà văn… Phong cách có thể biểu
hiện ở cảm hứng, thể loại, ngôn ngữ nghệ thuật… Phong cách liên quan cả về
tư tưởng và nghệ thuật… Phong cách bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách
quan, bằng thực tiễn sống của nhà văn, nhà thơ…” [158]
Giải thích cặn kẽ hơn, Phương Lựu bổ sung: “… mỗi nhà văn có một nét
riêng, nhưng chỉ có những cái riêng nào hay, sắc, sâu, tinh… thì mới đáng gọi
là phong cách… Tất nhiên, cái hay, cái sắc, cái sâu, cái tinh trong từng phong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status