Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Tiểu học
Tr-ờng đại học s- phạm hà nội 2
Khoa giáo dục tiểu học
----------
vũ lệ huyền
ý nghĩa của đồng dao đối với
sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ mầm non
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Tiếng Việt
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
ThS. LÊ THị lAN ANH
Hà NộI 2010
Vũ Lệ Huyền
3
K32 Giáo dục Mầm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
4
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
này những khúc đồng dao có thể coi như một sự nối tiếp những khúc hát ru để
gắn bó trẻ với gia đình, làng xóm, quê hương, bạn bè. Trẻ không còn thụ động
tiếp nhận tiếng hát ru của mẹ nữa mà có thể chủ động tìm trò để chơi, tìm câu
để hát và bước đầu làm quen với sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Những bài
đồng dao vui nhộn, dễ học, dễ thuộc đã dẫn dắt trẻ vào thế giới của những
mối quan hệ. Nét đặc sắc của đồng dao Việt Nam là hầu hết các bài đồng dao
đều gắn liền với những trò chơi dân gian, một trong những nét bản sắc văn
hóa dân tộc Việt. Tham gia vào đó, trẻ được hoạt động chân tay, phát triển tư
duy và không thể thiếu đó là sự rèn luyện và phát triển ngôn ngữ. Những bài
đồng dao không những thu hút trẻ bởi nó thể hiện được đặc tính hồn nhiên,
ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ mà còn kích thích mạnh mẽ sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Ý nghĩa của đồng dao
đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non” làm đề tài nghiên cứu khóa
luận tốt nghiệp của bản thân.
2. Lịch sử vấn đề
Đồng dao có giá trị rất to lớn trong đời sống văn hóa của trẻ em ngày
xưa và nó vẫn có thể còn nguyên giá trị đối với trẻ em chúng ta trong thời đại
ngày nay, nếu chúng ta biết thổi vào đó những luồng gió mới của thời đại.
Với tinh thần đó, không ít những nhà nghiên cứu văn hóa và các nhà sư phạm
dao gắn với lứa tuổi nhỏ; đồng dao mô phỏng các hoạt động sản xuất tập cho
trẻ em thành người lao động; đồng dao chứa đựng những tư tưởng ngộ nghĩnh
và trí thông minh của trẻ; cuối cùng là những bài hát ru.
Cùng tên “Đồng dao Việt Nam” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân, nhà
xuất bản Văn hóa thông tin năm 2005, đã phân chia đồng dao thành bốn bộ
phận sau: đồng dao trẻ em hát; đồng dao trẻ em hát – trẻ em chơi; đồng dao
hát ru và trẻ em đố vui.
Nói đến đồng dao không thể không kể đến những trò chơi trẻ em. Đồng
tác giả Trần Thị Ngân và Nguyễn Thị Thu trong cuốn “Đồng dao và trò chơi
trẻ em”, nhà xuất bản Văn học 2009 đã đưa ra những bài đồng dao hết sức vui
nhộn, dí dỏm. Cuốn sách bao gồm hai phần: đồng dao và trò chơi trẻ em;
tuyển chọn những câu đồng dao cho trẻ em. Tác giả đã liệt kê cách chơi của
một số trò chơi dân gian quen thuộc và những câu đồng dao ngắn gọn, phản
ánh một cách sinh động tự nhiên và cuộc sống.
Ngày nay, trong điều kiện phát triển xã hội, trẻ em ít được biết đến
đồng dao. Chúng ta hiếm thấy hình ảnh những em nhỏ tụm năm tụm bảy rồng
Vò LÖ HuyÒn
6
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Tiểu học
rn lờn mõy, bt mt bt dờ, vo nhng ờm trng sỏng hay nhng bui
chiu mỏt m. Tỏc gi Trn Xuõn Ton trỡnh by trờn trang Chametainang.net
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Ý nghĩa của đồng dao đối với sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ mầm non.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chúng tôi chỉ đi nghiên cứu, tìm hiểu ở
trẻ lứa tuổi mẫu giáo (3 - 6 tuổi), tại trường mầm non Mai Đình A - Sóc Sơn Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đề
tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:
-
Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài.
-
Tìm hiểu ý nghĩa của đồng dao đối với sự phát triển ngôn ngữ của
trẻ mầm non.
-
Trên cơ sở của hai nhiệm vụ trên, chúng tôi đưa ra một số đề xuất
để phát triển ngôn ngữ qua đồng dao trong trường mầm non.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu, tổng hợp
trẻ cũng có sự biến đổi rõ rệt và nhanh chóng.
Ngay từ thủa lọt lòng, trẻ được gắn bó với mẹ, đây là mối quan hệ đầu
tiên và cũng là cơ sở nảy sinh nhu cầu giao tiếp của trẻ với những người xung
quanh. Trẻ được ôm ấp, vuốt ve trong vòng tay của mẹ, của bà, được tiếp xúc
với những lời ru ầu ơ, những câu nựng của người lớn. Tất cả đã thấm sâu vào
trong tiềm thức non nớt của trẻ. Lớn hơn một chút, nhu cầu giao tiếp của trẻ
trở nên bức thiết hơn, trẻ hình thành nên những phản ứng vận động xúc cảm
đặc biệt hướng vào người lớn. Đó chính là những “phức cảm hớn hở”, thể
hiện ở chỗ trẻ nhìn chằm chằm vào mặt người lớn, miệng cười toe toét, đôi
khi phát ra những âm thanh nhỏ (gừ gừ), chân tay khuya rối rít,… khi người
lớn cúi xuống nói chuyện với trẻ. Sự thể hiện này của nhu cầu giao tiếp với
người lớn là nhu cầu có tính chất xã hội đầu tiên của đứa trẻ.
Vào khoảng tháng thứ 6 đến tháng thứ 8, ở trẻ xuất hiện một hiện tượng
mới, lúc có người lạ đến gần trò chuyện với trẻ, trẻ không mỉm cười ngay như
trước nữa mà tỏ ra sợ hãi, từ chối không muốn giao tiếp, có trẻ cúi mặt xuống,
lấy tay che mặt hoặc rúc vào ngực mẹ hay la khóc ầm lên. Đây chính là mốc
quan trọng trong quá trình phát triển cảm xúc ở trẻ. Cùng với giao tiếp trực
tiếp với người lớn, dần dần ở trẻ xuất hiện nhu cầu sờ mó, cầm nắm các đồ
vật. Trong đó nhu cầu giao tiếp trực tiếp sẽ nhường chỗ cho giao tiếp vì đồ vật
Vò LÖ HuyÒn
9
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
vật và những người xung quanh và khả năng đi lại theo tư thế thẳng đứng
trong không gian mà đời sống tâm lý của trẻ có một bước phát triển to lớn.
Vò LÖ HuyÒn
10
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
1.1.2. Trẻ 3 - 6 tuổi
Bước sang tuổi mẫu giáo, đứa trẻ biết sử dụng nhiều đồ dùng trong sinh
hoạt hàng ngày, biết tự phục vụ, biết giao tiếp bằng ngôn ngữ với mọi người
và biết thực hiện những quy tắc hành vi sơ đẳng trong xã hội. Sự xuất hiện
ngôn ngữ nói là sự kiện quan trọng, ngôn ngữ vừa là vật thay thế cho đồ vật
thật, vừa là phương tiện giao tiếp. Theo Piaget, ngôn ngữ có ba ưu thế so với
hành động vật chất. Thứ nhất hành động bằng tay diễn ra với tốc độ chậm hơn
nhiều so với lời mô tả, thứ hai hành động bằng tay bị hạn chế bởi không gian
và thời gian còn ngôn ngữ và tư duy có thể dễ dàng vượt qua giới hạn đó, thứ
ba hành động bằng tay diễn ra tuần tự còn ngôn ngữ hì cho biểu tượng toàn
bộ.
Ở độ tuổi này nhiều hình thức hoạt động phong phú đã xuất hiện như
vui chơi, học tập, lao động,… nhưng trong đó vui chơi mà trò chơi đóng vai
theo chủ đề được coi là hình thức hoạt động chủ đạo của trẻ. Vui chơi là hoạt
động chủ đạo không phải vì trẻ mẫu giáo dành nhiều thời gian cho nó, mà
chính là trò chơi đã gây ra những biến đổi về chất trong tâm lý của trẻ, nó chi
phong phú giúp các em hiểu được đất nước, cuộc sống và con người xung
quanh qua đôi mắt trẻ thơ, đem lại cho các em những cảm xúc tốt đẹp, giáo
dục các em trở thành những người lao động hữu ích trong tương lai.
Đồng dao có lịch sử lâu đời, nó hình thành và phát triển cùng với gia
đình và xã hội. Nó được truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác, có thể là
sáng tác của chính các em hay của người lớn sáng tác cho các em phù hợp với
thế giới quan xung quanh các em.
Đặc điểm của đồng dao đó là có vần điệu rõ ràng nên dễ thuộc, dễ hát.
Các bài đồng dao thường lặp đi lặp lại theo chu kỳ một cách tự nhiên. Ngôn
ngữ đồng dao có khi rất kì quặc, chắp vá khiến cho logic của đồng dao là
logic của trò chơi, không theo logic hiện thực thậm trí không thể giải thích
được. Chính vì vậy đồng dao được coi như trò chơi thể hiện đặc tính ngộ
nghĩnh của trẻ nên được các em rất thích. Trẻ hát đồng dao như chơi trò chơi,
cốt sao hát cho vui mồm, nghe cho vui tai, không cần biết đến ý nghĩa của nó
[8,276].
Tuy ý nghĩa của nhiều câu đồng dao không rõ ràng hay thậm trí vô
nghĩa nhưng nội dung của đồng dao hết sức phong phú. Không chỉ phản ánh
những hiện tượng trong thiên nhiên mà còn phản ánh mối quan hệ giữa con
Vò LÖ HuyÒn
12
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
13
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Khoá luận tốt nghiệp
Khoa Giáo dục Tiểu học
to trong hot ng trớ tu. Bi vy m vic phỏt trin trớ tu cho tr khụng th
tỏch ri vi vic phỏt trin ngụn ng.
V mt th lc: tin hnh c cỏc hot ng trng mm non
nh n, ng, th dc, giỏo viờn cn thit phi s dng ngụn ng hng dn
tr thc hin tt cỏc yờu cu do mỡnh t ra. Khụng ch th ngụn ng cũn l
cụng c ng viờn, khớch l tr giỳp tr phỏt trin tt.
V mt thm m: Ngụn ng gúp phn vo quỏ trỡnh giỏo dc cho tr
nhng tỡnh cm thm m cao p.
S phỏt trin chm ch v mt ngụn ng cú nh hng rt ln n s
phỏt trin ton din ca tr. Vỡ vy cỏc nh giỏo dc cn phi ra c
nhng nhim v, ni dung v phng phỏp phỏt trin ngụn ng cho tr ỳng
lỳc v phự hp vi la tui, to iu kin thun li tr phỏt trin tt nht.
1.4. ng dao - ni dung giỏo dc quan trng trong trng mm non
Trng mm non l cỏi nụi khụng ch n gin l nuụi dng, chm
súc m cũn giỏo dc tr, giỳp cỏc em phỏt trin ton din v c - trớ - th m. ú cng chớnh l hnh trang cỏc em sn sng bc vo lp mt.
Lm quen vi tỏc phm vn hc l c s tr tip thu mụn Ting Vit
trng Tiu hc.
Lm quen vi mụi trng xung quannh l c s tr hc mụn T
nhiờn - xó hi.
Tr tp tụ to nờn tin cho tr Tp vit v Chớnh t.
Tr lm quen vi toỏn l c s tr tip thu mụn toỏn hc c lp mt.
1
- Tiếp xúc vật - Đồ vật thật
các môn học ở trường mầm
Trực
thật
- Mô hình
non.
quan
- Quan sát
- Tranh ảnh
- Có thể tích hợp với
- Tham quan.
- Băng đĩa.
phương pháp dùng lời, trò
chơi,… đạt hiệu quả cao
trong giáo dục.
+
Đọc,
kể
động vui chơi
- Có thể phối hợp với tất cả
chuyện
các phương pháp giáo dục
- Ngoài giờ
khác.
+ Trò chuyện.
3
Trên
lớp - Lời nói
- Trẻ được tham gia và hoạt
Thực
trong các giờ - Đồ dùng, đồ động tích cực vào các hoạt
luyện, củng cố nên được sử
hoạt động.
dụng và kết hợp trong các
tiết học của trẻ.
- Đây là một phương pháp
-
Trên
lớp, - Đồ dùng, đồ hấp dẫn với trẻ
trong giờ học
chơi
- Nên sử dụng hợp lý trong
- Ngoài lớp - Lời nói
học.
các tiết học sẽ đạt hiệu quả
- Vùng không cao trong công tác giáo dục
gian trong và trẻ
4
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu chúng tôi nhận thấy bốn phương
pháp nêu trên là những phương pháp quan trọng để thúc đẩy sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ một cách mạnh mẽ và nhanh chóng. Nhóm phương pháp
dùng lời cụ thể sử dụng phương tiện ca dao, dân ca và nhóm phương pháp trò
chơi kết hợp ca dao, dân ca, đồng dao có ý nghĩa vô cùng lớn để phát triển
ngôn ngữ cho trẻ, giúp trẻ tiếp thu tri thức một cách thoải mái, nhẹ nhàng,...
Đây có thể coi là một môi trường tốt giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển
nhanh chóng. Hay chính các bài đồng dao đã tác động tích cực, hiệu quả cho
sự phát triển ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi mầm non.
1.5. Phân loại đồng dao
Đồng dao Việt Nam là một bộ phận rất phong phú và đa dạng cả về số
lượng và thể loại. Theo tác giả Trần Gia Linh đồng dao được chia làm năm
chủ đề lớn [3,4]:
Đồng dao về thiên nhiên, đất nước (Trăng mọc; Ông trẳng ông trăng;
Tiếng con chim ri; Con voi; Mèo trè cây cau;...)
Đồng dao gắn với những trò chơi ở lứa tuổi nhỏ (Chuyền thẻ; Rồng
rắn; Thả đỉa ba ba; Nu na nu nống; Chi chi chành chành; Kéo cưa lừa xẻ;
Xỉa cá mè;...)
Đồng dao mô phỏng các hoạt động sản xuất tập cho trẻ em thành người
lao động (Nghé bầu nghé bạn; Ta bảo trâu này; Nhớ ơn; Thương con ba ba;
Sên sển sền sên;...)
Đồng dao chứa đựng những tư tưởng ngộ nghĩnh và trí thông minh của
trẻ (Chim ri, sáo sậu; Lúa ngô, đậu nành; Ông tiển ông tiên; Con gà cục tác;
Thằng bờm; Thằng cuội; Chim chích chòe;...)
Đồng dao hát ru (Cái ngủ mày ngủ cho lâu; Con cò đậu cọc bờ ao; Con
cò mà đi ăn đêm; Thằng cuội ngồi gốc cây đa; Cái bống là cái bống bang;
vừa hát, đọc đồng dao đồng thời chơi những trò chơi lý thú. Nếu chỉ đọc đồng
dao để giúp trẻ phát âm, tập nói, hay chỉ đọc cho vui thôi thì các em sẽ dần
thấy nhàm chán, việc kết hợp đồng dao với trò chơi đã tạo nên sức hấp dẫn,
thu hút các em, thỏa mãn nhu cầu của các em. Chơi chính là người bạn đồng
hành của trẻ, là cuộc sống của trẻ mà thiếu nó trẻ không thể phát triển được.
Với nhạc điệu và ngôn từ hồn nhiên, đơn giản,…đồng dao tạo nên điều
kiện thuận lợi để các em phát triển vốn từ của mình. Khi kết hợp với trò chơi,
đồng dao không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ mà còn phát triển tư duy, khả
năng vận động, giúp trẻ khỏe mạnh cả về vật chất và tinh thần.
Vò LÖ HuyÒn
18
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
1.7. Tổ chức trò chơi cho trẻ thông qua đồng dao
Nói đến đồng dao thì điều không thể thiếu là trò chơi dân gian Việt
Nam, vì hầu hết các trò chơi dân gian đều gắn liền với những bài đồng dao.
Đồng dao và trò chơi là chất keo nối kết những tình bạn trong sáng, ngây thơ
giữa lũ trẻ với nhau mà ta khó tìm thấy trong những trò chơi hiện đại ngày
nay [4,9].
Nhân dân ta có một kho tàng trò chơi dân gian hết sức phong phú mà
điều đặc biệt thú vị là phần lớn trò chơi đều đi kèm với lời đồng dao rất ngộ
nghĩnh làm tăng thêm sự cuốn hút của trò chơi đối với trẻ. Những trò chơi này
nhạc như một món ăn tinh thần đối với trẻ nhỏ, mà thiếu nó thì trẻ em chỉ còn
là những bông hoa khô héo. Những giai điệu trầm bổng, tiết tấu nhịp nhàng đã
đưa trẻ vào thế giới của cái đẹp một cách thích thú và hấp dẫn. Đại văn hào
M. Goroki nhận xét “Âm nhạc tác động một cách kỳ diệu đến tận đáy lòng.
Nó khám phá ra cái phẩm chất cao quý nhất ở con người”.
Đồng dao trong thế giới âm nhạc của trẻ cũng rất phong phú và sinh
động. Trẻ hát những khúc đồng dao khi ngồi trên lưng trâu, khi tụm năm tụm
bảy dưới ánh trăng rằm, khi chơi những trò chơi dân gian,… Hầu hết các bài
đồng dao được đọc lên, hát lên theo giai điệu tiết tấu vui nhộn, linh hoạt hoặc
nhịp nhàng, uyển chuyển. Yếu tố trầm bổng hay tính chất âm nhạc trong đồng
dao đã khiến cho những khúc đồng dao vốn đã giản dị, mộc mạc càng trở nên
dễ thuộc, dễ nhớ, dễ đọc và dễ hát hơn, phù hợp với đặc điểm và khả năng của
trẻ. Âm nhạc đã khiến cho đồng dao hằn sâu vào tiềm thức của trẻ, trẻ thêm
yêu hơn, thích thú hơn và hăng say hơn khi được đọc, được hát những khúc
đồng dao. Từ đó phát triển ngôn ngữ và góp phần giáo dục phát triển toàn
diện cho trẻ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho
trẻ vào học lớp một.
1.9. Kỹ năng cần rèn luyện cho trẻ thông qua hình thức dạy đồng dao
Việc học thuộc các bài đồng dao thường được tiến hành ngoài tiết học
và kết hợp với trò chơi. Các bài đồng dao thường có tính nhịp điệu cao, với
ngôn ngữ gần gũi lời nói hàng ngày của trẻ và được sắp xếp theo vần, điệu
khiến trẻ dễ đọc, dễ thuộc và thích thú khi đọc khi hát. Khi dạy đồng dao cho
trẻ cô giáo không nên phân tích nội dung của bài mà nên chú trọng việc luyện
cho trẻ đọc thuộc và thể hiện được nhịp điệu của bài. Ngoài ra ở lứa tuổi này
nên yêu cầu trẻ nhận ra tiếng lặp tạo nên nhịp điệu của bài đồng dao, nhằm
phất triển khả năng tri giác âm thanh của trẻ và giúp trẻ nhận biết lối nói
ngược trong đồng dao. Lời nói ngược gợi cho trẻ cảm xúc hóm hỉnh, đồng
Vò LÖ HuyÒn
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
CHƢƠNG 2
Ý NGHĨA CỦA ĐỒNG DAO ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ MẦM NON
2.1. Yếu tố ngôn ngữ trong đồng dao
Tìm hiểu đặc điểm yếu tố ngôn ngữ trong đồng dao thông qua một số
bài đồng dao sưu tầm từ cuốn “Đồng dao Việt Nam” của tác giả Trần Gia
Linh và cuốn “Đồng dao và trò chơi trẻ em” của tác giả Trần Thị Ngân và
Nguyễn Thị Thu. Chúng tôi có bảng thống kê sau:
STT
Tên bài đồng dao
Phát triển vốn
Phát triển vốn
từ về thiên
từ về xã hội
nhiên
1
Bà còng đi chợ trời mua
Cái bống
x
x
6
Cái cò
x
x
7
Cầu mưa
x
8
Câu ếch
x
9
Chi chi chành chành
Con công
x
Vò LÖ HuyÒn
22
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
14
Con chim manh manh
x
x
15
Con gà
x
20
Cô dâu chú rể
x
21
Cốc, cốc, cốc
x
22
Dung dăng dung dẻ
x
x
23
Diễn xướng đồng dao
Thái
x
x
24
Gà cục tác
x
29
Hai bàn tay
x
x
30
Hì hà hì hụi
x
x
31
Họ nhà rau
x
32
Họ nhà hoa
x
x
37
Nghé hành nghé hẹ
x
x
38
Nu na nu nống
x
x
39
Rềnh rềnh ràng ràng
x
x
Vò LÖ HuyÒn
Tập tàm vông
x
x
43
Thằng bờm
x
x
44
Thằng cuội
x
x
45
Thả đỉa ba ba
x
x
Vè nói ngược
x
x
51
Vè thằng nhác
x
x
52
Ông trẳng ông trăng
x
x
53
Ông giẳng ông giăng
x
x
x
Tổng
57
45
Tỉ lệ (%)
100
78.94
Bảng số 2: Bảng thống kê sự phát triển vốn từ thiên nhiên và
xã hội trong các bài đồng dao
Với 57 bài đồng dao được sưu tầm trong đó có tới 57 bài cung cấp vốn
từ về thiên nhiên gần gũi, xung quanh trẻ và 45 bài cung cấp vốn từ về xã hội.
Có thể nói đó là con số không nhỏ, góp phần vào công tác giáo dục để rèn
Vò LÖ HuyÒn
24
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Khoa Gi¸o dôc TiÓu häc
Tiếng con sáo sậu
cồ cồ,
Gọi cậu gọi cô
tu hú,
Tiếng con cồ cồ
đồng
Gọi cô gọi chú
Tiếng con tu hú
Gọi chú gọi gì
Mau mau tỉnh dậy
Mà đi ra đồng…
Hay đến với miền núi cao phía bắc, ghé thăm bản làng của người dân
tộc Thái, chúng ta sẽ được nghe các em nhỏ hát diễn xướng những khúc đồng
dao gắn liền với đời sống, với cỏ cây, hoa lá, ruộng đồng, vườn tược mang
đậm bản sắc văn hóa dân tộc Thái:
Vò LÖ HuyÒn
25
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Mời nàng hạ giới
Gà, lợn, vịt.
Xuống chơi ống gạo muối.
vịt tựa cầu thang
Xuống chơi ống tấm
gà bỏ muối.
Xuống chơi cho lợn,
gà quen chủ…
Trẻ vừa chơi, vừa đọc, vừa hát những khúc đồng dao ngộ nghĩnh sẽ
thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Tóm lại, yếu tố ngôn ngữ trong đồng dao không chỉ đa dạng và phong
phú về số lượng mà còn về chất lượng. Có thể nói yếu tố ngôn ngữ trong đồng
dao có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non.
2.2. Ý nghĩa của đồng dao đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non
Qua xem xét và tìm hiểu, chúng ta có thể khẳng định rằng đồng dao có
ý nghĩa giáo dục rất hiệu quả đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, bởi nó phù hợp
với đặc điểm tâm lý của các em. Nói đến đồng dao không thể không kể đến
những trò chơi dân gian kèm theo đó. Trẻ em vừa hát đồng dao, vừa tham gia
vào trò chơi một cách thích thú.
Vò LÖ HuyÒn
26
K32 – Gi¸o dôc MÇm non
Chỳng tụi nhn thy rng, ng dao kt hp vi trũ chi dõn gian to
nờn mt phng phỏp giỏo dc hiu qu nht cho la tui mm non. Chớnh vỡ
Vũ Lệ Huyền
27
K32 Giáo dục Mầm non