Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
MỞ ĐẦU
Ngày nay khoa học công nghệ phát triển với tốc độ vượt bậc đòi hỏi
các ngành khoa học khác phải phát triển để theo kịp tiến trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước.
Trong công nghệ hóa học thì hóa học phân tích đã khẳng định được vai
trò của mình qua việc sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích
điện hóa, phương pháp phân tích trắc quang, phương pháp phân tích phổ hấp
thụ nguyên tử và một số phương pháp phân tích khác… Trong đó có phương
pháp trắc quang là phương pháp được sử dụng nhiều nhất, tuy rằng phương
pháp này không hoàn toàn ưu việt nhưng xét về nhiều mặt nó có những ưu
điểm nổi bật như: có độ lặp lại và có độ chính xác cao, độ nhạy đạt yêu cầu
phân tích. Mặt khác, phương pháp này chỉ cần máy móc không quá đắt, dễ
bảo quản, giá thành phân tích rẻ, phù hợp với yêu cầu cũng như điều kiện các
phòng thí nghiệm của nước ta hiện nay. Bên cạnh đó như chúng ta cũng biết,
phức chất cũng có vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp hóa chất và
rất được sự quan tâm của các ngành khoa học.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và để đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống nên việc sử dụng phân bón hóa học,
thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, chất thải của các nhà máy, khu
công nghiệp đã dẫn đến sự ô nhiễm nguồn đất, nguồn nước và bầu khí quyển.
Do đó, đất, nước, bầu khí quyển có thể bị nhiễm một số kim loại nặng như
As, Hg, Sn, Cd, Pb, Cu, Zn… tạo ra độc tố và các vi sinh vật gây bệnh. Khi
con người sử dụng lương thực và thực phẩm này sẽ bị ngộ độc có thể dẫn đến
chết người, gây ra những bệnh ung thư và hiểm nghèo khác.
Chính vì thế mà các kim loại nặng là đối tượng nghiên cứu với nhiều
lĩnh vực và mục đích khác nhau. Nghiên cứu phức chất của cadimi (II), đồng
Khóa luận tốt nghiệp
học là khá phổ biến. Đề tài này chỉ nghiên cứu sự tạo phức Cd (II), Cu (II) với
thuốc thử EBT nhưng khi nghiên cứu các nguyên tố khác có thể tiến hành
tương tự.
Khóa luận tốt nghiệp
-2-
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGUYÊN TỐ ĐỒNG [1][2][6][9]
1.1.1. Vị trí, tính chất, cấu tạo của đồng
1.1.1.1. Vị trí, cấu tạo
Kí hiệu hóa học: Cu
Số thứ tự: 29
Cấu hình electron: [Ar]3d104s1
Thuộc chu kỳ 4, nhóm IB
1.1.1.2
Tính chất vật lý của đồng.
Đồng là kim loại màu đỏ (đồng tấm có màu đỏ, đồng vụn có màu đỏ
gạch), mềm, dẻo, dễ kéo dài, dễ cán thành lá mỏng. Đồng kết tinh ở dạng lập
phương tâm diện, có độ dẫn điện và dẫn nhiệt tốt. Đồng tinh khiết có độ dẫn
Năng lượng ion hóa
7,72 eV
thứ nhất (I1 - eV)
Nhiệt độ sôi
25430C
Năng lượng ion hóa
20,29 eV
thứ hai (I2 - eV)
Nhiệt thăng hoa
339,6 KJ/mol Thế điện cực
0,337 eV
(Cu2+/Cu)
Tỷ khối
Khóa luận tốt nghiệp
8,93 g/cm3
-3-
Độ âm điện
2CuO
Trong không khí khô, đồng bị biến đổi nhưng trong không khí có chứa
CO2 thì đồng bị bao phủ một lớp mỏng màu xanh của muối cacbonat bazơ
Cu2(OH)2CO3 (gỉ đồng này được gọi là tanh đồng).
Khi đun nóng trong không khí ở nhiệt độ 130oC, đồng tạo nên ở trên
mặt một màng Cu2O và CuO, và ở nhiệt độ nóng đỏ đồng cháy tạo nên oxi và
cho ngọn lửa màu lục.
Đồng phản ứng trực tiếp với lưu huỳnh. Khi nung hỗn hợp bột mịn
đồng và lưu huỳnh tạo ra Cu2S đồng thời cũng tạo ra CuS:
2Cu
+
Khóa luận tốt nghiệp
S
Cu2S
-4-
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Cu
+
Cu + 2H2SO4 đặc → CuSO4 + SO2↑ + 2H2O
Đồng không tác dụng với dung dịch axit loãng, nhưng tác dụng với
dung dịch HI giải phóng H2 và tạo CuI (ít tan).
2Cu + 2HI → 2CuI↓ + H2↑
Khóa luận tốt nghiệp
-5-
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
Đồng tác dụng với HCN đậm đặc giải phóng H2 tạo anion phức bền:
2Cu + 4HCN → 2H[Cu(CN)2] + H2↑
*Với kiềm:
Đồng không phản ứng với kiềm ngay cả kiềm nóng chảy. Nhưng khi có
= 0,4V nên đồng phản ứng với dung dịch
mặt của oxi vì
amoniac tạo ra [Cu(NH3)4]2+.
2Cu + O2 + 8NH3 + H2O → 2[Cu(NH3)4](OH)2
*Với KCN:
Khi có mặt oxi, đồng phản ứng tạo ra phức chất:
2Cu + O2 + 8KCN + 2H2O → 2K2[Cu(CN)4] + 4KOH
1.1.2. Tính chất chung các hợp chất của đồng
Cu(OH)2 + 2OH-
[Cu(OH)4]2-
Đồng (I) hiđrôxit tách ra ngay từ dung dịch axit và chuyển nhanh thành
Cu2O. Trong dung dịch CuOH tự oxi hóa – khử thành Cu2+, Cu.
2CuOH↓ + 2H+
Khóa luận tốt nghiệp
Cu2+ + Cu↓ + 2H2O
-6-
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
1.1.2.2. Tính chất tạo phức
Các phức chất Cu (I) với Cl-, NH3, CN-, S2O32- đều không màu.
Phức chất của Cu (I) với NH3 tương đối bền (lgβ1 = 5,9; lgβ2 = 10,36).
Phức chất của Cu(I) với CN- rất bền (lgβ2 = 24; lgβ3 = 28,6; lgβ4 =
30,3) đến mức các muối sunfat của Cu (I) không thể kết tủa khi có CN- dư.
Các phức của Cu2+ và các phối tử khác thường có màu đặc trưng (xanh,
vàng, nâu).
Phức màu Cu2+ với NH3 màu xanh đậm, thường dùng để phát hiện Cu2+
khi có nồng độ quá bé, tuy vậy độ bền của phức không quá lớn.
chọn lọc thấp, thích hợp cho các mẫu có hàm lượng chất lớn 10-1 – 10-3M và
có thể sai số do sử dụng chất chỉ thị không thích hợp hoặc do kĩ thuật chuẩn
độ gây ra…
Có thể xác định theo hai phương pháp: Chuẩn độ tạo phức và chuẩn độ
oxi hóa - khử:
Chuẩn độ tạo phức: Dùng EDTA chỉ thị murexit, môi trường đệm
ammoniac (pH = 8), tốt hơn dùng dung dịch ammoniac đặc (pH = 11). Phản
ứng kết thúc khi dung dịch chuyển từ màu vàng sang màu tím.
Trước chuẩn độ:
Cu2+ + 4NH3
[Cu(NH3)4]2+
H5In + NH3
H4In- + NH4+
[Cu(NH3)4]2+ + H4In-
Cu(H2In)- + 2NH4+ + 2NH3
Khi chuẩn độ:
[Cu(NH3)4]2+ + H2Y2-
CuY2- + 2NH4+ + 2NH3
Cu(H2In)- + H2Y2-
CuY2- + H4In-
Phương pháp cực phổ là phương pháp dựa trên sự khử các ion kim loại,
xảy ra trên điện cực ở các thế khác nhau (catot Hg hoặc trên catot khác), nhờ
việc theo dõi sự biến đổi giữa cường độ dòng điện và thế trong quá trình điện
phân khi chất phân tích chuyển đến điện cực chỉ bằng khuếch tán. Tín hiệu
thu được (cường độ dòng điện phân) sẽ cho kết quả phân tích định lượng vì
cường độ dòng có quan hệ với nồng độ chất phản ứng điện cực.
Với phương pháp này, ta có thể dùng dung môi nước hoặc khác nước.
Khoảng tối ưu của nồng độ cho phép đo cực phổ là 10-5M. Các dạng khác
nhau của phép đo cực phổ có thể cho phép xác định các nồng độ ở mức n.10-3
μg/ml. Thể tích có thể tiến hành phân tích dung dịch là 1 – 2 ml, thậm chí
trong một giọt dung dịch (ứng với sự xác định lượng chất từ một vài miligam
đến vài nanogam). Sai số tương đối từ 2 – 3% (so với các phương pháp khác).
Việc phân tích định lượng dựa theo phương trình:
Id = 607.n.D1/2.m2/3.t1/6.C
Trong đó: Id là cường độ dòng khuếch tán giới hạn (μA)
n là số electron tham gia phản ứng điện cực
D là hệ số khuếch tán (cm2/s)
m là tốc độ chảy của giọt Hg (mg/s)
t là chu kì giọt (s)
C là nồng độ chất phân tích (mM)
Trong cùng một điều kiện thí nghiệm thì 607.n.D1/2.m2/3.t1/6 = K, do đó:
Khóa luận tốt nghiệp
-9-
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
- 10 -
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
Quá trình phân tích theo phương pháp Von – Ampe gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn làm giàu và giai đoạn hòa tan.
Việc phân tích định lượng dựa trên phương trình: Ip = K.C
Ip là cường độ dòng hòa tan
K là hệ số tỉ lệ
C là nồng độ chất phân tích
Phương pháp Von – Ampe hòa tan có nhiều ưu điểm. Nó có khả năng
xác định đồng thời nhiều kim loại ở những nồng độ cỡ vết và siêu vết. Thiết
bị của những phương pháp này không đắt, nhỏ gọn, quy trình phân tích đơn
giản.
Phương pháp Von – Ampe hòa tan thích hợp xác định đồng trong các
loại nước thiên nhiên, nước sạch và có thể đồng thời xác định nhiều kim loại
như: Cu, Pb, Cd, Zn.
Khi dùng điện cực giọt Hg cần chú ý đến các yếu tố: Nền cực phổ (chất
điện ly trơ), nhiệt độ của dung dịch, hàng số mao quản của điện cực…
Để xác định đồng dùng nền NH3, pyriđin…
b. Phương pháp quang học
- Phương pháp trắc quang
Phương pháp trắc quang là phương pháp dựa trên việc đo độ hấp thụ
năng lượng ánh sáng của một chất xác định ở một vùng phổ nhất định. Trong
thích). Nguyên tử chỉ tồn tại ở trạng thái kích thích trong thời gian ngắn (10-7
– 10-8s), sau đó sẽ tự quay về trạng thái năng lượng thấp hơn và giải phóng ra
năng lượng ∆E. Năng lượng ∆E được nguyên tử giải phóng dưới dạng các
lượng tử ánh sáng (các bức xạ) tạo ra phổ phát xạ nguyên tử.
Phương pháp này có ưu điểm phân tích nhanh, hàng loạt, tốn ít mẫu, độ
nhạy, độ chính xác cao, phân tích được nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu.
Cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng như độ nhớt dung dịch, sự chen
lấn vạch phổ và sự ion hóa các nguyên tố lạ. Để có thể hạn chế các ảnh hưởng
trên và làm giảm sai số, người ta thêm vào dung dịch các chất có thể kích phát
xạ nhỏ hơn thế phát xạ của nguyên tố phân tích hoặc thêm vào dung dịch các
phụ gia có thế ion hóa nhỏ hơn thế ion hóa của nguyên tố phân tích.
- Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử
Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử dựa vào khả năng hấp thụ chọn lọc
các bức xạ cộng hưởng của nguyên tử ở trạng thái tự do. Đối với mỗi nguyên
Khóa luận tốt nghiệp
- 12 -
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
tố, vạch cộng hưởng thường là vạch quang phổ nhạy nhất của phổ phát xạ
nguyên tử của chính nguyên tố đó. Thường thường, khi hấp thụ bức xạ cộng
hưởng, nguyên tử sẽ chuyển trạng thái ứng với mức năng lượng cơ bản nhất,
người ta gọi đó là bước chuyển cộng hưởng và tạo ra phổ hấp thụ nguyên tử.
Phương pháp phổ nguyên tử có độ nhạy cao. Đối với một nguyên tố, phương
Khoa Hóa học
Hiện nay, để phân tích các kim loại như đồng, chì… người ta dùng chủ
yếu phương pháp sắc ký lỏng cao áp.
1.2.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CADIMI [1][2][4][6][9]
1.2.1. Vị trí, tính chất, cấu tạo của cadimi
1.2.1.1. Vị trí, cấu tạo
Ký hiệu hóa học: Cd
Khối lượng nguyên tử: M = 112,41
Số thứ tự: 48
Cấu hình Electron: [Kr]4d105s2
Trong các hợp chất cadimi đều thể hiện số oxy hóa: +2
1.2.1.2. Tính chất vật lý
Là kim loại màu trắng bạc, để lâu trong không khí bị mất tính ánh kim
do tạo lớp màng oxit.
Là kim loại mềm dễ nóng chảy.
Một số hằng số vật lý của Cadimi(Cd)
Bán kính kim loại: 1,56 A0
Bán kính ion Cd2+: 0,99 A0
Năng lượng ion hóa thứ nhất (I1): 8,991 eV
Thế chuẩn Cd 2+/Cd: -0,42 V
Hàm lượng trong vỏ trái đất: 8,10-6 %
Trong tự nhiên Cadimi có 8 đồng vị bền, trong đó phổ biến nhất là các
đồng vị 114Cd (28%), 112Cd (24,2%). Ngoài ra còn có các đồng vị khác: 106Cd,
108
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
1.2.1.3. Tính chất hóa học
Cd bền ở nhiệt độ thường vì có màng oxit bảo vệ, nhưng ở nhiệt độ cao
cháy trong oxy với ngọn lửa màu đỏ thẫm cho oxit:
2Cd + O2 → 2CdO
Vì vậy, Cd được dùng để bảo vệ các kim loại không bị gỉ, Cd được
dùng để mạ các chi tiết của ôtô, xe tăng, tàu thủy...
Cd tác dụng được với các phi kim: X2 (halogen), S, P... để tạo thành
các muối tương ứng.
Cd bền với nước ở nhiệt độ thường vì có màng oxit bảo vệ.
Cd có tác dụng được với các axit mạnh như HNO3, H2SO4 đặc, cho các
sản phẩm oxi hóa như: NO2, N2..., SO2, H2S...
1.2.2. Tính chất chung các hợp chất của Cadimi
1.2.2.1. Tính chất axit – bazơ
Ion Cd2+ không màu, dung dịch nước có phản ứng axít yếu:
Cd2+ + H2O
Cd(OH)+ + H+
lg*β1= -7,26
Cd2+ + H2O
Cd(OH)2 + H+
(CCl4, C6H6, CHCl3 …)
Phức với đithizon (Cd(HDZ)2 chiết được bởi các dung môi CCl4,
CHCl3...
1.2.3. Ảnh hưởng của ion Cd2+ đến môi trường và sức khỏe con người
1.2.3.1. Nguồn gốc gây ô nhiễm Cd(II) đối với môi trường
Cadimi xâm nhập vào môi trường qua nguồn tự nhiên và nhân tạo.
Tự nhiên: Bụi núi lửa, lửa cháy rừng và đá bị phong hóa là nguồn gốc
tự nhiên chính gây ô nhiễm cadimi cho môi trường.
Nhân tạo: Công nghiệp luyện kim, lọc dầu gây ô nhiễm cadimi mạnh
nhất, ngoài ra đốt cháy than và các vật liệu thải rắn cũng gây ô nhiễm Cd2+.
1.2.3.2. Cadimi với sức khỏe con người
Cadimi xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua con đường thức ăn được
trồng trên đất chứa cadimi, hoặc sử dụng các động vật thủy sinh nhiễm độc
Cd2+. Ngoài ra, cơ thể còn hấp thụ cadimi từ trong bụi có trong không khí, hút
thuốc cũng là nguyên nhân gây nhiễm độc cadimi.
Cadimi được tích lũy trong một số cơ quan nhất định của cơ thể như
thận và xương. Những người sống ở vùng nhiễm cadimi ở Nhật, hoặc sử dụng
lâu dài lúa gạo được trồng ở đất bị nhiễm cadimi gây bệnh viêm nhiễm thận
(itai – itai) hoặc (ouch – ouch) gây giòn xương.
Nhiễm độc cadimi gây ra bệnh ung thư, tùy thuộc vào mức độ nhiễm sẽ
bị ung thư phổi, thủng vách ngăn mũi, đặc biệt là gây tổn thương thận.
Lượng đưa vào cơ thể hàng tuần có thể chịu đựng được là 7μg/kg.
Như vậy nồng độ cadimi trong nước lớn hơn 10 -6M là có thể gây nhiễm
độc cho người.
1.2.4. Các phương pháp xác định Cd2+
Phương pháp chuẩn độ kết tủa
Khóa luận tốt nghiệp
- 16 -
như sau:
NO2
O
S
O Na
O
N
N
HO
OH
Công thức phân tử: C20H12N3NaO7S
Khóa luận tốt nghiệp
- 17 -
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
Khối lượng phân tử: 461,39 đvC
Tên quốc tế: 3 – hyđroxy – 4(1- hyđroxy – 2 – naphtylazo – 7 – nitro –
1 – sunfonat naphtalen natri).
EBT trong dung dịch bị oxi hóa chậm bởi các chất oxi hóa, đặc biệt khi
có mặt của Mn hoặc Cs chất chỉ thị mất màu rất nhanh.
1.3.2. Khả năng tạo phức
EBT có khả năng tạo phức màu với nhiều ion kim loại khác nhau. EBT
tạo phức màu với gần 30 nguyên tố, tuy nhiên chỉ có một số trường hợp được
ứng dụng trong chuẩn độ trực tiếp bằng EDTA đó là Ca, Mg, Cd, Zn, Pb.
Khóa luận tốt nghiệp
- 18 -
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
Thường các phức chất được tạo thành chứa ion kim loại và EBT theo tỉ
lệ 1:1. Ngoài ra, người ta cũng xác định các nguyên tố Mn, Co, Ni, Zn, Cu
còn có thể tạo phức theo tỉ lệ 1:2
1.3.3. Ứng dụng
Những ứng dụng chủ yếu của EBT từ trước tới nay đều dựa trên khả
năng tạo phức với nhiều ion kim loại. Bằng nhiều phương pháp khác nhau,
người ta đã sử dụng EBT để xác định nhiều ion kim loại cũng như ứng dụng
để xác định hàm lượng các chất hữu cơ khác.
Những năm gần đây, EBT được sử dụng trong phương pháp trắc quang
để xác định lượng vết, siêu vết kim loại: Xác định hàm lượng Mg, Ca trong
nước ở điều kiện pH = 11,6, môi trường đệm amoniac có mặt trietanplamin:
Mg: 7
Co: 20
Mn: 9,6
Cu: 21,38
Cd: 12,7
Ba: 3
Zn: 200
1.4. CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU MỘT PHỨC MÀU THEO PHƯƠNG
PHÁP TRẮC QUANG
Để nghiên cứu một phức màu theo phương pháp trắc quang ta thực hiện
các bước sau:
1.4.1. Nghiên cứu hiệu ứng tạo phức [9]
Ví dụ: Phương trình phản ứng tạo phức đơn ligan (bỏ qua điện tích ion)
M + qHR
MHq + qH
Kcb
Tương tự tạo phức đa ligan (2 ligan hay nhiều hơn)
M + qHR + pHR’
MRqR’p + (q + p)H
ion kim loại, nồng độ thuốc thử hằng định, chọn bước sóng λmax của phức.
Dùng dung dịch axit, bazơ thích hợp để điều chỉnh pH từ thấp đến cao
(không nên dùng dung dịch đệm vì thường có anion là ligan tạo phức).
Xây dựng đồ thị A = f(pH)
Vùng pH tối ưu là vùng pH ở đó mật độ quang đạt giá trị cực đại.
Vùng này càng rộng thì chỉnh pH tối ưu cho phép càng lớn.
1.4.5. Lực ion
Khi lực ion thay đổi mật đọ quang cũng có thể thay đổi, tuy không
đáng kể. Khi nghiên cứu định lượng về phức ta thường phải tiến hành ở lực
ion hằng định bằng cách dùng một muối trơ mà không có khả năng tạo phức
với kim loại.
1.5.
CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN CỦA PHỨC
[9]
1.5.1. Phương pháp tỉ số mol
Bản chất của phương pháp là thiết lập sự phụ thuộc A vào nồng độ của
một thành phần nào đó khi nồng độ thành phần kia cố định.
Cách tiến hành:
Với phản ứng tạo phức:
mMen+ + nRm- → MemRn
Chuẩn bị dãy trung bình màu sao cho nồng độ CM = const, CR khác
nhau và tăng dần ở điều kiện tối ưu.
Đo mật độ quang A của các dung dịch rồi biểu diễn sự phụ thuộc
A = f(CR/CM) hoặc A = f(CM/CR).
Khóa luận tốt nghiệp
- 21 -
a
a
a…
CR
b
b1
b2
b3
b4
b5…
A
A1
A2
A3
A4
- 22 -
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
Tiến hành đo mật độ quang của các dung dịch. Sau đó xây dựng đồ thị
biểu diễn sự phụ thuộc:
Giả sử ta có:
TN
1
2
3
4
5
6
7
7
6
5
4
3
2
1
A
A1
A2
A3
A4
A5
A6
A7
Lương Thị Cẩm Tú – K35B Hóa
Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa Hóa học
Phương pháp này cho phép xác định chính xác hệ số hấp thụ phân tử ɛ
và hằng số cân bằng Kp của phản ứng tạo phức, dựa trên cơ sở giải phương
trình của hai ẩn số đối với hai hay nhiều thí nghiệm. Phương pháp này đòi hỏi
phải biết chính xác dạng của phản ứng hay thành phần của phức được xác
định một cách độc lập.
Giả sử phức được tạo thành theo phương trình phản ứng sau:
Men+ + qHR →
+ qH+
Nồng độ ban đầu: C
qC
0
0
Nồng độ cân bằng: C – x
q(C – x) x
Khoa Hóa học
→ xi =
Ta có:
(2)
Tương tự với thí nghiệm thứ j ta có:
(3)
Chia phương trình (2) cho (3) ta được:
(4)
Đặt:
B=
(5)
B xác định được vì q, l, ɛHR, ∆Ai, Ci, Cj đã biết và Ci = nCj
Từ (4) và (5) ta có:
(6)
Từ ɛHR thay vào (5) tìm được B. Thay B vào (6) tìm được ɛHRq. Lấy
ɛHRq và ɛHR thay vào xi, sau đó thay xi vào (2) tìm được Kcb.
1.6.2.
Ph
ương pháp tỉ số mol
Nếu thành phần của phức MemRn và giá trị mật độ quang giới hạn (Agh)
có thể xác định trực tiếp từ đường cong bão hòa (tỉ số mol) thì từ số hiệu này