ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HUY PHÒNG
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
NGUYỄN HUY TƯỞNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HUY PHÒNG
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
NGUYỄN HUY TƯỞNG
Chuyên ngành: Lý luận Văn học
Mã số: 62 22 32 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS Phạm Thành Hưng
2. TS. Nguyễn Văn Nam
Hà Nội - 2015
5. Đóng góp mới của luận án
6. Cấu trúc luận án
3
4
5
MỞ ĐẦU
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề về phong cách và phong cách cá nhân nhà văn
1.1.1. Một số quan niệm về phong cách
1.1.2. Về vấn đề phong cách cá nhân nhà văn
1.1.3. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết phong cách ở Việt Nam
1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.2. Tình hình nghiên cứu, tiếp nhận sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
ở Trung Quốc
1.2.3. Những vấn đề đặt ra qua khảo sát tình hình nghiên cứu phong cách
nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng
6
6
6
12
19
24
24
2.3.3. Về đặc trưng của thơ và tiểu thuyết lịch sử
64
Chương 3
NÉT TINH TẾ, TÀI HOA CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
TRONG KHÁM PHÁ ĐỜI SỐNG LỊCH SỬ - VĂN HÓA
70
3.1. Vùng hiện thực thẩm mĩ đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Huy
Tưởng
3.1.1. Cảm thức về truyền thống lịch sử dân tộc
3.1.2. Cảm thức về âm hưởng hào hùng của các cuộc chiến tranh
cách mạng
3.1.3. Cảm thức về vẻ đẹp của Thăng Long - Hà Nội
3.2. Các kiểu nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
3.2.1. Kiểu nhân vật Quân vương, tướng sĩ
3.2.2. Kiểu nhân vật kẻ sĩ Thăng Long
3.2.3. Kiểu nhân vật người phụ nữ
71
72
78
88
96
97
101
105
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sự vận động, phát triển của một nền văn học được đánh dấu bằng sự
xuất hiện, định hình của các tài năng văn học, các phong cách nghệ thuật độc
đáo. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu từng khẳng định, khi một “phong cách lớn
ra đời, đó là một thời kỳ mới của văn học trong quá trình lịch sử” [59, tr.62], vì
thế việc nghiên cứu sáng tác của nhà văn dưới góc nhìn lý thuyết phong cách là
hướng nghiên cứu cần thiết, có tính thời sự để nhận diện, khẳng định những nỗ
lực sáng tạo của người nghệ sĩ trong việc tạo ra lối viết, phong cách riêng
không lẫn với các cây bút cùng thời. Đồng thời qua việc nghiên cứu phong
cách tác giả sẽ thấy được sự phong phú, đa dạng của đời sống văn chương,
thấy được những dấu ấn của cả một giai đoạn, thời kỳ lịch sử.
Trong đời sống phê bình văn học hiện nay có sự xuất hiện của nhiều
trường phái, lý thuyết phê bình như: tự sự học, thông diễn học, văn hóa học,
phê bình nữ quyền, hậu thực dân… nhằm đem đến cho người đọc những cảm
nhận mới về các hiện tượng văn chương. Tuy nhiên để thấy được sự khác biệt,
nổi bật trong cảm hứng, quan điểm sáng tác đến phương thức, bút pháp nghệ
thuật của nhà văn thì lối nghiên cứu, phê bình theo phong cách vẫn là hướng
nghiên cứu phù hợp, có tính thực tiễn cần được vận dụng để thấy được vẻ đẹp,
sự khác lạ của những tác phẩm văn chương, cũng như sự sáng tạo, đóng góp
của nhà văn đối với sự phát triển của văn học dân tộc.
1.2. Nhắc đến văn học Việt Nam thế kỷ XX không thể không nhắc tới
những gương mặt tiêu biểu với phong cách độc đáo như Nguyễn Bính, Xuân
Diệu, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Thạch Lam…, và đặc biệt phải kể tới những
sáng tác ấn tượng mang phong cách riêng của Nguyễn Huy Tưởng. Xuất hiện
trên văn đàn muộn so với sự thành công của những bạn văn cùng thời, nhưng
với những bước tiến chậm mà chắc chắn, đĩnh đạc của một cây bút luôn nỗ lực
vươn lên với niềm khát khao mãnh liệt mượn văn chương để tỏ lòng yêu nước,
“tô điểm cho non sông những tòa đài hoa lệ lộng lẫy nhất trần gian” (kịch Vũ
được thể hiện trong toàn bộ quá trình sáng tác của nhà văn. Đồng thời có sự
đối sánh với các tác giả cùng thời và sau này để thấy được những sáng tạo
riêng của nhà văn đó. Phong cách nghệ thuật nhà văn thể hiện qua quan niệm
sáng tác và những tác phẩm tiêu biểu, đỉnh cao. Nguyễn Huy Tưởng sáng tác
trên nhiều thể loại, trong phạm vi của luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu
vào bốn thể loại với những tác phẩm mà theo chúng tôi, chúng chứa đựng văn
phong, cốt cách con người Nguyễn Huy Tưởng: Tiểu thuyết (Đêm hội Long
2
Trì, An Tư, Sống mãi với Thủ đô); Kịch (Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Những người ở
lại, Luỹ hoa - kịch bản phim); Truyện thiếu nhi (Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm
mẹ, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung) và toàn bộ Nhật
ký của nhà văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận án tập trung tìm hiểu những vấn đề lý luận về phong cách trong
nghiên cứu văn học, đặc biệt là vấn đề phong cách tác giả. Đồng thời ứng dụng
lý thuyết của loại hình phê bình này để tìm hiểu phong cách nghệ thuật
Nguyễn Huy Tưởng. Đó là những nét độc đáo, nổi bật trong quan niệm của
nhà văn về nghệ thuật và con người, trong cảm hứng sáng tạo, trong nội dung
tư tưởng và bút pháp thể hiện. Từ đó luận án khẳng định vai trò, dấu ấn của
phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng đối với sự phát triển của văn
chương dân tộc.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu phong cách của một tác giả văn học Việt Nam hiện đại,
chúng tôi dựa trên phương pháp luận biện chứng, lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin. Phân tích đánh giá tác giả, tác phẩm một cách khách quan, khoa học
trong sự đối sánh với các tác phẩm, tác giả khác cùng thời và sau này.
Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể
làm công cụ cho việc định hướng thẩm bình và chỉ ra những vẻ đẹp trong sáng
tác của nhà văn như:
Thông qua luận án, chúng tôi muốn đưa ra cái nhìn bao quát về hành
trình sáng tạo của Nguyễn Huy Tưởng với những quan niệm tiến bộ của ông về
nghệ thuật, con người mà đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị.
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng
một cách hệ thống dưới góc nhìn lý thuyết phong cách. Luận án khẳng định
những giá trị nổi bật, những dấu ấn sáng tạo và đóng góp to lớn của Nguyễn
Huy Tưởng đối với dòng văn học viết về lịch sử. Với những nỗ lực sáng tạo
cùng tình yêu lịch sử, yêu quê hương, đất nước, Nguyễn Huy Tưởng xứng
đáng được mệnh danh là nhà chép sử bằng văn chương, nhà văn của Hà Nội
với những trang viết tài hoa, độc đáo.
Qua nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng, luận án sẽ
mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về phong cách nghệ thuật của các tác giả
cùng thời, rộng hơn là phong cách thời đại. Những đóng góp mới của luận án
hy vọng sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với những ai quan tâm tìm hiểu
di sản văn chương dân tộc, trong đó có những sáng tác của Nguyễn Huy
Tưởng.
4
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu (5 trang), kết luận (4 trang) và danh mục tài liệu
tham khảo (11 trang), cấu trúc luận án gồm có 4 chương như sau:
Chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2
Hành trình sáng tạo và quan niệm của Nguyễn Huy Tưởng về nghệ thuật
Chương 3
Nét tinh tế, tài hoa của Nguyễn Huy Tưởng
trong khám phá đời sống lịch sử - văn hóa
Chương 4
nghĩa ban đầu, phong cách được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực ngôn ngữ,
điều này được thể hiện rất sớm trong các công trình Thi pháp học, Tu từ học
của Aristote, Các quy luật của Xixeron (Marcus Tullius Cicero, 106-43 TCN).
Sang thời cận đại, khái niệm phong cách không chỉ được hiểu và vận
dụng trong phạm vi hẹp của ngôn ngữ học mà nội hàm khái niệm đã được mở
rộng. Phong cách được coi là đặc trưng nghệ thuật của nghệ thuật, một phạm
trù thẩm mĩ, một hệ thống nghệ thuật biểu hiện hình thức của tác phẩm.
"Phong cách là một phương hướng riêng biệt trong nghệ thuật hình thành ở
6
thời đại nào đó và là một hệ thống xác định của các dấu hiệu nghệ thuật tư
tưởng" [103, tr.28].
Cùng với sự phát triển của các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình và
thực tiễn sáng tác nghệ thuật, tới thời hiện đại, phong cách được coi là một
phạm trù thẩm mĩ, một hiện tượng văn học nghệ thuật bao gồm trong đó tất cả
sự đa dạng và phức tạp của nó. Phong cách được nghiên cứu trong mối tương
quan với tư tưởng của nhà văn, với thời đại.
Bàn về khái niệm, thuật ngữ phong cách có nhiều ý kiến, quan điểm khác
nhau được đưa ra nhằm xác định nội hàm, phạm vi, đặc trưng của lĩnh vực
nghiên cứu. Nhưng càng nghiên cứu, các nhà khoa học lại càng nhận ra sự đa
dạng, phức tạp của đối tượng. Theo L. Dolezel, nhà lý luận ngữ văn của Đại
học Toronto, thuật ngữ phong cách là một khái niệm siêu ngôn ngữ của lý
thuyết văn chương. Nó chỉ là một khái niệm vay mượn từ ngôn ngữ học, do
các nhà ngôn ngữ cố ý đề cao, lợi dụng nó để nhấn mạnh tầm quan trọng của
ngữ học trong nghiên cứu và phê bình văn chương. Theo thời gian, khái niệm
phong cách càng ngày càng trở nên phức tạp, tổ hợp quá nhiều cách hiểu, thậm
chí gây trở ngại cho nghiên cứu phê bình văn học. Đã đến lúc phải trả lại nó
cho ngôn ngữ học, xem nó chỉ là phong cách ngôn ngữ là đủ. (xem “Phong
cách văn học: Ghi chú ngắn về một khái niệm phức hợp”, tr. 265, Lubomir
riêng, cả trong lịch sử chung của văn học thế giới (phong cách tác phẩm văn
học, phong cách nhà văn, phong cách trường phái văn học…)" [73, tr. 18]
Đi sâu vào bình diện ngôn ngữ - một yếu tố quan trọng cấu thành nên
phong cách nhà văn, V. Turin lưu ý: "Phong cách đó là ngôn từ được xét trong
mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa
những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn
cảnh nghệ thuật” [73, tr. 259]. Còn L.Novichenko thì cho rằng phong cách
nghệ thuật gắn liền với cá tính sáng tạo và bị chi phối bởi những tác động của
thời đại, cộng đồng: "Phong cách học hiểu theo nghĩa chung nhất là vẻ đặc thù
trong những tác phẩm của nhà văn (hoặc của một nhóm nhà văn), vẻ đặc thù
này được quy định bởi những quan điểm chung về cuộc sống và thể hiện trong
những đặc điểm có tính chất đặc trưng về nội dung và hình thức của những tác
phẩm ấy." [73, tr. 261].
Với nhà nghiên cứu V.Jirmunxky, khi nhận định về phong cách của tác
phẩm văn học lại nhấn mạnh sự thống nhất của các yếu tố nội dung và những
yếu tố tạo hình thức của phong cách: "Phong cách nghệ thuật của nhà văn là sự
biểu hiện thế giới quan của anh ta, thế giới quan đó được thể hiện trong những
hình tượng bằng các phương tiện ngôn ngữ. Bởi vậy không thể nghiên cứu
8
phong cách nghệ thuật của nhà văn trong tính mục đích chức năng của nó mà
tách rời nội dung tư tưởng - hình tượng của tác phẩm. Đồng thời phong cách
của tác phẩm văn học không phải là tu từ học: đề tài, hình tượng, bố cục của
tác phẩm văn học, nội dung nghệ thuật của nó (nội dung này được thể hiện
bằng những phương tiện ngôn ngữ nhưng không giới hạn ở từ ngữ) cũng là
những yếu tố quan trọng của của phong cách, và có thể khá quan trọng, bởi vì
chúng xác định cả những nguyên tắc nghệ thuật của việc lựa chọn chất liệu từ
ngữ, tức là tu từ học hiểu theo nghĩa hẹp của từ đó" [73, tr. 260].
Bên cạnh những thành tựu lý luận của các nhà nghiên cứu, phê bình văn
- Phong cách là một tập hợp những nét đặc trưng của một tác phẩm cho
phép qua đó nhận dạng và nhận ra tác giả (trực giác hơn là phân tích)
- Phong cách là một sự lựa chọn giữa nhiều lối viết.” [14; tr.285]
Tuy còn có những điểm khác biệt trong quan niệm, cách giải thích, định
nghĩa về phong cách cũng như việc xác định, quy chiếu những yếu tố làm nên
phong cách nghệ thuật tác giả, tác phẩm, thể loại, thời đại… nhưng điểm gặp
gỡ trong quan điểm của các nhà nghiên cứu phương Tây là họ nhấn mạnh đến
khía cạnh sáng tạo, những nét riêng biệt, độc đáo của người nghệ sĩ sẽ góp
phần tạo nên phong cách. Và phong cách được thể hiện trong toàn bộ hành
trình sáng tạo, trong nội dung tư tưởng tác phẩm và phương thức biểu hiện.
Ở các nước phương Đông, đặc biệt là Trung Hoa, thuật ngữ phong cách
tuy xuất hiện muộn nhưng trong các công trình bàn về thơ của Lưu Hiệp (Văn
tâm điêu long), Viên Mai (Tùy viên thi thoại)… khái niệm văn khí, khí chất,
văn như kỳ nhân đã được các nhà phê bình sử dụng nhiều trong các bài viết khi
bàn về đặc tính của thơ, coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt giọng văn, khí
chất giữa nhà thơ này với nhà thơ khác. Bàn về quy luật và yêu cầu sáng tạo thi
ca, Viên Mai nhấn mạnh đến dấu ấn cá nhân của thi sĩ: “Thơ có người mà
không có ta là bù nhìn vậy… Làm thơ cũng như các huyện ở Giang Nam nấu
rượu đều lấy gạo làm nguyên liệu mà vẫn nấu thành các vị riêng. Người sành
rượu nếm khắp và nói đây là rượu Nam Kinh này, còn đây là rượu Tô Châu
này… Cái ngon giống nhau mà vị khác nhau là vì mỗi nơi đều có cách nấu
khác nhau.” [96, tr.134]. Như vậy, tuy không trực tiếp bàn về vấn đề phong
cách nhưng qua cách lý giải của Viên Mai về năng lực, tài nghệ sáng tạo của
người nghệ sĩ trong việc tạo ra những nét riêng, độc đáo ở mỗi tác phẩm, ta
thấy từ rất sớm những yêu cầu về sự độc đáo, khác lạ, không lặp lại trong sáng
tạo văn chương là quy luật, yêu cầu bắt buộc đối với mỗi nghệ sĩ. Và để có
được “khí chất” riêng, ngoài những yếu tố thiên bẩm, cá tính sáng tạo, đòi hỏi
10
tr.256]
11
1.1.2. Về vấn đề phong cách cá nhân nhà văn
Phong cách cá nhân nhà văn hay phong cách tác giả là một trong những
vấn đề quan trọng của phong cách, bởi nhà văn đóng vai trò là chủ thể, là nhân
tố quan trọng trong đời sống văn học. Nói như M. Proust: Thế giới được tạo
lập không phải một lần, mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một
lần thế giới được tạo lập. Và chính sự độc đáo, riêng biệt, mới lạ trong sáng tác
của mỗi nhà văn thông qua những tác phẩm cụ thể sẽ góp phần làm nên phong
cách nghệ thuật của nhà văn đó. Đồng thời qua phong cách nghệ thuật sẽ cho
thấy sự trưởng thành, định hình của một tài năng sáng tạo.
Tuy là là một vấn đề quan trọng của phong cách học nhưng những quan
niệm, đánh giá, xác định về phong cách cá nhân nhà văn vẫn còn tồn tại nhiều
ý kiến khác nhau. Có người cho rằng phong cách cá nhân nhà văn gắn liền với
tư tưởng, tình cảm của nhà văn đó, người khác thì lại nghiêng về việc xem xét
những kỹ thuật biểu hiện ở nội dung và hình thức tác phẩm sẽ cho thấy những
sáng tạo riêng làm nên phong cách nhà văn… Ở góc độ nào đó, có thể thấy
những ý kiến đó đều đúng nhưng chưa đủ. Trong tiểu mục này, chúng tôi sẽ
khảo sát ý kiến của các nhà nghiên cứu về vấn đề này, qua đó xây dựng những
tiêu chí, bình diện cụ thể để làm cơ sở tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn
Huy Tưởng.
Theo cách hiểu truyền thống, nói đến phong cách là nói đến dấu ấn sáng
tạo của cá nhân nhà văn, nó mang tính riêng biệt, cá thể, độc đáo không lặp lại,
không tìm thấy trong sáng tác của nhà văn khác. Đồng thời phong cách nhà
văn còn thể hiện ở hệ thống các phương tiện biểu đạt, ở hình thức nghệ thuật
được xem xét trong tính quy luật và các nguyên tắc hài hòa. Như vậy, phong
cách cá nhân nhà văn được thể hiện trong nhiều yếu tố từ cá tính sáng tạo, tài
giới quan của người nghệ sĩ còn được thể hiện qua những bài viết mang tính
tuyên ngôn, quan điểm, và nhất là được thể hiện qua những sáng tác cụ thể.
Thế giới quan sẽ chi phối việc nhà văn tiếp cận, lựa chọn chất liệu, nội dung
phản ánh, từ đó thấy được tinh thần, thái độ và trách nhiệm của người nghệ sĩ
đối với những vấn đề mà cuộc sống, xã hội đặt ra. K.A. Fedin từng viết: Cách
nhìn nhận cuộc sống chỉ thôi thúc nhà tiểu thuyết chọn tư liệu này chứ không
phải tư liệu khác cho tác phẩm của mình. Cùng quan điểm này, Khrapchenco
nhấn mạnh thêm: “Trong khi tạo thành một trong những đặc điểm cơ bản của
phương pháp tác phẩm, thái độ đối với những hiện tượng của hiện thực được
thể hiện ở sự lựa chọn tư liệu, ở các điển hình hóa, ở việc phân bố các nhân vật
của tác phẩm… Trong trường hợp này, thái độ đối với đối tượng sáng tác được
coi như một yếu tố cấu thành của phong cách.” [73; tr. 298], hay “Cá tính sáng
13
tạo của nhà văn thể hiện trong những khía cạnh khác nhau của nghệ thuật của
nhà văn đó, trước hết nó thể hiện ở sự độc đáo trong cách nhìn của anh ta đối
với những hiện tượng của cuộc sống, ở sự độc đáo và ở ý nghĩa của những khái
quát mang tính sáng tạo của anh ta.” [73; tr. 221]
Như vậy, vai trò của thế giới quan, quan điểm sáng tác sẽ chi phối và tác
động lớn đến việc hình thành những đặc điểm riêng trong cách nhìn nhận,
khám phá hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ. Những yếu tố này tạo thành
nét riêng, độc đáo, tạo cơ sở, tiền đề cho việc hình thành phong cách nghệ
thuật.
Bên cạnh vai trò của thế giới quan trong sáng tác, một trong những yếu tố
có vai trò then chốt, quyết định đến việc tạo ra những tác phẩm lớn phải kể tới
là yếu tố tài năng, thiên bẩm của người viết. Bàn về tài năng, cá tính sáng tạo
của nhà văn, Turghenev đã nhấn mạnh đến nét riêng, sự sáng tạo độc đáo của
mỗi người, cái mà ông đề cao là tiếng nói, giọng điệu riêng biệt: “Cái quan
trọng trong tài năng văn học… và tôi nghĩ rằng cũng có thể trong bất kỳ một
ngôn ngữ, thể loại - những yếu tố thuộc phương diện hình thức nghệ thuật của
tác phẩm, thiên về kỹ thuật, lối viết và phương thức biểu hiện. Đây là những
yếu tố quan trọng, là tín hiệu nghệ thuật để người nghiên cứu có thể gọi tên
phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn.
Bàn về vai trò của việc tổ chức, sắp xếp tư liệu của người nghệ sĩ,
Khrapchenco cho rằng: “Phong cách không chỉ được hình thành dưới tác động
của đối tượng sáng tác, của tư liệu hiện thực mà còn tích cực tổ chức nên tư
liệu đó.” [73, tr. 282] và ông khẳng định, đặc điểm của người nghệ sĩ điêu
luyện là biết sắp xếp, tổ chức tư liệu, biết tách cái chủ yếu ra khỏi cái ngẫu
nhiên, biết khắc phục sự chống đối của tư liệu. Cùng với tư tưởng chung,
phong cách cũng có sứ mệnh kết hợp lại thành một chỉnh thể năng động những
yếu tố không thuần nhất có trong tư liệu của cuộc sống, trong đối tượng sáng
tác.
Ở phương diện khác, bên cạnh việc lựa chọn, xử lý tư liệu thì cách thức tổ
chức, kết cấu tác phẩm, cốt truyện, không gian - thời gian cũng là những yếu tố
hợp thành phong cách cá nhân nhà văn. “Tính xác định về chất của phong cách
cá nhân biểu hiện rõ trong những thủ pháp và những phương thức kết cấu các
tác phẩm văn học, trong cách cấu tạo chúng. Cách cấu tạo - xét trên phương
diện vai trò chức năng của nó trong hệ thống phong cách - có thể được xác
định như là sự tổ chức không gian và thời gian trong văn tự sự và trong kịch
một cách hợp lý và hữu hiệu nhất theo quan điểm của những nguyên tắc thẩm
mỹ cơ bản mà nhà văn làm kim chỉ nam.” [73, tr. 303]
15
Tuy nhiên với đặc trưng là loại hình nghệ thuật ngôn từ, lấy chất liệu
ngôn ngữ làm phương tiện biểu hiện vì thế khi nghiên cứu, phê bình văn học
dù vận dụng lý thuyết, xu hướng phê bình nào cũng không thể bỏ qua dấu hiện
quan trọng, đặc thù của ngôn ngữ. Phong cách cá nhân nhà văn được biểu hiện
cụ thể và rõ nhất trong việc tạo giọng điệu và sử dụng ngôn ngữ riêng, độc đáo.
được coi là “phương thức thuyết phục và thu hút độc giả” thì những sáng tạo
của nhà văn trong việc tạo ra lối viết sẽ có vai trò quyết định việc chinh phục
và cuốn hút người đọc.
Đề cập đến sức mạnh của ngôn từ, sức vang và những hàm nghĩa tiềm
ẩn trong thơ, R. Jakovson cho rằng: “Trong logich học hiện đại có sự phân biệt
hai cấp độ ngôn ngữ, “ngôn ngữ đối tượng” nói về thế giới bên ngoài và “siêu
ngôn ngữ” nói bản thân ngôn ngữ.” [32; tr. 115] Và với R. Barthes, mỗi nhà
văn lớn là người tạo ra cho mình một lối viết riêng, lối viết chính là hình thức
của tác phẩm nghệ thuật: “Đặt giữa hệ vấn đề của văn chương, nó (lối viết) chỉ
nảy ra từ đó, vậy nên lối viết chính là ngụ ý của hình thức… Vậy nên lối viết
về bản chất là ngụ ý của hình thức, đó là sự lựa chọn của mặt bằng xã hội mà
tại đó nhà văn đã quyết định đặt bản chất ngôn từ của mình vào giữa lòng của
nó.” [14; tr. 257] Nhấn mạnh đến vai trò của ngôn ngữ, hình thức biểu hiện
trong việc tạo phong cách nhà văn, Stephen Ullman nhấn mạnh: “Chỉ có thể
nói về phong cách trong trường hợp người phát ngôn hoặc nhà văn có khả
năng lựa chọn giữa những hình thức biểu đạt khác biệt. Phép đồng nghĩa, theo
nghĩa bao quát nhất, nằm ở gốc rễ của tất cả vấn đề phong cách.” [14; tr. 260]
Có thể nói, phong cách học nói chung và phong cách cá nhân nhà văn
nói riêng là những vấn đề phức tạp, chưa dễ thống nhất trong quan điểm đánh
giá. Nói như A. Compagnon: “Phong cách khó có thể là một khái niệm thuần
túy; đó là một quan niệm phức tạp, phong phú, mập mờ, phức hợp. Thay vì gạt
bỏ những điều đã chấp nhận trước đây trong khi nó lại cứ được bồi thêm
những cái mới.” [14; tr. 254]. Phong cách cá nhân văn được biểu thị ở nhiều
bình diện, có sự hòa trộn, kết hợp cả những yếu tố thuộc nội dung tư tưởng và
bút pháp thể hiện: “Phong cách nằm trong đề tài (hình thức của nội dung), và
đề tài nằm trong phong cách (hình thức của biểu hiện)” hay “Phong cách
không liên quan tới thực chất của nội dung (hệ tư tưởng của nhà văn) mà đôi
khi lại liên quan tới thực chất của sự biểu hiện (chất liệu âm thanh), và luôn
17
phong cách - nhằm đề cao vai trò của phong cách trong sáng tạo nghệ thuật và
dự báo xu thế phát triển của mỗi nền văn học cũng như sự hiện diện của mỗi
18
nhà văn trong cuộc sống. Nắm bắt được những yếu tố làm nên phong cách với
những sở trường, đặc tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật - đó là cách để nhà
văn tồn tại, tạo được dấu ấn, bản sắc nghệ thuật riêng và quan trọng hơn là gây
được sự hấp dẫn, cuốn hút của tác phẩm đối với công chúng bạn đọc nhiều thế
hệ. Đây là yêu cầu, quy luật có phần nghiệt ngã trong sáng tạo nghệ thuật của
nhà văn: sự độc đáo, khác biệt, không lặp lại.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết phong cách ở Việt
Nam
Vào những thập niên đầu thế kỷ XX, trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với
văn hóa, văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp, các nhà nghiên cứu, lý
luận phê bình như Hoài Thanh, Hải Triều, Thiếu Sơn, Vũ Ngọc Phan, Lê
Tràng Kiều, Trương Tửu, Lê Đình Kỵ… trong các bài viết của mình đã vận
dụng lý thuyết của các trường phái phê bình như phê bình tiểu sử, phê bình ấn
tượng, phê bình xã hội học…để nhìn nhận, đánh giá các hiện tượng văn
chương. Mặc dù trong các công trình nghiên cứu, họ không gọi tên lý thuyết
phê bình đã vận dụng nhưng qua những lời bình, những nhận xét, đánh giá về
cuộc đời, sự nghiệp của các thi sĩ, văn nhân bằng những câu, đoạn văn ngắn,
ấn tượng đã gọi tên được phong thái, cốt cách nổi bật, những nét đặc sắc riêng
của mỗi nhà văn. Trong Thi nhân Việt Nam (Hoài Thanh), Phê bình và cảo
luận (Thiếu Sơn), Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan)… những dấu ấn của lý
thuyết về phê bình theo phong cách đã được các nhà nghiên cứu vận dụng một
cách linh hoạt có hiệu quả.
Tuy nhiên thuật ngữ phong cách và những vấn đề lý luận về phong cách
như phong cách tác giả, phong cách tác phẩm, dòng phong cách… chỉ thực sự
xuất hiện và được bàn luận sôi nổi vào những thập niên cuối thế kỷ XX khi
tâm hồn lớn và có những đóng góp đáng kể vào việc thúc đẩy tiến trình phát
triển của lịch sử dân tộc, vì “nghiên cứu một nhà văn xét đến cùng là nghiên
cứu tư tưởng của ông ta.”[99, tr. 13].
Ở một khía cạnh khác, nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn trong công trình
Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào thế tục (NXB Giáo dục, 1995) khi lý
giải cơ sở nữ sĩ lựa chọn thể thơ Nôm truyền tụng đã viện dẫn đến phong cách
Lưu hương ký. Nhưng phong cách ấy cụ thể như thế nào thì vẫn chưa được lý
giải thấu đáo.
Nhìn chung trong các công trình nghiên cứu chuyên biệt, các tác giả mới
gọi tên khuynh hướng phê bình theo phong cách mà chưa đưa ra được cơ sở lý
20