tìm hiểu phong cách thơ tản đà - Pdf 10


Luận văn cao học

“Tìm hiểu phong cách thơ Tản Đà”

MỤC LỤC

Trang
Dẫn luận………………………….……………………………….…………… 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu………………………………………………… 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn…………. 10
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu…………………………………… 11
5. Cấu trúc luận văn………………………………………………………… 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SƠ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH
THƠ TẢN ĐÀ … ………………………………………………………………

15
1.1. Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật……………… ………………… 15
1.2. Nền văn học giao thời và tác gia giao thời tiêu biểu: Tản Đà…………. 22
1.3. Tản Đà - Một phong cách thơ.………………………………………… 28

CHƯƠNG 2: PHONG CÁCH CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TẢN
ĐÀ…………………………………………………………………………………

36
2.1 Nhìn chung về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Tản Đà…………. 32
2.2. Cái tôi ngông nghênh, mộng và say…………………………………… 35
2.3. Cái tôi đa tình……………………………………………………………. 50
2.4. Cái tôi giang hồ, yêu cái đẹp
…………………………………………….

KẾT LUẬN……………………………………………… 168
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………… 171
PHỤ LỤC……………………………………………… 179
Phụ lục 1………………………………………………………………………… 179
Phụ lục 2……………………………………………………………………… 183
Thơ trung đại chủ yếu dùng thể thơ cách luật gốc của Trung Quốc. Khi viết
bằng chữ Hán thì các tác giả tuân thủ đầy đủ niêm luật, nhưng khi chuyển
sang chữ Nôm thì có thể vượt ra ngoài các quy phạm. Với tinh thần tiếp biến
văn hóa dân tộc: mượn hình thức của văn học Trung Quốc trên cơ sở vốn
ngôn ngữ, âm điệu và nhu cầu diễn đạt tâm hồn mình, đến thế kỷ XVIII -
XIX các nhà thơ nổi tiếng như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú
Xương,…đã gỡ bỏ hết vẻ trang trọng của thể thơ cách luật, biến nó trở thành
âm điệu Việt Nam.
Tản Đà kế thừa đặc điểm này của thế hệ trước và xuất sắc trong vai trò nhà
Nho cuối cùng, đúng như nhận định của Xuân Diệu trong Công của thi sĩ
Tản Đà: “Những vần thơ nhẹ nhàng, phất qua như gió, những câu ca có
duyên, những đoạn phong dao mộc mạc, thi sĩ Tản Đà làm rất thuần thục, rất
trong trẻo như hơi thở tự nhiên của phong cảnh Việt Nam. Thơ Tản Đà thực
là thơ An Nam, cả đến những bài thất ngôn luật đường của ông cũng không
chút gì gò gẫm khó khăn như thơ của các cụ nhà nho thuở trước.” [22, tr.
181]

Một lá mảnh treo cuốn lại buông.
Ngồi hết đêm suông, suông chẳng hết,
Chùa ai xa điểm mấy hồi chuông.
(Đêm suông phủ vĩnh)
Ngày ngày vô sự đứng ven sông
Ướm hỏi cô chài: Cá bán không?
Đủng đỉnh ghe nan dòng Hát thủy,
Phất phơ tà áo ngọn đông phong.
Thầy đồ bến nọ khoèo chân ngó,
Bác xã nhà đâu sốt ruột mong.
Cô cất lưới lên bồng bỗng tếch
Lấy chi nuôi nấng cái, con, chồng!
(Xem cô chài đánh cá)
Nhà thi học Triệu Mạnh Phủ đời Nguyên từng nhận xét: "Thơ mà dùng
hư tự không hay". Người đồng thời cùng họ Triệu là Phạm Phanh cũng nói
thêm: "Thơ dùng nhiều thực từ thì mạnh, dùng nhiều hư từ thì yếu" (dẫn theo
Quách Tấn). Khi dùng nhiều hư từ, câu thơ sẽ trở nên lỏng lẻo, cạn cợt, mất
đi sự hàm súc, ý tại ngôn ngoại của thể thơ bác học. Tản Đà đã sử dụng
nhuần nhuyễn các quan hệ từ “Thì”, “Mà”, “Là” và các đại từ phiếm chỉ làm
mất đi tính nặng nề, khuôn sáo vốn có của thơ Đường luật:
“Nữ quyền” hôm ấy tớ rao chơi,
Ai bán mà mua của hiếm hoi.
Một gánh giang sơn cùng gánh lấy,
Thời chi ai có tiếc chi ai.
(Ai “nữ quyền” ra mua)
Ngồi rỗi ăn không nói gẫu chơi,
Ai nghe, nghe gẫu một đôi lời.
Hai mươi năm lẻ hoài cơm áo,
Mà đến bây giờ có thế thôi.
(Đề khối tình con)

Câu đầu “Muốn nói chuyện chơi không có chuyện”, nhưng lúng túng
không biết mở lời thế nào. Câu tiếp theo, với cách ngắt nhịp 1/3/3, câu thơ
như tiếng reo vui trước cảnh vật là một cái cớ để bắt chuyện với cô gái.
Hay như câu:
Cô cất lưới lên bồng bỗng tếch
Lấy chi nuôi nấng/ cái,/ con,/ chồng?
(Xem cô chài đánh cá)
Câu đầu ngắt theo nhịp bình thường 4/3 của thơ Đường luật. Câu sau ngắt
theo nhịp 4/1/1/1. Ba từ “cái, con, chồng” tạo thành ba nhịp, làm nổi bật
gánh nặng gia đình đè lên vai cô gái, qua đó bộc lộ niềm cảm thương của Tản
Đà đối với cô chài đánh cá.
Nhà thơ cũng đem vào thể loại này một trường từ vựng mới: khẩu ngữ,
nhờ đó Đường luật của Tản Đà tự nhiên mà phóng khoáng:
Đầu ai sao tóc rối lung tung?
Chắc hẳn vì chưng nỗi tưởng chồng?
Cậu ấy đi đâu lâu thế nhỉ?
Phòng riêng hay vẫn hãy còn không?
(Ghẹo người vu vơ)
Những hình ảnh, từ ngữ bình dị “tóc rối lung tung”, “cậu ấy” làm cho lời
thơ gần gũi, thân thiết, tưởng như Tản Đà đã quen biết “người vu vơ” này từ
lâu lắm. Tính tự nhiên của bài thơ thể hiện qua cách dùng từ ngữ thông
thường, dùng khẩu ngữ và ngắt nhịp linh động theo sát tình ý, khiến câu thơ
giảm bớt vẻ hoa lệ, trịnh trọng cố hữu của thơ Đường.
Sức hấp dẫn cũng như ý nghĩa cách tân thơ Đường của Tản Đà còn thể hiện ở
những câu thơ được viết theo ngữ khí của lời nói thường vốn rất đậm đà
trong ca dao. Những hô ngữ, hư từ, từ cảm thán,… được ông ưa thích sử
dụng đã khiến cho lời thơ trở nên tự nhiên, giàu sắc điệu cảm xúc:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế nay em chán nửa rồi.
(Muốn làm thằng Cuội)

khoáng, tự nhiên thể hiện qua phép đối phóng:
Trăm năm cuộc thế còn man mác,
Bốn bể thương ai luống lạnh lùng.
(Hủ nho lo mùa đông)
Hoặc cách kết thúc bằng một ý lạ, giọng mới, đầy bất ngờ:
Ngày ngắn đêm dài đêm lại sáng,
Đêm qua ai có bạc đầu không?
(Hủ nho lo mùa đông)
Tản Đà còn dùng phép so sánh và hình tượng hóa làm cho câu thơ Đường
luật có sức cuốn hút, dễ gây ấn tượng sâu xa trong tâm hồn người đọc:
Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mực mờ
(Ngày xuân thơ rượu)
Sự nghiệp nghìn thu xa vút mắt
Tài tình một gánh nặng bên vai
(Năm hết hữu cảm)
Thơ Tản Đà có sức cảm mạnh. Người đọc dễ đồng tình với sự ca ngợi của
Tản Đà trước nhan sắc người đẹp trong tranh, khi ông diễn đạt sự ca ngợi
bằng mấy đường nét cụ thể, khác xa với lối ước lệ, trừu tượng của thơ
Đường:
Vẻ ngọc long lanh pha sắc nước,
Nhị non ngào ngạt lộn hương trời.
(Đề ảnh mỹ nhân)
Tuy nhiên, sự hàm súc, rắn chắc, công phu đúc chữ của thơ Đường luật cổ
điển vẫn là một đặc điểm dễ nhận ra trong thơ Tản Đà, nhất là những bài thơ
được sáng tác ở giai đoạn cuối đời:
Bồn chồn chín khúc cơn mưa lạnh
Đòi đoạn năm canh bóng nguyệt mờ
Hay:
Mặt nước khói tan chìm vía cá

1.1. Giới thuyết về Phong cách nghệ thuật……………… ………………… 15
1.2. Nền văn học giao thời và tác gia giao thời tiêu biểu: Tản Đà…………. 22
1.3. Tản Đà - Một phong cách thơ.………………………………………… 28

CHƯƠNG 2: PHONG CÁCH CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TẢN
ĐÀ…………………………………………………………………………………

36
2.1 Nhìn chung về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Tản Đà…………. 32
2.2. Cái tôi ngông nghênh, mộng và say…………………………………… 35
2.3. Cái tôi đa tình……………………………………………………………. 50
2.4. Cái tôi giang hồ, yêu cái đẹp
…………………………………………….
56
2.5. Cái tôi Tản Đà - sản phẩm độc đáo của nền văn học buổi giao
thời……

68

CHƯƠNG 3: NHỮNG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN PHONG CÁCH THƠ
TẢN ĐÀ 82
3.1. Các thể loại thơ ca Tản Đà………………………… …………………. 82
3.1.1 Nhìn chung về các thể thơ Tản Đà………………… ………………… 82
3.1.2 Dân tộc hóa thơ Đường luật (Đường luật khẩu ngữ thi) …………… 85
3.1.3 Trở về với các thể loại thơ ca dân tộc………………………………… 93
3.1.4 Đến với hát nói…………………………………………………………. 106
3.1.5 Mở đường cho thơ Mới………………………………………………… 113


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status