Nhân vật trần khánh dư trong tiểu thuyết lịch sử việt nam đương đại (qua một số tác phẩm tiêu biểu) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẰNG

NHÂN VẬT TRẦN KHÁNH DƢ TRONG
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HẰNG

NHÂN VẬT TRẦN KHÁNH DƢ TRONG
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
(QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ HẢI NINH


3.3. Xây dựng nhân vật qua tình huống truyện ............................................... 69
KẾT LUẬN.................................................................................................. 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 81


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Những năm gần đây, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử
nói riêng ngày càng khẳng định được vai trò và vị trí trong đời sống văn học.
Sự xuất hiện trở lại của tiểu thuyết lịch sử trong khoảng gần 30 năm lại đây
thu hút sự quan tâm của người đọc, và tạo được dấu ấn trong tiến trình vận
động, phát triển của văn học đương đại. Với hàng loạt tiểu thuyết tiếp cận lịch
sử từ nhiều góc nhìn và đa dạng về bút pháp nghệ thuật như Bão táp triều
Trần, Tám triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn
(Nguyễn Xuân Khánh), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Giàn thiêu (Võ Thị
Hảo), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác)…, tiểu thuyết lịch sử đương đại
đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Một trong những đóng góp nổi
bật là sự đổi mới cái nhìn lịch sử và nhân vật lịch sử như các tiểu thuyết về
triều Lý, triều Trần, và về Hồ Quý Ly, Quang Trung, Lê Lợi…Tuy chỉ là một
vị tướng có nhiều chiến công của triều Trần nhưng Trần Khánh Dư được đề
cập đến trong nhiều tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại. Các tiểu thuyết
lịch sử viết về Trần Khánh Dư cho thấy trên cùng một dữ liệu lịch sử, nhà văn
có những khả năng sáng tạo khác nhau và thể hiện những quan niệm khác
nhau về lịch sử. Đó là lý do khiến chúng tôi lựa chọn nghiên cứu nhân vật
Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.
1.2. Nhân vật là một phương diện quan trọng của tiểu thuyết lịch sử.
Việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn có ý nghĩa
cách tân quan trọng, làm nên giá trị tiểu thuyết lịch sử của họ. Bởi suy cho
cùng, nhân vật là nơi thử thách và cũng là nơi khẳng định rõ nhất bản lĩnh, tài

tiêu biểu) để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Những nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử nói chung và xây dựng
nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử
Thể loại tiểu thuyết lịch sử từ những năm 80 trở lại đây có bước phát
triển mạnh mẽ. Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử cũng xuất
2


hiện khá đều đặn và được nghiên cứu từ nhiều góc độ. Như một số công trình
bàn về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ cái nhìn văn học sử: Về tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Nguyễn Văn Lợi), Tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam từ 1945 đến nay (Nguyễn Thị Tuyết Minh).
Nhiều công trình bàn về thể loại tiểu thuyết lịch sử từ góc độ lý luận như
mối quan hệ giữa lịch sử và hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử hay sự giải thiêng
lịch sử: Những tranh luận về văn xuôi hư cấu lịch sử và sự chuyển biến tư tưởng
(Đỗ Hải Ninh), Mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật
trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (Bùi Văn Lợi), Viết tiểu
thuyết lịch sử cũng cần hư cấu (Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Văn Phú), Về vấn đề
hư cấu và giải thiêng trong tiểu thuyết lịch sử (Nguyễn Bình Nguyên).
Với sự đổi mới tư duy lịch sử, có nhiều công trình mở ra quan niệm
mới về tiểu thuyết lịch sử: Suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử, suy nghĩ
mới về tiểu thuyết lịch sử (Trần Đình Sử), Những hình thái diễn ngôn mới trong
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau đổi mới (Nguyễn Văn Hùng), Tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam đương đại - phác họa một số xu hướng chủ yếu (Nguyễn Văn Dân),
Khuynh hướng tiểu thuyết hoá lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau
1975 (Nguyễn Thị Tuyết Minh).
Nhiều nhất vẫn là những nghiên cứu về sự đổi mới trong tư duy lịch sử
và nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử như ngôn ngữ, kết cấu, quan niệm nghệ thuật
về con người: Vấn đề “ngôn ngữ” trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương

dựa trên cơ sở vừa lấy lịch sử làm “đinh treo” vừa tận dụng kết hợp những
đặc trưng thuộc về thể loại tiểu thuyết, mang lại một kiểu tư duy văn học
trong tiểu thuyết lịch sử nói riêng nhiều phương diện mới mẻ.” [73 ]
Tác giả Hà Quảng có những kiến giải xung quanh vấn đề vai trò “nhân
vật lịch sử” trong văn chương viết về đề tài lịch sử, hay nói một cách cụ thể là
tiểu thuyết lịch sử cần có “nhân vật lịch sử” hay không, như sau: “Những
nhân vật lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử, là những con người “biểu hiện tư
duy của dân tộc” chịu sự chi phối trực tiếp của lịch sử còn nhân vật trong
tiểu thuyết thế sự là những con người tự do. Cảm hứng lịch sử nghiêm cẩn
thành kính mà nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử tạo nên rất khó có được ở
4


các nhân vật thế sự trong tiểu thuyết thế sự. Không có nhân vật lịch sử, thì
màu sắc lịch sử không rõ, nếu chỉ có phong trào quần chúng thì hầu hết các
tiểu thuyết cách mạng và kháng chiến đều có sự thể hiện các phong trào
này nhưng khó tạo được một cảm hứng lịch sử đầy đủ…” [58] Với tác giả
Hà Quãng thì tiểu thuyết lịch sử dẫu có đổi mới, chỉ có thể gia tăng hàm
lượng hư cấu về phía tâm lý nhân vật và một vài sự kiện ngoại lai, cũng
như các yếu tố tâm linh khác, chứ không thể “nói không” với các sự kiện
và các nhân vật lịch sử.
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vai trò của nhân vật lịch
sử trong tiểu thuyết lịch sử, đó có thể nhân vật có thật trong sử sách hoặc
được nhà văn hư cấu, nhưng gắn với không gian và thời đại lịch sử và thể
hiện được tinh thần của lịch sử. Viết về nhân vật lịch sử, tiểu thuyết khám phá
những phương diện của con người chứ không phải là một “xác chết” đã cứng
đờ trong lịch sử.
2.2. Những nghiên cứu về các tác phẩm cụ thể
Tiểu thuyết Chim Ưng và chàng đan sọt của nhà văn Bùi Việt Sỹ (Nxb
HNV, 2016) là tác phẩm đạt giải B (không có giải A) của cuộc thi tiểu thuyết

dày công xây dựng.
Tiểu thuyết Sương Mù Tháng giêng của Uông Triều được Nhà xuất bản
Trẻ in và phát hành vào tháng 3 năm 2015.
Tác giả Ngân Anh với bài Trong sương mù tháng giêng trên báo Nhân
Dân cuối tuần có viết: “Đọc Sương mù tháng Giêng, thấy Uông Triều là
người có một vốn văn hóa phong phú, vốn tri thức thâm hậu để đối thoại với
tiền nhân và hậu thế. Tác giả đã sống cùng lịch sử, thu thập nhiều nguồn tư
liệu. Điều đó cho thấy sự tử tế, nghiêm túc trong lao động của Uông Triều
nhằm chạm đến những khát vọng lịch sử, để nhân vật lịch sử tiếp tục sống
cùng thời gian ngay cả khi người đọc gấp lại cuốn sách”. Bài viết tuy dung
lượng ngắn nhưng tác giả đã nêu được những đóng góp mới của nhà văn ở hai
phương diện nội dung và nghệ thuật. Và Ngân Anh đã đánh giá đúng về con
người, tài năng của nhà văn Uông Triều - một cây viết trẻ rất có triển vọng.

6


Trên báo Quảng Ninh, với bài Kiến giải lịch sử trong tiểu thuyết
"Sương mù tháng giêng" của Uông Triều, Phương Nhã đã dành cho tác phẩm
những nhận định rất đáng lưu ý “Dựa trên quan điểm viết truyện lịch sử là
“viết về những điều có thể xảy ra”, tác giả Uông Triều đã đưa người đọc
ngược hành trình trở lại giai đoạn nhà Trần nhiều biến động để hiểu thêm về
những con người, sự kiện vốn chỉ hiện diện trong chính sử với các hoạt động,
sự kiện khô khan mà ít được chú ý tới nội tâm, đời sống, tình cảm. Nói cách
khác là nơi mà các vĩ nhân, nhân vật chính diện, phản diện đều được nhìn
dưới góc độ rất NGƯỜI.” Ở đây, Phương Nhã thấy được tài năng xây dựng
nhân vật của Uông Triều. Đặc biệt là phát hiện ra nhà văn đã thành công khi
cố tình cho mỗi nhân vật của mình đều được quyền tự do nói lên tiếng nói của
chính bản thân mình. Để từ đó mà sự yêu, ghét, hận, thù….ở mỗi nhân vật trở
nên thật hơn, hợp tình hợp lý hơn.

khác.” Đây là một đánh giá rất hợp lý của Hồng Minh khi nhận xét về văn
phong của nhà văn trong “Trần Khánh Dư”. [43] Có thể khẳng định ngôn ngữ
trau chuốt, mềm mại, tinh tế, tài hoa chính là sở trường của Lưu Sơn Minh.
Nhờ tài năng sử dụng ngôn ngữ ấy mà nhân vật Trần Khánh Dư dù ở bất kỳ
hoàn cảnh hay nghịch cảnh nào cũng không hề tầm thường mà gần gũi, bình
dị, dễ đồng cảm.
Với bài viết “Trần Khánh Dư, người cô đơn bậc nhất trong chính sử
Việt” trên báo điển tử Thể thao văn hóa, An Như đã có đánh giá khá đầy đủ về
nhân vật trung tâm này: “Cuốn tiểu thuyết Trần Khánh Dư dày gần 300, gồm
25 chương, cho thấy một cái nhìn khác về nhân vật lịch sử Trần Khánh Dư
với đầy đủ các góc cạnh: Khi là một Phó đô tướng thủy quân quyền cao chức
trọng, uy dũng, nghiêm minh nhưng cũng ngông cuồng, ngạo mạn không
kém; khi lại là một con người cô độc đến tột cùng bởi không ai hiểu ông và
chính ông cũng không cần ai hiểu mình…”. An Như nhận thấy Trần Khánh
Dư là một nhân vật đa diện, phức hợp nhiều nhân cách. Thông qua nhân vật
này, nhà văn cũng đã thể hiện được nghùn ngụt hào khí Đông A qua trận hải
chiến Vân Đồn lịch sử, tạo nên sức hút mãnh liệt cho bạn đọc.

8


Có thể thấy cả ba cuốn tiểu thuyết từ khi ra đời đã tạo được nhiều ấn
tượng, dư vang trong lòng bạn đọc nói chung và nhận được nhiều sự quan tâm
của giới nghiên cứu, phê bình nói riêng. Những công trình, bài viết, những ý
kiến đánh giá về cả ba tác phẩm đã nói lên phần nào phong cách của nhà văn
nhưng chỉ đi sâu vào một số phương diện nội dung cũng như nghệ thuật trong
tiểu thuyết của họ. Riêng về nhân vật Trần Khánh Dư thì chưa có công trình
nào nghiên cứu lớn nào đề cập đến. Vì vậy chúng tôi tìm hiểu Nhân vật Trần
Khánh Dư trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại (qua một số tác phẩm
tiêu biểu) để thấy được khả năng sáng tạo, hư cấu và ứng xử khác nhau của

Sương mù tháng giêng, Trần Khánh Dư.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài, luận văn sẽ khảo sát ba tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu
viết về nhân vật Trần Khánh Dư là Chim Ưng và chàng đan sọt (Bùi Việt Sỹ),
Sương mù tháng giêng (Uông Triều), Trần Khánh Dư (Lưu Sơn Minh), và hai
cuốn chính sử (Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đáp ứng mục tiêu và nội dung của luận văn, chúng tôi sử dụng kết
hợp nhiều phương pháp sau:
- Phương pháp hệ thống giúp xác định vị trí của tiểu thuyết lịch sử
trong bức tranh tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
- Phương pháp lịch sử: Viết về đề tài lịch sử, chúng tôi chú ý tìm hiểu
lịch sử để nắm vững bối cảnh lịch sử của từng giai đoạn, đồng thời thấy được
tính chân thực lịch sử và sự sáng tạo, hư cấu trong các tiểu thuyết lịch sử.
- Phương pháp so sánh sử dụng để thấy được sự giống và khác nhau về
nhân vật Trần Khánh Dư trong ba cuốn tiểu thuyết và nhân vật Trần Khánh
Dư trong ba cuốn tiểu thuyết với nhân vật Trần Khánh Dư trong chính sử…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn nghiên cứu nhân vật Trần Khánh Dư trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại ở cả hai phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật xây
dựng nhân vật, làm sáng tỏ sự sáng tạo của nhà văn từ những “hằng số” lịch
sử của nhân vật Trần Khánh Dư trong sử liệu. Qua phân tích cái nhìn của nhà
10


văn về một nhân vật có số phận, tính cách đặc biệt trong sử sách, luận văn
hướng tới khám phá tài năng nghệ thuật của nhà văn, khẳng định những đóng
góp quan trọng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Qua việc tìm hiểu, so sánh nhân vật Trần Khánh Dư ở từng tác phẩm
trong quá trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử thời kỳ Đổi mới, luận văn chỉ

trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục,
tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy. Tác phẩm lịch sử thường mượn truyện đời
xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với
những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá
vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại này…” [23, tr.336]
Trong Từ điển văn học (bộ mới) tiểu thuyết lịch sử được hiểu là: “tác phẩm
tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính. Lịch sử trong ý nghĩa khái quát,
là quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội. Các khoa học xã hội (cũng được gọi là
các khoa học lịch sử) đều nghiên cứu quá khứ của loài người trong tính cụ thể và đa
dạng của nó. Tuy vậy những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan
tâm đến đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các
nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong
quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng…cuộc sống và sự nghiệp của
các nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử…” [27, tr.1725].
Ngay trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã phân biệt khá rõ lịch sử, ký
sự lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. “Khi viết về một quyển lịch sử, nhà chép sử không
lưu tâm đến những việc cá nhân không ảnh hưởng đến xã hội. Nhưng khi viết
những bài lịch sử ký sự, nhà văn có thể viết một cách tỉ mỉ những việc cá nhân

12


không ảnh hưởng gì đến dân chúng chỉ có cái thú vị riêng của nó mà thôi. Không
những thế, khi viết một quyển lịch sử ký sự nhà văn lại cần phải lưu tâm đến những
việc đời tư, lối ấy cũng gần như lối chép sử vậy... còn như viết lịch sử tiểu thuyết,
nhà văn chỉ phải căn cứ vào vài việc con con đã qua rồi vẽ vời cho ra một chuyện
lớn, cốt giữ cho mọi việc đừng trái với thời đại, còn không cần phải hoàn toàn sự
thật.” [56, tr.342]. Với quan điểm này, Vũ Ngọc Phan xếp các tác phẩm của Nguyễn
Triệu Luật, Đào Trinh Nhất, Phan Trần Chúc vào các loại ký lịch sử mặc dù có
những tác phẩm đã in khá rõ dấu ấn sáng tạo của tác giả ở cách sắp xếp chi tiết,

sử đòi hỏi nhà văn phải vừa là nghệ sĩ, vừa là nghiên cứu, có vốn sống và hiểu biết
phong phú, có cái nhìn và quan điểm riêng về lịch sử.
1.1.2. Sự xuất hiện trở lại của tiểu thuyết lịch sử trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại
1.1.2.1. Những tiền đề tư tưởng, văn hóa, xã hội
Từ nửa cuối thế kỷ XX, với sự thay đổi của môi trường chính trị - xã hội,
thay đổi của thị hiếu người đọc, văn học Việt Nam đã có một bước chuyển mình
lịch sử. Với phương châm đổi mới để tồn tại và phát triển, Đại hội Đảng lần VI
(1986) đã mở ra bước ngoặt, đem lại những chuyển biến mạnh mẽ, tích cực về
nhiều mặt. Quyết định “mở cửa” của Đảng đã có những tác động hết sức lớn lao đến
đời sống xã hội, kích thích những cải cách kinh tế, khơi dậy những suy nghĩ, những
tìm tòi, sáng tạo mới trong giới trí thức, văn nghệ sĩ. Có thể nói, đại hội Đảng lần
thứ VI đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn nghệ sĩ nước nhà.
Thời kỳ đổi mới, nền kinh tế trường phơi bày ra trước mắt tất cả sự phức tạp,
gai góc của nó buộc người ta phải nhìn khác, nhìn lại. Vì lúc này, cuộc sống thay
đổi không ngừng và luôn xuất hiện những chuẩn mực mới để thay thế các giá trị
xưa cũ đã trở nên lạc thời. Mặt khác, thời kỳ này, cơ hội giao lưu kinh tế và hội
nhập văn hóa trên thế giới rất sâu rộng. Sự giao lưu và hội nhập văn hóa cũng đã
làm thay đổi thị hiếu của người đọc. Không chỉ là những vấn đề hậu chiến, những
nhân vật, sự kiện…trong quá trình đổi mới đất nước. Người đọc cần khác hơn như
thế, nhiều hơn như thế…Những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội chính là tiền đề
quan trọng tạo nên sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của người đọc.
Một trong những yếu tố quan trọng cho sự xuất hiện trở lại của tiểu thuyết
lịch sử sau đổi mới đó chính là sự thức tỉnh của cái tôi nhà văn, khát vọng vượt
thoát cái cũ, truy tìm cái mới trong sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử. Khi mà
những chuẩn mực, chân lí chỉ là tương đối; mọi giá trị đời sống luôn luôn thay đổi,
bản thân người cầm bút cũng phải không ngừng đổi mới chính mình trong tư duy và
14



tâm của nhiều nhà văn hơn bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử văn học Việt Nam.
15


1.1.2.2. Sự nở rộ của đề tài lịch sử trong tiểu thuyết đương đại
Tiểu thuyết lịch sử đã xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam với Hoàng
Lê nhất thống chí, Nam triều công nghiệp diễn chí và đặc biệt phát triển trong giai
đoạn nữa đầu thế kỷ XX với hàng loạt tác phẩm đáng chú ý như Đinh Tiên Hoàng,
Vua Bố Cái (Nguyễn Tử Siêu), Cầu vồng Yên Thế (Trần Trung Viên), Cái hột mận
(Lan Khai), Bà chúa Chè, Thiếp chàng đôi ngã (Nguyễn Triệu Luật), Đêm hội Long
Trì (Nguyễn Huy Tưởng). Trong giai đoạn này, tiểu thuyết lịch sử có nhiều khuynh
hướng khác nhau: Nguyễn Tử Siêu với những anh hùng dân tộc, Nguyễn Triệu Luật
với những giai đoạn lịch sử phức tạp, Lan Khai với xu hướng lãng mạn…
Tuy nhiên sau 1945, qua hai cuộc kháng chiến, tiểu thuyết lịch sử ít có điều
kiện phát triển. Một số cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất hiện trong gia đoạn này chủ yếu
hướng đến những giai đoạn lịch sử và nhân vật lịch sử hào hùng, nêu cao tấm
gương yêu nước, ca ngợi tinh thần bất khuất của nhân dân như: Cờ nghĩa Ba Đình
(Thái Vũ), Lê Thái Tổ, Bóng nước hồ Gươm (Chu Thiên), Sống mãi với Thủ đô, Lá
cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy Tưởng), Sát thát (Hoàng Đạo Thúy).
Từ 1986 đến 2000, với sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy lịch sử mà người
khởi mở đầu tiên là Nguyễn Huy Thiệp với chùm truyện “giả lịch sử” Vàng lửa,
Kiếm sắc, Phẩm tiết, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam có những đột phá trong nghệ
thuật thể hiện đề tài lịch sử: Sông Côn mùa lũ (1990), Hào kiệt Lam Sơn (1995),
Vằng vặc sao Khuê (1998), Hồ Quý Ly (2000)... Bên cạnh đó, nhà văn cũng tìm về
lịch sử ở các giai đoạn khác nhau nhiều hơn như một cách chiêm nghiệm về quá
khứ và hiện tại như: Gươm thần Vạn Kiếp (Ngô Văn Phú), Vằng vặc sao Khuê
(Hoàng Công Khanh), Tám Triều vua Lý (Hoàng Quốc Hải), Mười hai sứ quân, Bắn
rụng mặt trời (Vũ Ngọc Đĩnh).
Từ sau 2000, tiểu thuyết lịch sử vẫn tiếp tục chiếm một vị trí quan trọng
trong bức tranh tiểu thuyết đương đại: Giàn Thiêu (Võ Thị Hảo), Khúc khải hoàn

năm sụp đổ (1225) tổng cộng 216 năm với 4 tập, hơn 3500 trang. Hồ Quý Ly của
Nguyễn Xuân Khánh dày 834 trang. Điểm đáng chú ý nhất là nó đã vượt qua mô
hình cũ và tạo ra nhiều hướng phát triển có hứa hẹn.
Theo Nguyễn Văn Dân thì có ba xu hướng rõ nét trong tiểu thuyết lịch sử
như sau: Tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan, tiểu thuyết lịch sử giáo huấn
và tiểu thuyết lịch sử luận giải. Tiêu biểu cho xu hướng tiểu thuyết chương hồi
khách quan là tác giả Ngô Văn Phú (Gươm thần Vạn Kiếp, Ấn kiếm trời ban, Cờ lau
dựng nước, Uy Viễn tướng công, Lý Công Uẩn), Lê Đình Danh (Tây Sơn bi hùng
truyện). Trong xu hướng tiểu thuyết lịch sử giáo huấn, Hoàng Quốc Hải là một đại
17


diện tiêu biểu. Ông có bộ Bão táp triều Trần và bộ Tám triều vua Lý. Tiêu biểu cho
xu hướng tiểu thuyết lịch sử luận giải là Nguyễn Xuân Khánh (Hồ Quý Ly) và
Nguyễn Quang Thân (Hội thề). [11] Các nhà văn đều chọn những nhân vật “có vấn
đề” để luận đề về ý nghĩa "thời thế" của nhân vật này trong thời đại nhà Trần và nhà
Lê. Có thể nói, mặc dù còn nhiều vấn đề phải bàn về nghệ thuật hư cấu, nhưng xu
hướng thứ ba này có vẻ phù hợp với tầm đón nhận của công chúng thời hiện đại.
Tuy nhiên, xu hướng này không giữ vị trí độc tôn, mà nó bổ sung cho hai xu hướng
kia để gia tăng sức hấp dẫn của tiểu thuyết lịch sử.
Có thể thấy rõ những đặc trưng tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết thời kỳ này
là: Có sự đa dạng phức tạp trong phong cách cá nhân; tái hiện lịch sử theo lối biên
niên; khắc họa những nhân vật lịch sử nổi tiếng và suy tư về các vấn đề đương đại;
khắc họa cả một thời đại lịch sử lớn với nhiều sự kiện và nhiều nhân vật; mượn lịch
sử để gửi gắm những vấn đề thế sự; tái hiện những vấn đề lịch sử văn hóa; tái hiện
những phần khuất lấp và “xét lại” nhân vật lịch sử.
Tiểu thuyết lịch sử tuy mượn đề tài lịch sử nhưng không né tránh thực tại.
Thông qua lịch sử, nhà văn trình bày quan niệm của mình về lịch sử trong đó có
quan niệm về nhân vật anh hùng và lịch sử anh hùng, gợi mở những cách “giải mã”
những bí ẩn lịch sử. Đó chính là cách nhà văn mang đến cho người đọc cái nhìn của

sử viết về những điều thầm kín trong con người không được lịch sử nhắc đến:
“Khoa chép sử viết lại lịch sử xã hội chứ không phải con người, vì vậy, những sự
kiện lịch sử được nói đến trong các tiểu thuyết của tôi thường bị khoa chép sử bỏ
quên.” [51] Lucacs thì cho rằng, điều quan trọng trong tiểu thuyết lịch sử là “trước
hết hãy phản ánh các số phận cá nhân mà trong đó những vấn đề thời đại cũng đồng
thời được nói lên một cách trực tiếp và điển hình.” [12] Ông quan niệm nhân vật
của tiểu thuyết lịch sử là con người cá nhân, con người đó sẽ tham gia vào các biến
cố như thế nào, những gì thực sự diễn ra phía sau sự lựa chọn của nó...chứ không
phải viết về những người anh hùng của quá khứ tuyệt đối.
Trước đây, tiểu thuyết lịch sử đã có giai đoạn phát triển mạnh mẽ với quan
niệm khá cởi mở về lịch sử nhất là đối với các nhà tiểu thuyết lãng mạn như Lan
Khai. Tuy nhiên, trong giai đoạn kháng chiến, do văn học đặt mục tiêu hàng đầu là
cổ vũ chiến đấu và tô đậm những tấm gương lịch sử nhằm mục đích nêu cao tinh
thần yêu nước và đấu tranh cách mạng nên tiểu thuyết lịch sử có phần một chiều,
chưa hấp dẫn, như Trần Đình Sử viết: “Trước đây chúng ta cũng có viết tiểu thuyết
lịch sử, nhưng đó là loại tiểu thuyết lịch sử cách mạng, viết về các tấm gương tranh
đấu của lãnh tụ cách mạng thời trẻ, các chiến dịch, các cuộc khởi nghĩa…” [65]
19


Theo quan niệm của chủ nghĩa lịch sử truyền thống, những sự thực trong sách sử là
chân lý khách quan. Trần Đình Sử lại cho rằng, với chủ nghĩa lịch sử mới, bắt đầu
xuất hiện từ những năm 60 - 70 (thế kỷ XX), tính cách quan khoa học của sử học bị
chất vấn. Liệu lịch sử có thể tái hiện toàn bộ quá khứ như nó đã thực sự diễn ra
không? Theo Hayden White, lịch sử là một tự sự. Để cho câu chuyện lịch sử hoàn
chỉnh, có logic sử học cũng phải hư cấu. [64] Tức là, trong sự thật lịch sử mà người
đọc tiếp nhận, nó đã bao hàm cả sự hư cấu của người viết sử chứ không còn là sự
thật như nó vốn có. Quan niệm xem tiểu thuyết lịch sử là minh họa lịch sử, “văn
chương hóa lịch sử” một cách giản đơn là thu hẹp chức năng của tiểu thuyết lịch sử.
Trong văn học Việt Nam, một số nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cũng đề cao

về tiểu thuyết lịch sử khi xây dựng nhân vật Từ Lộ. Nhà văn đã dựa vào những dã
sử và sử liệu giai đoạn 1088 - 1138, dưới hai triều đại Lý Nhân Tông và Lý Thần
Tông được ghi trong Đại Việt sử kí toàn thư. Tuy nhiên, Võ Thị Hảo không chú
trọng việc trình bày các sự kiện lịch sử mà chú trọng đến yếu tố “con người”. Nhà
văn đã huy động tối đa trí tưởng tượng và sự hư cấu khi xây dựng các nhân vật lịch
sử này. Từ Lộ vốn là con quan tăng đô án Từ Vinh. Cha chàng bị pháp sư Đại Điên
hại chết đã hiện hồn về dặn chàng báo thù. Bỏ lại người yêu trong trắng, xinh đẹp,
tiểu thư Nhuệ Anh, Từ Lộ quyết chí ra đi tầm sư học đạo, tìm cách trả thù cho cha.
Sau khi trả hận, Từ Lộ cảm thấy mình chưa được hưởng thụ cuộc sống nên hóa kiếp
vào Lý Thần Tông. Nhà văn kết hợp cả lịch sử và huyền tích dân gian, bằng bút
pháp huyền thoại đã hư cấu nhân vật Từ Lộ chất chứa oan khuất và khổ đau trải qua
hai kiếp - một của Đạo Hạnh Đại Sư theo con đường tu luyện khổ ải, một của bậc
đế vương Thần Tông ngập chìm trong hậu cung đầy cung phi mỹ nữ. Đan chéo vào
hai kiếp của Đạo Hạnh - Thần Tông là cô cung nữ Ngạn La vừa hoang dại vừa
quyến rũ, là sư bà Nhuệ Anh với cuộc đời trôi dạt. Qua việc miêu tả hai kiếp đời Từ
Lộ, tác giả không nhằm minh họa cho câu chuyện trong lịch sử mà là sự “hưởng thụ
lịch sử” theo quan niệm cá nhân của nhà văn với tinh thần tự do sáng tạo.
Đổi mới quan niệm về tiểu thuyết lịch sử chính là sáng tạo lại diễn ngôn lịch
sử bằng nghệ thuật. Người viết tiểu thuyết lịch sử phải nêu ra cách nói mới, góc
nhìn mới, phán xét mới, gợi mở khả năng mới để tạo ra nhiều hướng phát triển có
hứa hẹn. Theo Nguyễn Văn Hùng: “Từ thực tiễn tiểu thuyết lịch sử sau 1986, chúng
ta thấy có sự chuyển dịch mạnh mẽ của hình thái diễn ngôn so với giai đoạn trước
đó: Từ diễn ngôn mang tính khẳng định, chiêm bái, ngưỡng vọng sang diễn ngôn
mang tính giả định, phân tích, luận giải, giải thiêng; từ diễn ngôn dân tộc, đạo lí,
giai cấp sang diễn ngôn đời tư, thế sự, nhân văn; từ diễn ngôn lịch sử - đấu tranh
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status