ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CẦN TH
THƠ
ÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH
NHÂ
Ữ VĂN
BỘ MÔN NG
NGỮ
ÂU THANH NH
Ả
CH
CHÂ
NHẢ
MSSV: 6106338
ỂU PHONG CÁCH NGH
Ệ THU
ẬT
TÌM HI
HIỂ
NGHỆ
THUẬ
Ế LAN VI
NG CHI TI
ẾT
ĐỀ CƯƠ
ƯƠNG
TIẾ
ẦN MỞ ĐẦ
U
PH
PHẦ
ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứ
5. Phương pháp nghiên cứu
ƯƠ
NG 1: NH
ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NHỮ
1.1 Đôi nét về tác giả
1.1.1 Cuộc đời Chế Lan Viên
1.1.2 Sự nghiệp văn chương
1.1.3 Quan niệm sáng tác
1.3.1.1 Quan niệm Chế Lan Viên về người làm thơ
1.3.1.2 Quan niệm Chế Lan Viên về thơ
1.2 Vài nét về vấn đề phong cách nghệ thuật
ƯƠ
2.3 Điêu tàn - tập thơ thể hiện tình cảm trong sáng của nhà thơ về quê hương và con
người
ƯƠ
NG 3: PHONG CÁCH NGH
Ệ THU
ẬT CH
Ế LAN VI
ÊN
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NGHỆ
THUẬ
CHẾ
VIÊ
Ơ ĐIÊU TÀN TH
Ể HI
ỆN TR
ÊN BÌNH DI
ỆN NGH
Ệ THU
ẬT
QUA TẬP TH
THƠ
THỂ
HIỆ
TRÊ
DIỆ
NGHỆ
THUẬ
ẦN MỞ ĐẦ
U
PH
PHẦ
ĐẦU
ọn đề tài
1. Lí do ch
chọ
Là một nhà thơ lớn của thế kỉ XX, Chế Lan Viên đã để lại cho hậu thế di sản
thơ và văn xuôi phong phú đa dạng. Qua từng trang thơ, văn của ông, người đọc có thể
nhận thấy những “vệt tư tưởng”, những “chất ngọc” được đúc kết từ sự lao động miệt
mài của tâm hồn khát khao, gắn bó sâu sắc với cuộc sống. Đi từ những tháp Chàm
ơ, sự nghiệp sáng tác của
trong tập thơ Điêu tàn đến tháp Bay-on trong tập Di Cảo th
thơ
Chế Lan Viên thể hiện sự gắn bó sâu sắc với vận mệnh của dân tộc và đất nước. Và ở
mỗi chặng đường sáng tác, Chế Lan Viên luôn tìm cách tạo cho mình một dấu ấn riêng,
một phong cách riêng mà khó có một nhà văn nào có thể làm theo hay bắt chước được.
Tác phẩm Chế Lan Viên gây được ấn tượng mạnh và âm vang lớn trong lòng
bạn đọc bao thế hệ. Ngay ở tập thơ đầu tay, tập thơ Điêu tàn, Chế Lan Viên đã xuất
hiện giữa thi đàn Việt Nam “như một niềm kinh dị” như Hoài Thanh đã nhận xét, và
cũng theo Phạm Hổ tập thơ này “tuy hình dáng rất khiêm tốn, nhưng lại làm cho người
đọc đến phải kinh ngạc và bàng hoàng…” [1; tr.91] Với tập thơ Điêu tàn, cái tên Chế
Lan Viên chính thức được ghi nhận vào phong trào Thơ mới với một gương mặt lạ và
một bộ óc siêu phàm của “thần đồng” thơ khi mới chỉ 17 tuổi.
Với tầm ảnh hưởng và vị trí lớn trên thi đàn trước cách mạng tháng Tám, tập
thơ Điêu tàn giữ một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Chế Lan Viên.
Tuy nhiên, qua khảo sát của chúng tôi, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu
mẽ, mới lạ và độc đáo – phong cách ấy quả là có sức hấp dẫn, lôi cuốn và kích thích
sáng tạo đối với nhà thơ trẻ. Có thể nói đến phong cách thơ Chế Lan Viên như một
trong những phong cách đặc sắc nhất thơ Việt Nam hiện đại” [1; tr.40] Ngoài ra
phong cách thơ Chế Lan Viên theo Phạm Hổ còn rất dễ dàng có thể nhận ra, ông viết:
“Có những nhà thơ phải đọc cả chùm tập thơ mới thấy hiện ra phong cách. Nhưng
cũng có nhà thơ chỉ đọc một bài thơ là đã thấy ra ngay. Trường hợp Chế Lan Viên có
thể nhận ra như vậy.” [1; tr.94] Trong suốt chặng đường thơ văn của mình, Chế Lan
Viên luôn có ý thức đổi mới thơ ca, ông luôn chọn cho mình một cá tính sáng tạo riêng,
một dấu ấn riêng trong nền văn học nước nhà. Phát hiện ra điều này, Huỳnh Văn Hoa
trong bài viết “Chế Lan Viên với cái nhìn nghệ thuật thơ” đã nói: “Thế giới thơ ông là
một thế giới đa dạng, muôn màu, nhiều biến hóa. Nhà thơ biết tìm tòi và gửi cho mình
một phong cách, biết chỗ đi và chỗ đến của nghệ thuật. Hơn nửa thế kỉ làm thơ, Chế
Lan Viên đã đắp cho mình một con đường riêng, không lẫn với bất cứ ai. Đây là điều
kiện không dễ trong sáng tạo nghệ thuật.” [1; tr.121]
Sau khi đọc xong tập thơ Điêu tàn, Lê Thiều Quang nhận xét một cách chi tiết
hơn phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên ở tập thơ đầu tay này, trong bài viết “Cảm
tưởng tôi khi đọc Chế Lan Viên”, ông khẳng định: “Nó (tập thơ Điêu tàn) bắt đầu lấp
ló trong vườn thơ Việt Nam, bên cạnh và cũng không kém những tia sáng khác và
đồng thời, nó không giống với một tia nào. Điêu tàn mới lạ quá đến làm ngạc nhiên và
làm ngờ vực nhiều người.” [1; tr.227] Khác với Lê Thiều Quang, Đỗ Long Văn trong
“Thử phác họa một bản đồ của địa ngục theo Chế Lan Viên” đã cảm nhận thế giới
trong thơ Chế Lan Viên: “Trong thế giới Chế Lan Viên mà bóng tối xóa nhòa mọi dị
biệt, người ta thấy một đồ vật thường trở lại như một ám ảnh, ấy là cây tháp chàm đổ
nát. Nó xuất hiện trong những đêm mơ u uất như di tích của một thất bại không biết đã
xảy ra từ thời nào, và cái hoang vu của cảnh vật, trông nó như một đồ thừa. Ngay
những con ma Hời cũng không buồn trở lại cây tháp cổ ấy nữa.” [17; tr.540] Niềm ưu
nhiên, có khá nhiều ý kiến trong phân chia hình ảnh thơ Chế Lan Viên. Theo Phạm
Xuân Nguyên thơ Chế Lan Viên có hai loại hình ảnh: “một loại có tính hiện thực và
một loại có tính chất ẩn dụ, tương trưng. Loại thứ hai này mới là những gì tiêu biểu
cho nghệ thuật thơ Chế Lan Viên. Hầu hết hình ảnh trong thơ ông, kể cả trước và sau
năm 1945, điều cơ bản tồn tại dưới dạng biểu tượng, tượng trưng, khái quát.”[1;
tr.122] . Nguyễn Lâm Điền trong Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên đã dành một
chương để nói về những đặc sắc hình ảnh thơ Chế Lan Viên, trong đó ông có nhận xét
hình ảnh trong tập thơ Điêu tàn: “Thế giới hình ảnh trong Điêu tàn thật hư ảo nhưng
nó lại có sức ám ảnh mãi không thôi đối với người đọc. Ở Điêu tàn, thế giới ấy ‘đứng
sừng sững như một cái tháp chàm chắc chắn và len lõi, bí mật’” [7; tr.74].
Những nhận định trên nhìn chung đã thể hiện sự tìm tòi, khám phá của các nhà
nghiên cứu, nhà phê bình trong việc phát hiện ra cái hay trong thơ Chế Lan Viên. Về
phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên qua tập thơ Điêu tàn, một số nhà phê bình tập
trung vào tập thơ Điêu tàn, một số nhà phê bình thì nhận định phong cách nghệ thuật
thơ ông cho cả giai đoạn hay trong một thời kì sáng tác. Những nhận định này nhìn
chung là chính xác với những nét độc đáo trong phong cách thơ Chế Lan Viên cho tập
thơ Điêu tàn và những sáng tác của ông nói chung. Nhưng cũng có thể thấy, những bài
nghiên cứu về phong cách Chế Lan Viên qua tập thơ Điêu tàn còn sơ lược, chưa đi sâu
vào bức tranh tổng hợp làm nên phong cách thơ của ông. Tuy nhiên, những ý kiến,
nhận định trên là những tư liệu quý giá, góp phần vào việc mở đường cho người
nghiên cứu tìm hiểu phong cách thơ Chế Lan Viên qua tập thơ Điêu tàn.
ch, yêu cầu nghi
3. Mục đí
đích,
nghiêên cứu
4
ương
phááp nghi
nghiêên cứu
Người viết sử dụng nhiều phương pháp trong quá trình thực hiện nhưng chủ yếu
là các phương pháp:
Phương pháp phân tích – tổng hợp: phân tích vấn đề ở nhiều khía cạnh, đặc
điểm. Qua đó khái quát thành những đặc điểm nghệ thuật làm nên phong cách của nhà
thơ.
Phương pháp so sánh: Đây có thể nói là một trong những phương pháp quan
trọng trong nghiên cứu, tìm hiểu phong cách nghệ thuật của một tác giả. Chính vì vậy,
khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật Chế Lan Viên người viết có so sánh với một số
tác giả thuộc phong trào Thơ Mới như: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,… và một
số tác phẩm của Chế Lan Viên sau năm 1954 để làm rõ hơn phong cách nghệ thuật của
ông qua tập thơ Điêu tàn.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn kết hợp sử dụng một số thao tác như: chứng minh,
bình luận, giải thích… để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
ƯƠ
NG 1: NH
ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NHỮ
5
ả
1.1 Đô
Đôii nét về tác gi
ng tr
những vần thơ hết sức cảm động trong bài Kết nạp Đả
Đảng
trêên qu
quêê mẹ.
Hiệp định Pari năm 1954 được kí kết, hòa bình được lặp lại trên miền Bắc, thế
nhưng, một phần nửa của tổ quốc, miền Nam vẫn còn bóng dáng của quân thù. Theo
hiệp định Pari, Chế Lan Viên cũng như những người khác tiến hành tập kết ra Bắc. Tại
Hà Nội, ông tiếp tục làm báo và công tác văn nghệ ở Hội Nhà văn Việt Nam. Với tài
năng của mình, ông được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ cao của Hội Nhà văn Việt Nam,
Đại biểu Quốc hội, ông từng là ủy viên thường trực Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt
Nam; đại biểu Quốc hội khóa 4, 5, 6, 7; ủy viên Ban thống nhất Quốc hội khóa 4, 5.
6
Sau năm 1975, Chế Lan Viên sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1988 Chế Lan Viên được tặng Huân chương Độc lập hạng hai. Năm 1989, ông
qua đời tại bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh.
Chế Lan Viên được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ
thuật năm 1996 (đợt 1).
ươ
ng
1.1.2. Sự nghi
nghiệệp văn ch
chươ
ương
Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ có số lượng tác phẩm phong phú, đa
dạng thuộc nhiều thể loại. Ngoài sáng tác thơ ông còn viết truyện, tạp bút, phê bình
văn học, kinh nghiệm sáng tác văn chương…. Dù ở bất cứ thể loại nào, Chế Lan Viên
công cuộc giải phóng đất nước. Nhiều bài thơ của ông trong thời kì này đã gây xúc
cảm mạnh mẽ đối với cách mạng và quần chúng nhân dân, thể hiện được cái nhìn tinh
tế của nhà thơ về cuộc sống và khát vọng hòa hợp vào cuộc sống. Những bài thơ này
ù sa (1960), Hoa ng
ườ
ng
được tập hợp thành những tập thơ: Ánh sáng và ph
phù
ngàày th
thườ
ường
ng,
ững bài th
ơ đá
nh gi
chim báo bão (1967), Nh
Nhữ
thơ
đánh
giặặc (1972), Đố
Đốii tho
thoạại mới (1973), Hái
theo mùa (1976).
Sau năm 1975 và nhất là những năm tháng cuối đời, thơ Chế Lan Viên trở về
cuộc sống đời thường. Thơ của ông trong thời kì này thể hiện sự băn khoăn, trăn trở
của cái tôi trước sự vĩnh hằng của đời sống và lịch sử. Chất triết lí, giàu suy tư của
ơ I,
người từng trải thể hiện rõ nét trong tập thơ Ta gửi cho mình (1986), và Di cảo th
Nghĩĩ cạnh dòng th
thơ
Khuêê Văn đế
đến
quáán Trung
ơ (1987).
Tân (1981), Ngo
Ngoạại vi th
thơ
1.1.3 Quan ni
niệệm sáng tác
ườ
ơ
1.1.3.1 Quan ni
niệệm của Ch
Chếế Lan Vi
Viêên về ng
ngườ
ườii làm th
thơ
Quan niệm về nghề thơ hay “thợ thơ” của Chế Lan Viên được thể hiện chủ yếu
qua các cuộc nói chuyện văn chương, phê bình văn học và ở một số bài thơ trong sáng
tác của ông.
Trước cách mạng tháng Tám, theo Chế Lan Viên: “Thi sĩ không phải là người.
Nó là Người mơ, Người say, Người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tỉnh, là Yêu.
Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương Lai” [20; tr.9] Người làm thơ theo quan niệm
của ông không phải là một người bình thường, đó là một con người phi thường đầy đủ
trạng thái của người “điên loạn”, từ say, mơ, mộng, ảo, ma, quỷ,… cho đến khả năng
thể nhận thấy, người thi sĩ trong mắt của Chế Lan Viên đã được nâng lên một vị trí
mới: Trong văn học trung đại, nhà thơ phải tuân theo sự gò bó tình cảm được quy định
theo ý thức hệ Nho gia thì giờ đây, người làm thơ có thể tự do bày tỏ cảm xúc của
mình, thậm chí có thể vượt xa mỗi cảm xúc thông thường để vươn đến đỉnh cao của
cảm xúc, phi lí trí.
Sau cách mạng tháng Tám, cùng với một số nhà thơ khác như Lưu Trọng Lư,
Tế Hanh, Xuân Diệu, Huy Cận, … Chế Lan Viên đến với Đảng bằng một niềm tin
cháy rực. Tưởng chừng như đi sâu vào bóng tối của cõi siêu hình, nhưng ánh sáng của
Đảng đã kéo Chế Lan Viên về với thực tại, soi rọi, khơi gợi niềm tin, lí tưởng cho
9
người thi sĩ. Và Đảng đã thực sự đưa những con người như Chế Lan Viên từ một
ươ
ng đế
n cánh đồ
ng vui để Bay theo
người đến với mọi người, Từ thung lũng đau th
thươ
ương
đến
đồng
ng dân tộc đang bay. Sự chuyển biến này đã tác động sâu sắc không chỉ trong
đườ
đường
quan niệm sáng tác thơ mà còn cả quan niệm của ông đối với người làm thơ.
Ông quan niệm: “Thơ là một nghề rất nghiêm túc” [17; tr.309] nên người cầm
bút trước tiên phải là người chân chính và phải có tài. Từ cái chân chính, tài năng ấy,
người làm thơ phải biết không ngừng học hỏi, rèn luyện vốn sống để có một trực giác
10
mình phải hút được cái nhụy của cuộc sống, phải phấn đấu cho cuộc đời có nhụy”
(Tâm sự làm thơ). Chế Lan Viên cũng đề cao vai trò của thực tế cuộc sống đối với nhà
thơ, theo ông, cuộc sống dạy cho người làm thơ cách sống giữa chốn phức tạp của nó:
“Ở cùng ta (cuộc sống- Người viết) thêm vài ngày, ngươi sẽ bắt đầu hiểu ta, và chẳng
vì thế mà mi ghét ta. Nhưng hãy ở cùng ta thêm vài ngày nữa người sẽ hiểu sâu ta và
vì thế, ngươi yêu ta vĩnh viễn” [24; tr.295] Có vốn sống thực tế thì nhà thơ mới có tư
tưởng phong phú, vì vậy, Chế Lan Viên khuyên nhà văn, nhà thơ phải biết hướng mình
ra cuộc sống, biết dời lòng đến những trời cao, cạnh bể, đến những ngã ba, ngã tư của
cuộc đời để cảm nhận cuộc sống, thế thì những trang thơ, văn mới hay, mới hấp dẫn,
ông viết: “đừng ở trong phòng! Mà sáng nay anh phải thấy bể để chiều nay ghép nó
với chữ trời, mười năm trước anh phải sống với cuộc kháng chiến để giờ đây ghép nó
với chữ hòa bình, và luôn phải ra khỏi nhà mình, vào trong thực tế khách quan, để lúc
trở về, tâm hồn mới có nhiều tương quan đột ngột” [23; tr.248]. Có hòa nhập với cuộc
sống thì người làm thơ mới có thể hiểu được sự vận động của cuộc sống với bao nốt
thâm trầm, từ đó thêm cố gắng hơn trong công việc của mình, ông đã tâm tình điều
ực tế:
này trong bài Đi th
thự
“Suốt cuộc đời ăn hạt gạo nhân dân
Ngày thứ nhất nhà thơ đi học cấy
Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nước chảy
Chửa vì người bằng một bữa cơm ăn.”
Nhà thơ đối với Chế Lan Viên cần học cách “cho và nhận”. Ông đã từng nói:
....)
Ông cũng đã từng khuyên những người đi trước:
“Khi anh gần chạng vạng
Thì có người bình minh
Đừng lấy hoàng hôn ngăn cản
Ban mai của họ sinh thành”
Đừ
ng ng
(Đừ
Đừng
ngăăn cản)
Ngoài khả năng bám sát vào cuộc sống, khả năng quan sát của người cầm bút
sáng tác văn học nói chung và nhà thơ nói riêng rất quan trọng. Có quan sát thì nhà thơ
mới nắm bắt được nhịp độ của cuộc sống, mới hiểu được bản chất của sự vật vốn bị
những hiện tượng đơn nhất bên ngoài che khuất. Nói về khả năng quan sát của nhà thơ,
Chế Lan Viên quan niệm nhà thơ phải chú ý quan sát, ông ví như muốn tả chữ “bể” thì
phải thấy nhiều “bể”, đó là “bể vào lúc chiều, lúc yên lặng, lúc cuồng phong, vào mùa
đông, hè...”[23; tr.146]. Ngoài ra, Chế Lan Viên quan niệm, mỗi nhà thơ phải có sự
linh hoạt và khả năng nhìn xa trông rộng: “trong văn và thơ phải có con mắt to của
nhà triết học để thấy nam, bắc, đông, tây. Đồng thời phải có con mắt bé như kiến để
phát hiện chi tiết. Mỗi chi tiết làm nên nhà thơ lớn” [25; tr.843], hay đôi khi nhà thơ
như một con bói cá phải có tầm nhìn xa trông rộng:
“Nhà thi sĩ như con bói cá, mắt bao gồm đầm hồ
Bát ngát, phải thấy cả tam thiên mẫu của đời,
Trước khi lao vào bắt một chú cá con”
ơ...ngh
cái đẹp không linh thiêng sao có thể đè nén những nỗi khiếp sợ.” [23; tr.30] Đồng thời,
quan niệm về thơ và tác phẩm văn học nói chung, Chế Lan Viên đặt sự tương quan
giữa độc giả với tác phẩm. Trong Tựa của tập thơ Điêu tàn ông từng nói: “Đọc tập
Điêu tàn này xong, nếu lòng anh vẫn dửng dưng không có lấy một cơn sóng gió thì xin
anh hãy cầu khẩn tất cả những gì Thiêng Liêng, những gì cao cả tha tội cho phạm
nhân là tôi đây. Nếu, khi đọc xong mà cái Buồn, cái Chán, cái Hãi hùng cùng ùa nhau
đến bọc hồn anh (…) thì xin anh chớ hẹp hòi gì mà cười cho mênh mang, gào cho vỡ
cổ, khóc cho hả hể, rồi gửi cái cười, cái gào cái khóc ấy cho không trung.” [26; tr.10]
Từ đoạn trích trên có thể nhận thấy, vai trò của người đọc và cảm xúc của người đọc
giữ vai trò quan trọng trong việc cấu thành sự thành công của một nhà thơ. Đặt vị trí
người đọc làm trung tâm, tác phẩm nói chung phải khơi dậy sợi dây cảm xúc bên trong
tâm hồn người đọc và phải có tác dụng nhất định với họ: “Mỗi người đọc lấy mười lần,
làm một bài toán nhân, phải chăng chúng ta đã có một số lớn bằng quần chúng. Được
như thế, quyển sách cần phải đủ sức vẹn nguyên và khác lạ sau mỗi lúc dùng xong –
đủ sức làm cho họ kém đi hay bồi đắp thêm sau khi đọc sách.” [23; tr.13]
Nhìn chung, quan niệm về thơ của ông trong giai đoạn này có sự tiến bộ nhất
định khi ông nhấn mạnh vai trò và tương tác của độc giả với tác phẩm. Tác phẩm
chính là chiếc cầu nối giữa nhà văn với người đọc, thông qua tác phẩm, người đọc có
thể nắm bắt nội dung tư tưởng mà nhà văn muốn truyền đạt, chính vì vậy, một tác
phẩm hay phải thực sự tác động đến nhận thức, tình cảm người đọc. Đây là quan niệm
mới về văn học nói chung của ông mà ít những nhà phê bình, lí luận trong thời gian
này làm được.
13
Sau cách mạng tháng Tám, quan niệm thơ Chế Lan Viên có sự chuyển biến rõ
rệt. Quan niệm thơ của ông gắn với nhân dân và quần chúng, thể hiện bước đi tích cực
trong nhận thức về thơ của Chế Lan Viên.
Thơ đâu phải chỉ là con của trang giấy hồng hay trang
giấy trắng”.
(S
ơ)
(Sổổ tay th
thơ
14
Là người sống trong suốt thời kì kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mĩ, Chế
Lan Viên ý thức rất rõ sự mất mác, hy sinh của dân tộc. Vì vậy, thơ đối với ông còn là
vũ khí chiến đấu để góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước. Ông quan niệm, mỗi
câu thơ, bài thơ được sinh ra từ chiến đấu của nhân dân, thơ mang lại niềm tin và sức
chiến đấu cho cả dân tộc, cho nên “Thơ là vũ khí quý báu của chúng tôi” [18; tr.387].
Vũ khí trong thơ là sự tiếp nối truyền thống hào hùng của thế hệ đi trước với những
con người đã hy sinh cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc:
“Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng
Súng thơ tôi, tôi kề lên xác đời anh”
(Nh
Nhậật kí ở bệnh vi
việện)
Và:
“Cho ai cũ thơ tôi làm ướt áo
Nay họ về sưởi ấm dưới thơ tôi”
ơ)
(Ngh
Nghĩĩ về th
thơ
đổi rõ rệt từ trước và sau năm 1945. Nếu trước năm 1945, thơ và người làm thơ theo
quan niệm Chế Lan Viên ít nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực,
thì sau năm 1945 cho đến thời bình, thơ ông thể hiện sự gắn bó sâu sắc với thời đại,
con người và cuộc sống. Những chia sẻ, quan niệm của ông về thơ và người làm thơ
rất đáng để những người sau học hỏi và noi theo. Đồng thời, từ quan niệm trên có thể
nhận thấy, Chế Lan Viên là một nhà thơ có tâm huyết và tận tụy với nghề. Những
dòng hồi kí của Võ Văn Trực về Chế Lan Viên trong những ngày cuối đời ở bệnh viện
khiến người đọc không khỏi cảm động về tinh thần làm việc không mệt mỏi của nhà
thơ: “Chế Lan Viên hăm hở ngỡ như mình đang dần dần trở về trạng thái bình thường.
Anh không thấy cơ thể đau đớn gì cả, nên càng hăng hái viết, giành giật thời gian viết
câu thơ này rồi viết câu thơ khác, làm xong bài này rồi làm bài khác. Viết ở nhiều tư
thế. Ngồi viết. Nằm sắp viết. Nằm nghiêng viết. Những tờ giấy rời nằm rải rác ở đầu
giường cuối giường…” [17; tr.265]
1.2 Vài nét về vấn đề phong cách ngh
nghệệ thu
thuậật
Phong cách (cách nói tắt của phong cách nghệ thuật) từ lâu đã trở thành vấn đề
thu hút đông đảo giới nghiên cứu và phê bình văn học. Victo Hugo đã từng nói:
“Tương lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” [12; tr.205], câu nói đã nhấn
mạnh tầm quan trọng của phong cách đối với thực tiễn sáng tác, nghiên cứu và phê
bình nói chung. Tuy nhiên, cho đến ngày nay giới nghiên cứu vẫn chưa có khái niệm
thống nhất trong định nghĩa về phong cách nghệ thuật.
Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Nh
Nhàà văn Vi
Việệt Nam hi
hiệện đạ
đạii - Ch
Châân dung và
thích hợp với một nội dung khác” [15; tr.14]. Ngoài ra, phong cách theo Phan Ngọc
còn mang tính chỉnh thể, tính cấu trúc. Chính vì tính chất đó nên người nghiên cứu có
thể nhận ra tác giả, thời gian ra đời tác phẩm, dấu ấn thời đại trong sáng tác của một
nhà thơ. Phong cách còn có khả năng khu biệt tác giả này với tác giả khác, đồng thời
khẳng định sự đóng góp của tác giả đó với mai sau: “Một tác giả chỉ có một phong
cách riêng khi đọc vài câu người ta đón biết tác giả là ai, khi cái phong cách mà tác
giả xây dựng góp phần vào truyền thống văn hóa văn học, trở thành mẫu mực cho
nhiều người khác nôi theo và học tập” [15; tr.34]
ữ văn học của Lê Bá Hán cùng các tác giả đã định
Trong cuốn Từ điển thu
thuậật ng
ngữ
nghĩa về phong cách nghệ thuật: “Phong cách nghệ thuật là phạm trù thẩm mĩ chỉ sự
thống nhất của hệ thống hình tượng của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên
cái nhìn độc đáo của nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn
học dân tộc”. [10; tr.255, 256] Nhóm tác giả cho rằng, phong cách nghệ thuật có thể tri
giác được qua những yếu tố cơ bản của hình thức nghệ thuật, đồng thời “phong cách là
nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm
một chỉnh thể có thể cảm nhận được một giọng điệu, sắc thái thống nhất” [10; tr.256].
Khẳng định tài năng, những nét có tính chất lặp lại trong hình thành phong cách của
17
một tác giả, nhóm tác giả viết: “Không phải nhà văn nào cũng có phong cách, chỉ có
những nhà văn có tài, có bản lĩnh mới có được phong cách độc đáo. Cái nét riêng ấy
thể hiện các tác phẩm và được lặp đi, lặp lại trong những tác phẩm của nhà văn làm
ngoài của giáo dục. Đây là lí luận mới so với đương thời mà ông sinh sống và cũng là
tài liệu quý cho nghiên cứu phong cách của nhà văn thời hiện đại.
18
Nói đến phong cách không thể không nhắc đến cuốn Cá tính sáng tạo của nh
nhàà
văn và sự ph
pháát tri
triểển văn học của M.B. Kharapchenko. Trong cuốn sách này, ông đã
dành hẳn một chương để nói đến phong cách, theo đó, phong cách được hiểu và định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ar.Grigorian cho rằng: phong cách gắn liền với thể
giới quan, bút pháp, phương pháp, thời đại: “Phong cách không thể vô can với phương
pháp, thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân nhà nghệ sĩ, với cách hiểu của nghệ sĩ
với thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta… phong cách là sự
thống nhất của tất cả các phạm trù đó” [12; tr.131]. Gắn phong cách với ngôn ngữ, V.
Turbin đã từng nói: “Phong cách – đó là ngôn từ được xem xét trong mối quan hệ của
nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và ý
nghĩa nẩy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật” [12; tr.131]. Còn
theo V.Kovalev thì “Phong cách là một thể thống nhất chỉnh thể của nhà văn …, đó là
qua lại giữa nhiều yếu tố trong hệ thống nghệ thuật của nhà văn, là sự quy định lẫn
nhau của những yếu tố đó” [12; tr.132,133]. Sau khi đã trình bày những ý kiến khác
nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu, M.B. Kharapchenko đã nêu ra ý kiến
riêng của mình về phong cách. Ông cho rằng, phong cách có liên hệ mật thiết đến cá
tính sáng tạo của nhà văn: “Phong cách biểu hiện nhiều đặc điểm của cá tính sáng tạo
là nội dung và hình thức nghệ thuật có một quan hệ chặt chẽ với nhau. Những đặc
điểm trên là tiền đề cho người nghiên cứu tìm hiểu phong cách nghệ thuật Chế Lan
Viên qua tập thơ Điêu tàn.
ƯƠ
NG 2: PHONG CÁCH NGH
Ệ THU
ẬT CH
Ế LAN VI
ÊN
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
NGHỆ
THUẬ
CHẾ
VIÊ
Ơ ĐIÊU TÀN TH
Ể HI
ỆN TR
ÊN BÌNH DI
ỆN NỘI DUNG
QUA TẬP TH
THƠ
THỂ
HIỆ
TRÊ
DIỆ
20
bằng một sự cảm thông, ám ảnh mãi không thôi:
“Những cảnh ấy trên đường về ta gặp,
Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi
Và từ ấy lòng ta luôn tràn ngập
Nỗi buồn thương tiếc nhớ giống dân Hời”
Tr
ng về)
(Tr
Trêên đườ
đường
Nước non Chiêm Thành qua cái nhìn của tác giả được xuất phát từ quá khứ
hùng hồn, mạnh mẽ. Họ, những chiến binh Chàm xuất hiện với vẻ hào hùng và sức
mạnh của họ:
“Chim câm tiếng, nắng chiều không dám động
Lá vàng kia sợ hãi cũng thôi rơi
Làn suối trắng nghẹn lời trong ngàn rộng…”
Chi
ng
(Chi
Chiếến tượ
ượng
ng)
Sự mạnh mẽ của quân Chiêm được miêu tả bằng khung cảnh “Chim”, “nắng
chiều”, “lá vàng”, “suối trắng” thì phải “câm”, “không dám động”, “nghẹn” trước sức
mạnh của chiến binh Chiêm Thành. Và những con voi Chàm, con vật thiêng và đặc
trưng của dân Chàm xuất hiện với vẻ uy nghi, lẫm liệt, tác giả đã sử dụng từ “ngài” với
sự trân trọng và kính phục:
ượng
ng)
Không dừng lại ở đó, quá khứ của dân Hời còn được sống lại trong thơ Chế Lan
Viên với cuộc sống thái bình, thịnh vượng của nước non Chiêm. Chúng được điểm tô
bằng những cung đền, lâu đài, thành quách và những cuộc vui chơi của vua quan
Chiêm:
“Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà
Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo
Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa”
Tr
ng về)
(Tr
Trêên đườ
đường
Âm vang cuộc sống thái bình của dân Hời vẫn còn đâu đó trong không gian
hiện tại bằng những hình ảnh hết sức bình dị, đó là những chiếc thuyền “nằm mơ trên
sông lặng”, bầy voi Chàm thì “trầm mặt dạo bên thành” và hình ảnh của những người
phụ nữ Chàm:
“Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi
Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp
Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui”
Tr
ng về)
(Tr
Trêên đườ
đường
Nhưng những vẻ uy nghi, lẫm liệt của nước non Chiêm Thành giờ đây chỉ còn