Nhân vật trần khánh dư trong tiểu thuyết lịch sử việt nam đương đại (qua một số tác phẩm tiêu biểu) tt - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẰNG

NHÂN VẬT TRẦN KHÁNH DƢ TRONG
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2017


Công trình đƣợc hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐỖ HẢI NINH

Phản biện 1: PGS.TS Trƣơng Đăng Dung

Phản biện 2: PGS.TS Trần Khánh Thành

Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Học
viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.
Vào hồi: 13giờ 30 ngày 20 tháng 10 năm 2017


của mỗi nhà văn. Và đó cũng là một trong những bình diện thể hiện
sinh động nhất giới hạn trong biên độ sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng
của người nghệ sĩ. Bởi thế, việc nghiên cứu nhân vật là một hướng đi
hết sức cần thiết trong việc nhìn nhận, khám phá tài năng nghệ thuật
của nhà văn, khẳng định những đóng góp quan trọng của các nhà văn
đối với tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tìm hiểu nhân vật tiểu
thuyết lịch sử của các nhà văn một mặt sẽ giúp chúng ta tiếp cận sâu
hơn tiểu thuyết của họ, mặt khác giúp ta nhìn thấy rõ hơn bút pháp
1


nghệ thuật cũng như sự vận động của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
đương đại.
Nhân vật Trần Khánh Dư trong lịch sử là nhân vật đáng chú ý
của lịch sử thời Trần và trong cái nhìn của các nhà sử học, nhân vật
này có số phận, tính cách đặc biệt. Nhiều nhà văn đã khai thác nhân
vật này từ nhiều góc độ như Hoàng Quốc Hải (Thăng Long nổi giận),
Bùi Việt Sỹ (Chim ưng và chàng đan sọt), Uông Triều (Sương mù
tháng giêng), Lưu Sơn Minh (Trần Khánh Dư, Trần quốc
Toản),…Chúng tôi chọn tìm hiểu nhân vật Trần Khánh Dư trong ba
tác phẩm này vì đây là ba tác phẩm ra đời trong thời điểm khá gần
nhau. Đây cũng là những tác phẩm có cái nhìn khác nhau về nhân vật
lịch sử này. Tuy dung lượng dành cho miêu tả và thể hiện nhân vật
Trần Khánh Dư ở mỗi tác phẩm không đồng đều: Trong Chim ưng
và chàng đan sọt và Sương mù tháng giêng, Trần Khánh Dư là nhân
vật chính, trong Trần Khánh Dư thì là nhân vật trung tâm, nhưng
chúng tôi vẫn lựa chọn khảo sát ba tác phẩm này để có sự so sánh đối
chiếu nhằm thấy được khả năng hư cấu và ứng xử khác nhau của
từng tác giả đối với cùng một đối tượng lịch sử. Qua đó góp phần
nhìn nhận đánh giá tiểu thuyết lịch sử việt Nam đương đại nói riêng

hướng chủ yếu (Nguyễn Văn Dân), Khuynh hướng tiểu thuyết hoá lịch sử
trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1975 (Nguyễn Thị Tuyết Minh).
Nhiều nhất vẫn là những nghiên cứu về sự đổi mới trong tư
duy lịch sử và nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử như ngôn ngữ, kết cấu,
quan niệm nghệ thuật về con người: Vấn đề ‘ngôn ngữ’ trong tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam đương đại (Đỗ Hải Ninh), Tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học (Nguyễn Văn Hùng),
Tiểu thuyết lịch sử đương đại với quan niệm nghệ thuật về con người
(Nguyễn Thị Kim Tiến), Kết cấu tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt
nam sau 1986 và Kiểu kết cấu lắp ghép, đồng hiện trong tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam sau 1986 (Phạm Xuân Thạch), Tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam nhìn từ góc độ loại hình thể loại (Nguyễn Thùy Minh).
Nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử nói chung, có thể thấy các nhà
khoa học đề cập tới một số bình diện như văn học sử, lý luận, nghệ
thuật…Dù chưa thực sự đầy đủ, bao quát mọi góc độ của tiểu thuyết lịch
sử hiện đại, tuy nhiên những thành quả của các nhà nghiên cứu phần nào
thể hiện sự quan tâm của họ đối với thể loại văn học này.
2.1.2. Về xây dựng hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử
Trần Đình Sử cho rằng nhà tiểu thuyết lịch sử có vai trò sáng
tạo và tiểu thuyết lịch sử không chỉ có nhân vật và sự kiện lịch sử mà
còn có nhiều nhân vật, sự kiện hư cấu, những nhân vật mà không
được các cuốn sử kể đến thì không thể thuộc lĩnh vực sử học.
Nguyễn Văn Hùng trong bài viết “Nhân vật lịch sử và những
biên độ sáng tạo sau đổi mới” đã nêu ý kiến: “Nhân vật thành công
là nhân vật vừa nằm trong tầm hiểu biết, kinh nghiệm của cộng đồng
vừa mở ra những góc nhìn khác bằng các kiến giải mới mẻ, độc đáo.
3


Nó vừa là những con người có thật trong lịch sử, vừa là những nhân

Tác giả Đặng Huy Giang đã ghi lại suy nghĩ của nhà văn Bùi
Việt Sỹ: “Qua Chim ưng và chàng đan sọt, tôi cũng muốn lý giải:
Chính ý thức thường trực chống giặc phương Bắc, việc triệt để sử
dụng nhân tài trong chiến tranh và vấn đề ruộng đất của nông dân sau
chiến tranh được đặt ra, được giải quyết hợp tình, hợp lý của ông cha
4


ta mà Đại Việt (lúc ấy chỉ có 3 triệu người) thắng được một đế quốc
Nguyên Mông khổng lồ và thiện chiến”. [20] Từ quan niệm ấy, nhà
văn đã có sự nhìn nhận lại và đánh giá công bằng hơn về các sự kiện
lịch sử, nhất là nhân vật chính Trần khánh Dư.
Nhà văn Xuân Cang trong lời tựa cuốn Chim ưng và chàng
đan sọt đã nhận xét “Hình tượng Trần Khánh Dư với con chim ưng
trên vai chính là bức tranh chạm khắc nổi bật miêu tả các tướng lĩnh
của một thời Trần hoang sơ và thần thánh, tụy lục và oanh liệt, đã
khiến cho kẻ thù từng chà đạp khắp thế giới phải thất trận trên đất
Việt này, tướng soái phải chui vào ống đồng mà bỏ chạy. Cái triết lý
Chim ưng và đàn vịt còn có thể được bàn cãi, nhưng chính nhờ nó
mà hiện lên một Trần Khánh Dư trong hiện thực lịch sử vừa tầm
thường vừa phi thường. Thế mới biết sức mạnh của tưởng tượng,
chính nhờ cái nghệ thuật tưởng tượng ấy mà khám phá ra sự thật lịch
sử, nó liên kết cả bốn hình thức ghi nhớ lịch sử. Không phải là khoa
học mà không thể nói là không khoa học”. Nhà văn Xuân Cang đã
thấy được ý đồ nghệ thuật của Bùi Việt Sỹ khi xây dựng nhân vật
Trần Khánh Dư - con chim ưng oai hùng, thiện chiến. Nhưng những
góc khuất, mâu thuẫn, bi kịch…của nhân vật ở phương diện đời
thường chưa được nhà văn Xuân Cang quan tâm tìm hiểu. Đấy cũng
là một phần quan trọng của nhân vật mà tác giả Chim ưng và chàng
đan sọt dày công xây dựng.

những khát vọng, dục vọng đời thường nhân văn, nhân bản nhất.
Tiếp sau tiểu thuyết lịch sử Trần Quốc Toản, sự xuất hiện của
tiểu thuyết Trần Khánh Dư (2016) đã nhận được sự quan tâm của
nhiều độc giả yêu thích đề tài lịch sử.
Phong Điệp trong “Sáng tạo giữa những dòng sử liệu” trên
Nhân dân điện tử đã viết: “Tác giả đã chọn cách đi giữa những dòng
sử liệu, bóc tách các sự việc, giải mã những uẩn khúc, éo le để từ đó
đi đến tận cùng bản chất, nhằm đưa ra một chân dung tương đối đầy
đủ về nhân vật: tướng đánh trận thì mưu trí, gian hùng; trong tình
yêu thì đa tình, liều lĩnh; khi thất cơ lỡ vận bị phế truất binh quyền,
tịch thu gia sản thì chấp nhận tay trắng trở về quê nhà làm nghề bán
than và buôn lậu.” Bằng sự tôn vinh sức sáng tạo không giới hạn của
Lưu Sơn Minh, Phong Điệp đã có những ghi nhận sâu sắc, đầy đủ
thành công của tiểu thuyết lịch sử Trần Khánh Dư nhất là về vị danh
tướng thủy quân đặc biệt này.
Với bài viết “Trần Khánh Dư, người cô đơn bậc nhất trong
chính sử Việt” trên báo điển tử Thể thao văn hóa, An Như đã có đánh
giá khá đầy đủ về nhân vật trung tâm này: “Cuốn tiểu thuyết Trần
Khánh Dư dày gần 300, gồm 25 chương, cho thấy một cái nhìn khác
về nhân vật lịch sử Trần Khánh Dư với đầy đủ các góc cạnh: Khi là
một Phó đô tướng thủy quân quyền cao chức trọng, uy dũng, nghiêm
minh nhưng cũng ngông cuồng, ngạo mạn không kém; khi lại là một
con người cô độc đến tột cùng bởi không ai hiểu ông và chính ông
6


cũng không cần ai hiểu mình…” An Như nhận thấy Trần Khánh Dư là
một nhân vật đa diện, phức hợp nhiều nhân cách. Thông qua nhân vật
này, nhà văn cũng đã thể hiện được nghùn ngụt hào khí Đông A qua
trận hải chiến Vân Đồn lịch sử, tạo nên sức hút mãnh liệt cho bạn

tượng nghệ thuật trên cơ sở so sánh, đối chiếu với chính sử; nghiên
7


cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật lịch sử của tiểu thuyết Việt Nam
đương đại qua ba cuốn tiểu thuyết này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chi tiết, cụ thể về nhân vật Trần
Khánh Dư từ dữ liệu trong chính sử đến hình tượng nghệ thuật trong
tiểu thuyết lịch sử, qua việc khảo sát, phân tích ba tác phẩm Chim
ưng và chàng đan sọt, Sương mù tháng giêng, Trần Khánh Dư.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài, luận văn sẽ khảo sát ba tiểu thuyết lịch
sử tiêu biểu viết về nhân vật Trần Khánh Dư là Chim Ưng và chàng
đan sọt (Bùi Việt Sỹ), Sương mù tháng giêng (Uông Triều), Trần
Khánh Dư (Lưu Sơn Minh), và hai cuốn chính sử (Đại Việt Sử ký
Toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu và nội dung của luận văn, chúng tôi sử
dụng kết hợp nhiều phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống giúp xác định vị trí của tiểu thuyết
lịch sử trong bức tranh tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
- Phương pháp lịch sử: Viết về đề tài lịch sử, chúng tôi chú ý
tìm hiểu lịch sử để nắm vững bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn,
đồng thời thấy được tính chân thực lịch sử và sự sáng tạo, hư cấu
trong các tiểu thuyết lịch sử.
- Phương pháp so sánh sử dụng để thấy được sự giống và khác
nhau về nhân vật Trần Khánh Dư trong ba cuốn tiểu thuyết và nhân
vật Trần Khánh Dư trong ba cuốn tiểu thuyết với nhân vật Trần

Chƣơng 1
SỰ XUẤT HIỆN TRỞ LẠI CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ
ĐỔI MỚI QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
1.1. Tiểu thuyết lịch sử trong bức tranh tiểu thuyết Việt
Nam đƣơng đại
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử
Khái niệm tiểu thuyết lịch sử du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ
XX cùng với quá trình hiện đại hóa văn học. Nhưng cho đến nay, định
nghĩa thế nào là tiểu thuyết lịch sử vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì tiểu thuyết lịch sử (thể loại
văn học lịch sử) được hiểu như sau: “Các tác phẩm viết về đề tài lịch
sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên
nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác
thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục,
tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy. Tác phẩm lịch sử thường
9


mượn truyện đời xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của
quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua,
song không vì thế mà phá vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại
này…” [21, tr.336]
Một trong những ý kiến mang tính tổng hợp những ý kiến trên là
của Trần Nghĩa: “Tiểu thuyết lịch sử cũng gọi là lịch sử diễn nghĩa”
gồm các tác phẩm viết về đề tài lịch sử thông qua việc miêu tả nhân vật
và sự kiện, tái hiện một cách nghệ thuật diện mạo xã hội và xu thế của
lịch sử một thời nhằm mang lại cho người đọc những khơi gợi bổ ích và
mỹ cảm văn học. Về phương diện bút pháp, một mặt phải dựa vào lịch
sử khi miêu tả các nhân vật và sự kiện nhằm đạt tới tính chân thực lịch

cả sự phức tạp, gai góc của nó buộc người ta phải nhìn khác, nhìn lại.
Vì lúc này, cuộc sống thay đổi không ngừng và luôn xuất hiện những
chuẩn mực mới để thay thế các giá trị xưa cũ đã trở nên lạc thời. Mặt
khác, thời kỳ này, cơ hội giao lưu kinh tế và hội nhập văn hóa trên
thế giới rất sâu rộng. Sự giao lưu và hội nhập văn hóa cũng đã làm
thay đổi thị hiếu của người đọc. Không chỉ là những vấn đề hậu
chiến, những nhân vật, sự kiện…trong quá trình đổi mới đất nước.
Người đọc cần khác hơn như thế, nhiều hơn như thế…Những thay
đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội chính là tiền đề quan trọng tạo nên sự
thay đổi thị hiếu thẫm mĩ của người đọc.
Một trong những yếu tố quan trọng cho sự xuất hiện trở lại của
tiểu thuyết lịch sử sau đổi mới đó chính là sự thức tỉnh của cái tôi
nhà văn, khát vọng vượt thoát cái cũ, truy tìm cái mới trong sáng tạo
nghệ thuật về đề tài lịch sử. Yếu tố quyết định góp phần tạo nên sự
trở lại khá ngoạn mục của tiểu thuyết lịch sử đó chính là nhu cầu
phát triển “tự thân” của thể loại này. Khi chiến tranh qua đi, đối mặt
với xã hội hiện đại với vô vàn những dấu chấm hỏi về cuộc đời, về
nhân tình thế thái…Các nhà văn tìm về lịch sử như một lẽ tất yếu. Và
các nhà văn thấy tiểu thuyết là một thể loại phù hợp hơn cả để nói
được nhiều điều, nhiều chiều, nhiều mặt hơn về lịch sử sử với những
con người, sự kiện tưởng chừng như đã được an bài trong quá khứ.
Tiểu thuyết lịch sử hiện đại đã chứng minh rằng nó có khả năng bao
quát các thể loại khác, khả năng phản ánh cuộc sống và tư tưởng thời
đại ưu việt hơn hẳn các thể loại trước đó.
Ngoài ra, tiểu thuyết lịch sử còn có mục đích là mượn lịch sử
để bàn về hiện tại. Lịch sử giống như một kho kinh nghiệm cho con
người của thời đại ngày nay. Có vẻ như có nhiều vấn đề của ngày
nay, nếu được nói bằng hình tượng lịch sử thì sẽ có hiệu quả thẩm
mỹ hơn bất cứ một phương thức nào khác. Vì thế tác động thẩm mỹ
và tác động xã hội của tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn đương đại

Sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết lịch sử từ sau 1986 và
những ý kiến tranh luận đa chiều về tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này
cho thấy quan niệm về tiểu thuyết lịch sử đã có những thay đổi rõ rệt.
Một số quan điểm nổi bật như của Trần Đình Sử, Kunder, Lucacs thì
cho rằng nhân vật của tiểu thuyết lịch sử là con người cá nhân, con
người đó sẽ tham gia vào các biến cố như thế nào, những gì thực sự
diễn ra phía sau sự lựa chọn của nó...chứ không phải viết về những
người anh hùng của quá khứ tuyệt đối. Theo quan niệm của chủ
nghĩa lịch sử truyền thống, những sự thực trong sách sử là chân lý khách
quan. Trần Đình Sử lại cho rằng, với chủ nghĩa lịch sử mới, bắt đầu xuất
hiện từ những năm 60 - 70 (thế kỷ XX), tính cách quan khoa học của sử
học bị chất vấn. Liệu lịch sử có thể tái hiện toàn bộ quá khứ như nó đã
12


thực sự diễn ra không? Quan điểm của ông gần với Hayden White.
Quan niệm xem tiểu thuyết lịch sử là minh họa lịch sử, “văn chương hóa
lịch sử” một cách giản đơn là thu hẹp chức năng của tiểu thuyết lịch sử.
Trong văn học Việt Nam, một số nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cũng
đề cao khả năng sáng tạo của tiểu thuyết lịch sử như Lan Khai, Nguyễn
Triệu Luật, A. Dumas, Nguyễn Xuân Khánh
Đổi mới quan niệm về tiểu thuyết lịch sử chính là sáng tạo lại
diễn ngôn lịch sử bằng nghệ thuật. Theo Nguyễn Văn Hùng, tiểu
thuyết lịch sử sau 1986 có các loại diễn ngôn như: diễn ngôn mang
tính giả định, phân tích trên nguyên tắc luận giải và đối thoại, diễn
ngôn lịch sử - văn hóa, diễn ngôn đời tư - thế sự - nhân văn, diễn
ngôn tính dục. Còn theo Trần Đình Sử thì chia tiểu thuyết lịch sử ra
nhiều hướng: Hướng “văn chương hóa lịch sử”, hướng nghiêng về
phương điện văn hóa, đối thoại văn hóa, hướng diễn giải lại lịch sử,
hướng “phi trung tâm hóa”, hướng phi huyền thoại hóa lịch sử,

Phó đô tướng quân trấn thủ Vân Đồn và một vùng biển đảo rộng lớn
Đông Bắc Tổ Quốc. Trong thời gian Khánh Dư nhậm chức trấn thủ
hương cảng Vân đồn, ông cho đầu cơ buôn nón Ma Lôi nên bị Ngô Sĩ
Liên chép là “tham lam, thô bỉ” còn Phan Huy Chú nhận xét là “tham
lam, keo kiệt.”
Sử gia ngày nay đã có sự đánh giá lại công bằng, sáng rõ hơn
cho tư tưởng thương nghiệp, tài năng làm kinh tế của Trần Khánh Dư.
2.2. Nhân vật Trần Khánh Dƣ qua cái nhìn của các nhà
tiểu thuyết Việt nam đƣơng đại
Bùi Việt Sỹ trong Chim ưng và chàng đan sọt, Uông Triều
trong Sương mù tháng giêng và Lưu Sơn Minh trong Trần Khánh Dư
với ý tưởng nghệ thuật của mình đã lựa chọn Trần Khánh Dư, một
nhân vật lịch sử gai góc, “có vấn đề”, với những tranh luận trái chiều
về vị trí, vai trò trong lịch sử dân tộc, để thể hiện những luận giải của
mình về lịch sử và con người. Mỗi cách nhìn, mỗi cách kiến giải đã
mang lại những cảm nhận, hình dung thú vị về nhân vật.
Trần Khánh Dư trong Chim ưng và chàng đan sọt cùng với
Phạm Ngũ Lão là đồng nhân vật chính. Hình tượng Trần Khánh Dư
chính là con chim ưng - một loài chim kiêu hùng, thiện chiến, uy vũ,
phóng khoáng. Ở nhân vật Trần Khánh Dư hội tụ tính cách vừa tầm
thường vừa phi thường, vừa thô tục vừa tài hoa, vừa bình dị vừa cao
sang, vừa đáng chê vừa đáng trọng. Bùi Việt Sỹ đã xây dựng được
một Trần Khánh Dư với phức hợp nhiều tính cách đối lập. Nhưng
trên hết, đấy là một nhân vật “đời” nhất, “người” nhất trong số quan
lại, quý tộc đương thời.
Trong Sương mù tháng giêng Uông Triều xây dựng Trần
Khánh Dư là nhân vật chính. Bằng cách để cho nhân vật tự vấn, tự
14



đại, nhà văn đã vượt qua những “kỵ huý lịch sử”, xây dựng nhân vật
Trần Khánh Dư với tính cách phức tạp, với sự phát triển đầy mâu thuẫn,
biện chứng, có chiều sâu. Nhà văn đã đặt Trần Khánh Dư vào nhiều mối
quan hệ phức tạp của gia đình và xã hội để soi chiếu với tư cách một con
người trong tính toàn vẹn, trong chiều sâu nhân bản. Điều này đã giúp
nhà văn khám phá con người Trần Khánh Dư không chỉ “bề ngoài” mà
15


còn khám phá được cả “bề sâu”, khám phá được cả sáng - tối, âm dương. Trần Khánh Dư là nhân vật đa diện được các nhà văn khắc hoạ
sinh động bậc nhất trong các tác phẩm này với tư cách một con người
đời thường đầy những bi kịch.
2.2.1.1.Về tài năng chính trị, quân sự
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của những người anh
hùng thời Trần đó chính là tài chính trị, quân sự. Lịch sử đã trao cho
họ khát vọng nhưng nếu không có khả năng quân sự, chính trị thiên
bẩm, họ khó có thể làm nên lịch sử được. Bùi Việt Sỹ, Uông Triều và
Lưu Sơn Minh cũng khai thác rất chi tiết, cụ thể đặc điểm này ở nhiều
góc độ. Đó là luôn giữ thế chủ động trong mọi tình huống, nhiều mưu
cao, chước sâu, giỏi sử dụng người tài và khí phách anh hùng…
Dù cách sáng tạo, hư cấu...trong mỗi tiểu thuyết là khác nhau
nhưng các tác giả đều làm nổi bật được khả năng đặc biệt về nghệ
thuật quân sự từ chỗ xây dựng lực lượng, chỉ đạo lực lượng, đề ra
chiến thuật, thực hiện chiến thuật hay sử dụng nhân tài của Trần
Khánh Dư. Tuy tài năng đó, mỗi tác giả đưa vào tác phẩm những
khía cạnh khác nhau, với mức độ hư cấu đậm nhạt khác nhau nhưng
đều với một thái độ trân trọng và truyền được cảm hứng lịch sử hào
hùng, tinh thần Đông A đến với bạn đọc.
2.2.1.2. Về tài năng tổ chức, quản lý và khả năng là kinh tế
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, sử quan có chép việc Trần

và những bi kịch cá nhân do thói trăng hoa; là một con người của
hành động. Ngược lại, Trần Khánh Dư trong Sương mù tháng giêng
được Uông Triều được khai thác ở chiều sâu tâm lý, tính cách với
những khao khát yêu thương, suy tư, dằn vặt, thương nhớ tự sâu
trong bản chất “người” nhất. Nhân vật này lại được Lưu Sơn Minh
đặt trong vô vàn mối quan hệ để nhà văn khai thác tấn bi kịch “sinh
lạc nhà, sống lạc thời, và yêu lạc người”. Nhân vật ôm nỗi cô đơn, cô
độc cả khi chết đi rồi.
Tóm lại, từ những “hằng số lịch sử” các nhà văn đã thể hiện
nhân vật Trần Khánh Dư theo những hướng khác nhau: Trần Khánh
Dư của Bùi Việt Sỹ là viên tướng có tài và có tật. Trần Khánh Dư
của Uông Triều là người tình đắm say còn Trần Khánh Dư của Lưu
Sơn Minh là anh hùng đời thường cô độc. Qua sự sáng tạo, hư cấu cả
ba tiểu thuyết gia đều cho thấy con người anh hùng dù sinh ra trong
bối cảnh nào thì vẫn là con người theo đúng nghĩa của nó. Họ không
thể mặc áo giáp cả đời mà cần cả thường phục để không bị biến
thành rô bốt, nhất là tâm hồn.

17


Chƣơng 3
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRẦN KHÁNH DƢ
Khắc hoạ nhân vật là cả một quá trình tìm tòi mang đậm cá
tính sáng tạo của nhà văn. Để khắc hoạ thành công một nhân vật
chân thực, sống động, các nhà văn đã sử dụng nhiều thủ pháp nghệ
thuật khác nhau trên cơ sở vừa kế thừa những biện pháp nghệ thuật
truyền thống vừa cách tân, sáng tạo để tự làm mới ngòi bút của mình.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung vào một số biện
pháp nghệ thuật tiêu biểu, nổi bật nhất, thể hiện rõ nhất sự thành

Người đàn ông sẽ trở nên đẹp nhất khi trở là “người” nhất.
Ngoại hình nhân vật Khánh Dư, Bùi Việt Sỹ chủ yếu miêu tả
vẻ đẹp oai hùng, hào hoa, lãng tử, phóng khoáng để góp phần làm
sáng tỏ tính cách đa tình, trăng hoa đến mức liều lĩnh - một góc con
người đời thường khác xa với con người chiến trận của nhân vật. Dù
là con người đời thường cũng “đời” nhất, cá tính nhất và hành động
quyết liệt nhất có thể.
Với thái độ ngưỡng mộ và sự đồng cảm thành thật, Lưu Sơn
Minh chọn miêu tả ngoại hình Khánh Dư ở những khoảnh khắc đẹp
nhất trong mắt vua quan và thuộc hạ. Dù là những hình ảnh đời
thường nhưng Nhân Huệ vương vẫn mang cái “tầm” lớn lao của một
vương gia quý tộc, một anh hùng giữa đời thường.
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ
Một trong những phương tiện nghệ thuật quan trọng giúp nhà
văn khắc hoạ nhân vật chính là ngôn ngữ nhân vật.
Ngôn ngữ của nhân vật Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết Chim
ưng và chàng đan sọt là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, thường
bộc lộ qua dạng thức đối thoại. Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Sương mù
tháng giêng và Trần Khánh Dư là ngôn ngữ trang nhã, trang trọng,
gọt giũa chủ yếu bộc lộ qua dạng thức độc thoại nội tâm. Qua “lời ăn
tiếng nói”, nhân vật tự bộc lộ cảm xúc, bộc lộ từng ý nghĩ sâu thẳm
trong tâm hồn. Các nhà văn đã khắc hoạ tính cách, nội tâm nhân vật
bằng chính ngôn ngữ của nhân vật với cả hai dạng thức đối thoại và
độc thoại nội tâm.
3.2.1. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại
Trong tiểu thuyết lịch sử, việc nhà văn tái hiện lại ngôn ngữ
nhân vật lịch sử không hề đơn giản. Bởi trải qua hàng trăm năm,
ngôn ngữ đã có sự đổi khác. Và, mỗi thời đại lại có những cách nói
khác nhau. Đặt ngôn ngữ, xưng hô như thế nào vào nhân vật để vừa
thể hiện được tính cách nhân vật, vừa phù hợp với không khí lịch sử

nhiệm. Như chuyện kinh doanh nón Ma Lôi chẳng hạn.
Xu hướng sử dụng thứ ngôn ngữ đời thường, mang tính khẩu
ngữ của nhân vật Trần Khánh Dư trong các tiểu thuyết đương đại như
mở ra trước mắt chúng ta một bức tranh đời sống của những con người
bình thường, giản dị. Nhân vật hiện lên chân thực, sống động đến mức
người đọc có cảm giác như đang được tham gia trò chuyện cùng các nhân
vật. Chính ngôn ngữ đời thường đã giúp xoá bỏ đi khoảng cách sử thi giữa
nhân vật và người đọc, khiến cho nhân vật trở nên gần gũi, thân thuộc.
3.2.2. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại
Bên cạnh việc khắc hoạ nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại, các nhà
văn còn tập trung khắc hoạ nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại, nhằm
khám phá chiều sâu tâm lý nhân vật. Tâm lý nhân vật là những trạng
thái, suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác của bản thân nhân vật. Tâm lý nhân
20


vật là yếu tố tạo nên sức sống nhân vật trong tác phẩm, nó tạo nên
những phẩm chất về tâm hồn, là yếu tố gắn liền với tính cách của nhân
vật.
Chiều sâu tâm lý của nhân vật được thể hiện chủ yếu thông
qua độc thoại nội tâm. Độc thoại nội tâm là phát ngôn của nhân vật
nói với bản thân mình, trực tiếp phản ánh quá trình tâm lý bên trong;
kiểu độc thoại thầm mô phỏng hoạt động suy nghĩ - xúc cảm của con
người trong dòng chảy trực tiếp của nó.
Trong tiểu thuyết lịch sử truyền thống, nhà văn không chú
trọng đi vào miêu tả chiều sâu tâm lý nhân vật mà chủ yếu khắc hoạ
nhân vật qua hành động, khi nhân vật không còn hành động nữa thì
đồng thời nhân vật cũng không có mặt trong tác phẩm nữa. Vì vậy,
khắc hoạ nhân vật thông qua độc thoại nội tâm là một sự cách tân
mới mẻ của các nhà văn đặc biệt là Uông Triều và Lưu Sơn Minh so

Cùng có cái nhìn tương đồng với Lưu Sơn Minh về mối tình ngang
trái của Khánh Dư và Thiên Thụy, tác giả Uông Triều tập trung khai
thác một góc khuất trong tâm hồn Khánh Dư, ấy là công chúa Thiên
Thụy. Những ngày cuối đời khi sức cùng lực tận, nhìn thấy cái chết
chầm chầm đến gần, ông lại càng cảm thấy nỗi cô đơn bủa vây.
Có thể thấy rằng, độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết Uông
Triều và Lưu Sơn Minh chính là cách để các nhà văn xây dựng một
nhân vật Trần Khánh Dư “hướng nội”. Với thủ pháp nghệ thuật này,
nhà văn đã rất thành công trong việc khắc hoạ nhân vật với tất cả mọi
chiều “chìm, nổi, nông, sâu” trong tâm lý nhân vật. Nếu ngôn ngữ
đối thoại trong Chim ưng và chàng đan sọt cho chúng ta biết về phần
“nổi” của nhân vật thì ngôn ngữ độc thoại trong Sương mù tháng
giêng, Trần Khánh Dư cho chúng ta biết về phần “chìm” của nhân
vật. Có khi ngôn ngữ độc thoại và đối thoại đan xen nhau trong cùng
một nhân vật, nhờ vậy nhân vật được rọi chiếu nhiều mặt hơn, cách
nhìn nhận và đánh giá đa diện, đa chiều, phức tạp hơn.
3.3. Xây dựng nhân vật qua tình huống truyện
Tình huống truyện được hiểu là cái hoàn cảnh riêng được tạo
nên bởi một sự kiện đặc biệt trong truyện khiến tại đó, cuộc sống
hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ
sắc nét nhất.
Tình huống truyện thường có vai trò gây đột biến, tạo ra bước
ngoặt, sự biến đổi bất ngờ trong cuộc đời, trong tâm trạng hoặc nhận
thức của nhân vật. Trong Chim ưng và chàng đan sọt chủ yếu là tình
huống hành động. Còn Sương mù tháng giêng và Trần Khánh Dư
chủ yếu là tình huống tâm trạng.
Ở một tình huống chung của cả ba tác phẩm là khi bị phát hiện
chuyện gian díu với Thiên Thụy, mỗi nhân vật Trần Khánh Dư lại có
cách ứng xử, hành động hoàn toàn khác nhau.
Viết về Trần Khánh Dư trong Chim ưng và chàng đan sọt, nhà

mã” lịch sử, đem lại cho người đọc cái nhìn mới, những cảm xúc
thẩm mỹ mới về lịch sử. Đặc điểm này của thể loại tiểu thuyết lịch sử
đòi hỏi nhà văn phải vừa là nghệ sĩ, vừa là nghiên cứu, có vốn sống
và hiểu biết phong phú, có cái nhìn và quan điểm riêng về tiểu thuyết
lịch sử. Văn học Việt Nam sau 1986, đặc biệt từ khoảng đầu những
năm 90 thế kỷ XX tới hơn mười năm đầu thế kỷ XXI đã chứng kiến
một mùa gặt mới của thể loại tiểu thuyết lịch sử với nhiều đề tài lịch
sử được viết bởi nhiều phong cách phong phú và đa dạng. Trong đó
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status