Thơ ca Tày hiện đại qua một số gương mặt tiêu biểu - Pdf 19

Thơ ca Tày hiện đại qua một
số gương mặt tiêu biểu
Đất nước Việt Nam bao gồm 54 dân tộc, hài hòa đan xen như những sợi
chỉ màu trên một tấm dệt thổ cẩm. Ở đó có hàng ngàn, hàng vạn thành tố văn hóa
của mỗi dân tộc, đó là lịch sử, ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, các phong tục tập
quán về ăn, ở, trang phục, quan hệ xã hội, tục lệ cưới xin, ma chay, thờ cúng, văn
nghệ, trò chơi… Các tộc người Việt Nam đều có chung một cơ tầng văn hóa cổ
đại, nói như nhà nghiên cứu Tô Ngọc Thanh thì “dẫu cho văn hóa không thể vạch
thành ranh giới như lãnh thổ hành chính, thì vẫn cứ phải nói đến một miền đất cụ
thể, nơi con người sinh sống và sáng tạo”
(1)
.
Dân tộc Tày có dòng văn học bác học xuất hiện từ rất sớm, tiêu biểu hơn
cả là tác giả Lê Thế Khanh (389-460), bên cạnh những sáng tác bằng chữ Hán,
ông đã tiếp tục chỉnh sửa âm chữ Nôm Tày đã có từ trước đó cho hoàn hảo hơn.
Ngoài ra, người Tày còn tự hào vì nhiều tên tuổi khác như Nông Quỳnh Vân
(1565-1640), Bế Hữu Cung (1757-1820), Hoàng Ích Viêng (1890-1945) Văn
học Tày đã vượt qua dân gian truyền khẩu từ rất lâu, thể hiện rõ ý thức về dân
tộc của giới trí thức Tày xưa Tính đa dạng của văn hóa Việt Nam bắt nguồn từ
cơ cấu đa tộc người và đa nguồn văn hóa. Những điều kiện lịch sử xã hội trong
suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước là cơ sở cho quá trình vận động nội
sinh của văn hóa các tộc người Việt Nam. Từ đầu thế kỷ XX, văn học Tày một
mặt phát huy truyền thống, mặt khác chịu ảnh hưởng của văn học miền xuôi, đã
dần ghi dấu sự trưởng thành của nhiều gương mặt như: Hoàng Văn Thụ (1906-
1944), Nông Quốc Chấn (1923-2002), Nông Minh Châu (1924-1979), tiếp theo
đó là Triều Ân, Vi Thị Kim Bình, Ma Trường Nguyên, Y Phương, Mai Liễu,
Triệu Lam Châu, Đoàn Ngọc Minh, Triệu Thị Mai, Đoàn Lư, Dương Thuấn,
Nông Thị Ngọc Hòa, Vi Thùy Linh… Điểm qua một số gương mặt tiêu biểu của
từng giai đoạn để thấy quá trình tiến triển của văn học Tày, những thành tựu
cũng như sự ảnh hưởng, tác động tới văn học các dân tộc khác.
Tiêu biểu cho văn học Tày thời kỳ chống Pháp phải kể đến nhà thơ Nông

dân tộc Tày quê ông:
Hôm nay Cao Bắc Lạng cười vang
Dọn lán, rời rừng, người xuống làng
Người nói cỏ lay trong ruộng rậm
Con cày mẹ phát ruộng ta quang ".
Những biến đổi lớn lao của bản làng và con người quê hương đã có những
ảnh hưởng lớn đến suy nghĩ và tình cảm của ông. Trong bài thơ Nhớ (năm 1967,
đã được phổ nhạc), Nông Quốc Chấn khẳng định một quyết tâm, tin tưởng hết
sức chân thành:
Ai nhớ cứ nhớ
Ai đi cứ đi
Chiến trường súng nổ
Hết giặc lại về.
Bên cạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc, Nông Quốc Chấn luôn
tìm tòi và học theo những đổi mới thơ miền xuôi. Ông say mê nghiên cứu, luôn
trăn trở với vấn đề sáng tác của văn học dân tộc thiểu số. Từ những năm 60 trở
đi, thơ Nông Quốc Chấn có nhiều thay đổi nhưng điều quan trọng là ông ý thức
rất rõ rằng bản sắc dân tộc không mâu thuẫn với việc mở rộng đề tài, chủ đề, thủ
pháp diễn đạt Và thực sự Nông Quốc Chấn không chỉ là nhà thơ của đồng bào
Tày, Việt Bắc mà cả nước đã biết đến và yêu mến thơ ông.Nông Quốc Chấn là
người mở đường, là người để lại dấu ấn sâu đậm khó thể quên, không chỉ với văn
học các dân tộc thiểu số hiện đại nói riêng mà có vị trí vững chắc trong tiến trình
văn học cách mạng Việt Nam. Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2 - năm 2000) là
một ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp của Nông Quốc Chấn.
Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, gương mặt thơ Tày tiêu biểu
phải kể đến là Y Phương (sinh năm 1948) với các tác phẩm: Người núi
Hoa (kịch nói, 1982), Tiếng hát tháng Giêng (thơ, 1986), Lửa hồng một góc
trời (thơ in chung, 1987), Lời chúc (thơ, 1991), Đàn then (thơ, 1996), Chín
tháng (trường ca, 2000), Thơ Y Phương (tuyển tập thơ, 2002). Thơ Y Phương có
sự từng trải trong cuộc sống, với cách diễn tả hồn nhiên mà sâu lắng, các đề tài

Y Phương rõ nét: Hiu hiu gió rồi/ Tôi lại nhớ một người/ Ngày ấy/ Tóc đuôi sam/
Vắt dài/ Trời ngát xanh/ Rừng ngát thơm/ Con đường bỗng dưng quanh/ Bỗng
dưng quành/ Bỗng dưng co mình trên núi vắng… Nhà thơ lấy vẻ đẹp của người
con gái, của mái tóc dài làm tâm điểm, mái tóc ấy rất dài, dài đến nỗi khiến trời
bỗng dưng xanh, rừng bỗng dưng thơm, “con đường bỗng dưng quanh”… Vẻ đẹp
đã “cảm hoá”, tác động và làm thay đổi cả đất trời, tạo vật, và để cho con người,
dù đã bao thăng trầm biến đổi vẫn nguyên những cảm xúc buổi đầu gặp gỡ.
Y Phương của những ngày đầu làm thơ mộc mạc và đậm chất miền núi hồn
nhiên. Những giai đoạn sau này, thơ Y Phương ngày càng chứng tỏ sự điêu luyện
trong bút pháp, tầm triết luận sâu sắc trong nhận thức, trong từng vấn đề thể
hiện. Cái chất miền núi, chất Tày không mất đi mà kết hợp hài hòa với lối tư duy
hiện đại. Có lẽ Y Phương là nhà thơ đặc biệt giỏi sử dụng từ láy, cách viết rất tài
tình của ông: Cỏ lấp lánh/ Khe khẽ ướt…; Nơi có mặt trăng mặt trời nhịp
nhàng rơi; Mỗi khi hát đầm đìa nước mắt/ Thương cho dân tộc mình lao đao bốn
mặt/ Những phương trời lửa tắt lại bùng lên… Đặc biệt, Y Phương có những vần
thơ lục bát được viết một cách chững chạc, thuần thục: Dòng sông khi trắng khi
xanh/ Tên em là bến cho anh gọi đò/ Tên em trĩu một câu hò/ Cất lên lại lắng
chẳng dò được đâu…
Thơ Y Phương bình dị, chân chất, hồn nhiên, lặng lẽ, cứ “nhẩn nha” mà
bùng nổ, mà đắm say, nhiệt thành như chính cuộc đời ông, con người ông. Với Y
Phương, cái chất trí tuệ và thấm đẫm chất triết lý làm cho thơ ông có một giọng
điệu riêng, đó là cách nói của những trầm tư, suy ngẫm, trải nghiệm: Đất nước/
Sinh ra từ ngực người đàn bà/ Sau đó sinh ra làng quê xóm mạc/ Sinh ra tình yêu
sinh ra bi kịch/ Sinh ra trí khôn đánh giặc chống trời/ Sinh ra Khan/ Khắp/ Cọi
Với hai mảng đề tài là tình yêu quê hương và chiến tranh, cùng cách viết
với ngôn từ tạo hình gây bất ngờ, lối nói giàu nhạc điệu - thứ âm thanh của núi
rừng, bản nhạc cất lên từ tình yêu cuộc sống và niềm tự hào tha thiết, Y Phương
khẳng định một giọng điệu riêng, hài hòa lối nghĩ, lối nói của dân tộc Tày với
khả năng biểu cảm của tiếng Việt. Và có lẽ, “cái chất thơ ngọt ngào chắt ra từ
tâm hồn Y Phương, đúng hơn là nó tự trào ra khỏi tâm hồn ông, lại được nấu từ

Nay rời về thành phố
Lắm người lạ không quen
Em ơi ta ở đâu
Là bản ta ở đó.
Từ miền quê Bắc Kạn đãi cát lấy vàng/Có hồ Ba Bể, có nàng áo xanh, anh
hát những bài ca về lao động, về vẻ đẹp thiên nhiên, con người, phong tục, hội
hè, về tình yêu gái trai, tình yêu làng bản, quê hương, đất nước. Vũ Nho cho
rằng: “Thơ Dương Thuấn đã phản ánh, đã lưu giữ những nét đẹp trong đời sống
văn hóa, tinh thần của dân tộc Tày, của những dân tộc anh em trên vùng cao Việt
Bắc”
(4)
.
Ở mảng thơ dành cho thiếu nhi, người đọc luôn bất ngờ vì cách viết rất
trong sáng, đáng yêu, vừa ngồ ngộ, vui vui, được diễn đạt bằng cách nói rất dân
tộc, độc đáo. Bài Tiếng chim mở đầu bằng việc ngợi ca tiếng chim: Tiếng chim
hót trong veo/ Làm xanh biếc da trời nhưng đến hai câu sau: Con chim đã uống
nước/ Hồ Ba Bể đấy thôi, đó lại là ngợi ca quê hương, đất nước. Thơ Dương
Thuấn thường có giọng thủ thỉ tâm tình khi kể chuyện, anh cứ lặng lẽ, nhỏ nhẹ.
Những từ ngữ giản dị, tưởng chừng rất quen thuộc nhưng qua thơ anh lại thấy
giàu xúc cảm, mang đến những biểu hiện tươi mới, sinh động, thú vị, tạo nên
những ẩn ngữ, những hàm nghĩa mới. Thơ anh còn có bóng dáng của những hồi
ức, thường là sự ngoái lại để nghĩ suy. Ngay đầu tập Đi tìm bóng núi, Dương
Thuấn đã nhắc đến chuyện đi: “Sớm mai anh xuống núi”. Đến cuối tập thơ, anh
đã trải nghiệm được một điều: Ta đi bốn phương trời/ Không phương nào để
ngỏ nhưng vẫn một khẳng định và tâm niệm: Ta đi bộ từ núi xuống đồng bằng/
Ta chỉ biết nói lời cho quả sai. Người đọc nhiều khi bắt gặp tâm trạng buồn, có
lúc đơn côi, nhưng vẫn là cái buồn, cái đơn côi kiêu hãnh, kiêu sang: Đêm nay đô
thành ta đạp đổ/ Ta là chàng trai núi khinh đời/ Ta chẳng cần đô thành em đã
biết chưa/ Chẳng cần biết em qua bao ngôi nhà bị đổ… Thơ anh có buồn, có sầu
nhưng là cái buồn của đại ngàn, của những dòng sông quanh năm chảy xiết:

Người sống hết mình từ tế bào nhỏ nhất
Người đã yêu dữ dội bằng sức mạnh của phái yếu
Ta bắt gặp trong thơ Vi Thùy Linh hình ảnh một người đàn bà với những
khát vọng nhiệt thành và kỳ lạ về những điều đã qua và cả những gì chưa tới,
khát vọng được sống hết mình, được đam mê, được yêu cuồng điên, ào tung ký
ức… Chị không che giấu những xúc cảm của tình yêu nhục thể. Chị đã “làm rạn
nứt lớp băng mỏng về tình yêu kiểu bảo thủ trong làng thơ bấy lâu”. Một thời
gian dài, nhắc đến Vi Thùy Linh, người ta không quên nhắc đến những dòng thơ
như: Khỏa thân trong chăn/ Thèm chồng. Thèm có chồng ở bên. Chỉ cần anh gối
lên đùi/ Mình ôm lấy anh ôm mình/ Biết sự bình yên của mặt đất. Đọc thơ Vi
Thùy Linh, dễ có ấn tượng về hình ảnh một người đàn bà trẻ trung, tràn đầy sức
xuân và nồng nàn, mê đắm trong tình yêu, không né tránh mà luôn hết mình cho
tình yêu đến mức lúc nào cũng có thể bùng vỡ: Anh ở đâu/ Mắt anh ngủ nơi nào/
Có yêu nhau có thương nhau thì vượt đêm mà về/ Có nhớ nhau có khát nhau hãy
cuộn tung thác nguồn/ Cuộn lửa tình mà cháy. Chính bởi những khát khao,
những mê say ấy mà chị đa đoan, mà chị không thanh thản với những xúc cảm
tràn đầy.
Chị khắc họa chân dung mình: Đời mình bi hay vai hài, tôi không biết/ Tôi
là tôi/ Một bản thể đầy mâu thuẫn. Thơ chị xuất hiện nhiều đối thoại, với anh,
với con, với gương, thậm chí với chính mình của những khát khao, của nỗi
đau: Ở thế kỷ XXI, một bé trai hỏi mẹ/ - Mẹ ơi, trái đất rộng lớn bằng nào?/
Bằng ước mơ của mẹ về con/ - Còn cha của con?/ Người là một thế giới.
Khi đã đi qua những chặng đường của khát khao, của đảo tung và phá
cách, Vi Thùy Linh xuất hiện với một phong cách có đôi chút khác biệt. Ấy là
sự đằm thắm, chững chạc hơn trong cách viết. Vi Thùy Linh bộc bạch mình:
“Trước tôi hăm hở đơn thuần, giống như một con ngựa liều lĩnh mơ mộng đang
phi trên những cánh đồng bao la, có thể phía trước tôi là bẫy, chông, vực thẳm…
nhưng tôi vẫn lao đi. Có những lúc đêm tối mịt mù, có khi là trăng sao. Để giờ
tôi biết thận trọng hơn, dù thế nào con ngựa ấy luôn đầy sức sống. Tôi sẽ cố gắng
giữ gìn hơi thơ có sức sống và lửa ấy”

hay”… nhưng luôn ẩn sau đó những ý nghĩa khái quát sâu sắc. Ở đó, những
mảng đề tài cũ vẫn xuất hiện nhưng bằng một cách viết khá hiện đại và đậm chất
miền núi. Có thể thấy sự độc đáo ấy qua từng tác giả, từng bài thơ và thậm chí
qua từng hình ảnh, câu chữ. Thơ họ bắt kịp với những đổi thay trong cuộc sống
người miền núi, do có sự gắn bó sâu nặng, thiết tha, sự yêu thương, trân trọng.
Từ miền quê của mình mà nhìn xa hơn tới mọi miền Tổ quốc bằng tình cảm chân
thành và những suy nghĩ sâu lắng. Họ chủ yếu viết bằng hai cảm xúc, thứ nhất là
tình cảm của con người luôn gắn bó, hòa nhập với thiên nhiên, ở ngay trên chính
mảnh đất ấy mà trân trọng, ngợi ca, tự hào. Cảm xúc thứ hai là sự hồi tưởng, nhớ
nhung trong sự xa xôi, cách trở, ngoái nhìn về quê hương, làng bản với biết bao
kỷ niệm sâu lắng, với những con người, những sinh hoạt, những ký ức không
quên.
Một trong những điểm khác biệt của văn học dân tộc thiểu số với văn học
miền xuôi đầu tiên phải kể đến là ngôn ngữ. Mỗi dân tộc đều sử dụng thứ ngôn
ngữ của riêng mình để sáng tác thơ văn. Trong thơ Nông Quốc Chấn, Y Phương,
Dương Thuấn, Vi Thùy Linh, tuy phần nhiều những sáng tác đó là tiếng Việt,
chất liệu mà các tác giả người Kinh vẫn dùng, nhưng cái làm nên nét riêng độc
đáo của họ chính là những cách nói chỉ dân tộc Tày mới có. Họ có ý thức rất rõ
trong việc sáng tác bằng tiếng dân tộc, tuy hiện nay những tập thơ đó chưa nhiều,
nhưng đang trở thành một xu hướng phát triển đầy hứa hẹn lâu dài. Hầu như
người đọc không bắt gặp tình trạng của những sáo ngữ, công thức, khuôn sáo
trong ngôn từ biểu đạt. Họ đưa vào thơ những ngôn từ của đời sống còn mang
tính nguyên sơ, sắp đặt theo trật tự của cảm xúc, không tuân theo những quy
phạm chặt chẽ. Bên cạnh những câu thơ mộc mạc, thô sơ là những câu, những
bài dù không dụng công về từ ngữ nhưng vẫn có những ý nghĩa sâu xa; bên cạnh
những ngôn từ dung dị của đời thường còn có những ngôn ngữ có bóng dáng của
sự “gia công” khá kỹ lưỡng: Y Phương viết một cách hàm súc mà bay bổng: Cỏ
lấp lánh/Khe khẽ ướt; Nơi có mặt trăng mặt trời nhịp nhàng rơi, Đất nước dài
mắt người thiếu phụ… Dương Thuấn có cách tạo dựng hình ảnh bằng những hình
dung rất lạ: Tuổi thơ ta ngày ấy đứng lưng đèo ; Hát câu ca trăng ướt đầm

Mai Liễu nhẹ nhàng, sâu sắc; Triệu Lam Châu tinh tế, trong trẻo; Đoàn Lư hồn
nhiên, mộc mạc; Ma Trường Nguyên cụ thể mà khái quát; Triệu Kim Văn tỉ mỉ,
nhiều suy tưởng; Hoàng Kim Dung mơ hồ, nữ tính; Nông Thị Ngọc Hòa thiết
tha, đằm thắm…
Bản sắc, truyền thống không phải là nhìn ngược, đi giật lùi về quá khứ mà
chính là cái đang chuyển động hình thành chứ không phải những gì đã đóng
băng. Mỗi nhà thơ như một sợi dây của cây đàn, từng dây có một cung bậc riêng,
âm điệu riêng, nhưng khi hợp lại với nhau sẽ làm nên một hòa âm đa thanh, độc
đáo; và điều quan trọng là những sáng tác ấy đã “mang tiếng nói của dân tộc này
đến dân tộc khác, của thế hệ trước đến thế hệ sau; nó khắc phục những khoảng
cách về thời gian và không gian, đem lại sự giao tiếp nhiều chiều, làm cho con
người gần gũi nhau hơn và ngày một phong phú hơn”
(7)
. Các nhà thơ dân tộc đã
lấy bản sắc nghệ thuật truyền thống làm nền tảng nhưng đã được hiện đại hóa,
“kinh hóa” phần nào tùy từng ngòi bút. Ngôn ngữ dân tộc được nhào nặn trong
một khuôn pháp mới mẻ, vì bắt rễ sâu trong nền văn hóa dân tộc nên những vần
thơ ấy tốt tươi và đơm hoa kết trái, nó có đủ sức mạnh để vươn cao và vươn xa,
hứa hẹn những thành tựu và bước phát triển mới, nhiều triển vọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status