Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo, thạc sĩ Nguyễn Thị Chúc. Sự hướng dẫn
nhiệt tình, chu đáo, đầy tinh thần trách nhiệm của cô đã giúp em hoàn thành
đề tài nghiên cứu khoa học này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Tâm lý – Giáo dục,
trường ĐHSP – ĐHTN đã góp ý và tạo điều kiện giúp em hoàn thành đề tài
nghiên cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên lớp GDTC K44B và lớp GDTC
K45C, trường ĐHSP – ĐHTN đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ tôi trong quá
trình điều tra.
Do điều kiện và năng lực còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những sai
sót. Kính mong các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn góp ý để đề tài này
hoàn thiện hơn.
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2011.
Tác giả đề tài.
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- BGD
: Bộ giáo dục.
- ĐHSP
: Đại học Sư phạm.
- ĐHTN
- THPT
: Trung học phổ thông.
- TNCS
: Thanh niên cộng sản.
2
MỤC LỤC
Trang.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3.2. Khách thể nghiên cứu
4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.2. Khách thể nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức
1.1.1. Nhận thức là gì?
1.1.2. Các giai đoạn nhận thức
1.1.3. Vài nét về đặc điểm nhận thức của sinh viên
1.2. Ma túy
tuý
2.2.3. Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về các chất ma tuý
2.2.4. Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về tác hại của ma
túy
2.2.5. Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về những dấu hiệu
nhận biết người nghiện ma tuý
2.2.6. Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về nguyên nhân
dẫn đến nghiện ma tuý
4
2.2.7. Nhận thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về các biện pháp
phòng, tránh ma tuý.
2.3. Các nguồn thông tin giúp sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN có hiểu
biết về ma tuý
KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
2. Ý kiến đề xuất
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
TẬP HÌNH ẢNH MỘT SỐ CHẤT MA TÚY THƯỜNG GẶP
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn 20 năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý. Một trong số đó
phải kể đến nguyên nhân về nhận thức. Số người nghiện ma tuý là thanh
niên, sinh viên chiếm tỉ lệ cao, mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu kỹ năng
sống, không nhận thức được đầy đủ tác hại của ma tuý.
Sinh viên ở các trường Đại học Sư phạm nói chung và sinh viên
trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên nói riêng, mặc dù được
trang bị những tri thức cơ bản về ma tuý, tác hại của ma tuý và cách phòng
tránh ma tuý qua một số môn học nhưng không phải ai cũng có nhận thức
đầy đủ, đúng đắn.Vẫn còn nhiều sinh viên chưa có nhận thức đầy đủ về vấn
đề ma tuý.
Trước tệ nạn ma tuý đang là một hiểm hoạ xã hội, chúng ta không thể
thờ ơ mà phải hành động để xây dựng một môi trường xã hội nói chung và
môi trường Sư phạm nói riêng trong sạch, lành mạnh. Vì vậy, cần giúp sinh
viên có những hiểu biết đúng đắn về ma tuý, để bảo vệ bản thân và góp phần
tích cực vào việc bài trừ ma tuý ra khỏi cuộc sống.
Kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của những đề tài trước
cùng với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nhận thức của sinh viên trường
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý” để nghiên cứu
nhằm góp phần nâng cao nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý, từ đó giúp sinh viên có kỹ năng
phòng, tránh ma tuý.
7
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm
- Đại học Thái Nguyên về vấn đề ma tuý. Trên cơ sở đó, đề xuất một số ý
kiến nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về vấn đề ma tuý và cách
phòng tránh ma tuý.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương
pháp:
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc và tham khảo các tài liệu,
giáo trình Tâm lý học, Giáo dục học, các báo, luận văn có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi, trò chuyện với sinh viên để thu
thập thông tin, làm rõ vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra bằng Anket: Chúng tôi xây dựng một hệ
thống câu hỏi đóng và mở, tiến hành điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng nhận
thức của sinh viên trường ĐHSP – ĐHTN về vấn đề ma tuý.
* Nhóm phương pháp toán học
Chúng tôi sử dụng một số công thức toán học để xử lý số liệu thu được, đảm
bảo tính khách quan của đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương
pháp điều tra bằng Anket là phương pháp chủ yếu, các phương pháp khác
đóng vai trò bổ trợ.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức
1.1.1. Nhận thức là gì?
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhận thức.
- Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Nhận thức là quá trình
hoặc kết quả phản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người
liên hệ, quan hệ của bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách
quan.
Nhận thức là một cơ chế tâm lý đi trước trong hành vi có ý thức, có mục
đích của mỗi người. Nó là cơ sở để lựa chọn các cách thức hành động, hình
thành tính tích cực, thế giới quan, niềm tin của mỗi người.
Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhận thức. Trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi lấy khái niệm về nhận thức dưới góc
độ Tâm lý học làm khái niệm công cụ.
1.1.2. Các giai đoạn của nhận thức
Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt đến những mức độ
nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Hoạt động
nhận thức của con người bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực khách
quan với những mức độ phản ánh khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư
duy, tưởng tượng) và mang lại cho ta những sản phẩm khác nhau (hình ảnh,
hình tượng, biểu tượng, khái niệm…).
Căn cứ vào tính chất phản ánh, có thể chia toàn bộ hoạt động nhận
thức thành hai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
- Nhận thức cảm tính: Đây là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong hoạt động
nhận thức của con người. Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ
phản ánh những thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang
trực tiếp tác động vào các giác quan. Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá
trình: Cảm giác và tri giác.
11
Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ
của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta.
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc
tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác
Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có
của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái
tạo lại sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm,
hành động hay suy nghĩ trước đây.
Trí nhớ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý của con người, nó phản
ánh kinh nghiệm của con người ở mọi lĩnh vực, giúp con người đáp ứng
những yêu cầu ngày càng cao của cá nhân và của toàn xã hội.
1.1.3. Vài nét về đặc điểm nhận thức của sinh viên
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ chữ Latinh “student” – những
người làm việc, tìm kiếm, khai thác tri thức.
Sinh viên là những người có độ tuổi từ 18 đến 25, đang học ở các
trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp.
Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội, là lớp người đang được
chuẩn bị cho hoạt động trong lĩnh vực nhất định. Họ là người có học vấn
cao, bổ sung cho đội ngũ cán bộ của đất nước trong tương lai.
Đây là thời kỳ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất cũng như nhận
thức, trí tuệ. Sinh viên là lớp người đang từng bước tích luỹ tri thức về mọi
lĩnh vực. Sinh viên có thể xử lý các vấn đề của hiện thực khách quan bằng
nhận thức lý tính nhiều hơn nhận thức cảm tính nên hiệu quả cao hơn.Trong
thời kỳ này, sinh viên có sự biến động mạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xã
hội có liên quan đến nghề nghiệp.
Nhận thức của sinh viên diễn ra từ mức độ thấp là cảm giác đến mức
độ cao là tư duy. Nét đặc trưng cho hoạt động nhận thức của sinh viên là họ
có thể hoạt động trí tuệ tập trung, có thể tiến hành hoạt động tư duy với sự
phối hợp của nhiều thao tác: Phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá,
khái quát hoá…. Họ đi sâu vào tìm hiểu những môn học, những chuyên
nghành khoa học cụ thể để nắm vững đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp,
13
- Theo tổ chức Liên Hợp Quốc (UNODC): Ma tuý là các chất có
nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi thâm nhập vào cơ thể con người sẽ gây
ra tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó.
Nếu sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người đó lệ thuộc vào nó,
dẫn đến tổn thương và gây nguy hại cho cá nhân, cộng đồng.
- Theo Hiến pháp Việt Nam:
+ Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày
21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ 1/6/2000 quy định về ma tuý như sau:
Ma tuý bao gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cola, heroine, cocaine,
các chất ma tuý khác ở thể lỏng và ở thể rắn.
+ Luật phòng chống ma tuý được Quốc hội thông qua ngày
9/12/2000 có hiệu lực từ ngày 1/6/2000, tại điều 1 khoản 2 quy định: Chất
ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các
danh mục do chính phủ ban hành.
+ Trong điều 2 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự
năm 1985 đã quy định một số chất ma tuý cụ thể thường gặp như: Heroine,
cocaine, nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cola. Ngoài ra, trong điều luật
còn quy định các chất ma tuý khác ở thể rắn hoặc thể lỏng mà không liệt kê
cụ thể đó là chất gì. Vì vậy, cần phải hiểu các chất ma tuý khác là các chất
được quy định cụ thể trong công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý mà Việt
Nam đã tham gia.
- Theo pháp luật của Trung Quốc: Uỷ ban thường vụ quốc hội về việc
chống ma tuý ngày 28/2/1990 quy định tại điều 1: Các chất ma tuý gồm
thuốc phiện, heroine, morphine, marijuana, cocaine, các chất gây nghiện
khác và các chất hướng thần đặt dưới sự kiểm soát của các quy định của
quốc vụ viện.
Như vậy, ma tuý là một chất độc, gây nghiện và bị pháp luật cấm sử
dụng, cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ.
cuốn sách "Dược điển luận" của mình. Tuy nhiên ở thời kỳ này, người ta
mới chỉ chú trọng đến những khoái cảm, những tác dụng trong chữa bệnh
16
mà thuốc phiện mang lại chứ chưa chú ý tới mặt trái của nó, đó là tác dụng
gây nghiện khó cai.
- Năm 1935 người ta mới phát hiện tính chất kích thích của
Amphetamine và được dùng để điều trị chứng ngủ rũ.
- Năm 1960, một số nước đã tổng hợp được LSD (Lysergic Acid
Diethylamide).
1.2.3. Phân loại ma tuý
Có nhiều cách phân loại ma tuý.
* Theo mức độ gây nghiện:
Ma túy gồm 3 loại sau :
- Loại mạnh: Thuốc phiện, heroine, cocaine...
- Loại trung gian: Morphine, dolargan, nôvôcain, atropine...
- Loại nhẹ: Thuốc lá, tài mà, thuốc lào Canada (còn gọi là cỏ Malay,
pin), thuốc lào ẢRập (còn gọi là shisha)...
* Theo Liên Hợp Quốc:
Ma tuý gồm 5 nhóm sau :
- Nhóm ma tuý là các chất từ cây thuốc phiện (opiates) .
- Nhóm ma tuý là các chất từ cây cần sa (cannabis) .
- Nhóm ma tuý là các chất kích thích (stimulats) .
- Nhóm ma tuý là các chất ức chế (depressants) .
- Nhóm ma tuý là các chất gây ảo giác (hallueinogent).
17
hashish;
phencyclidine (PCP); thuốc có thể hoà tan và thuốc hít: Keo dán, chất để pha
loãng sơn...
1.2.4. Một số chất ma tuý thường gặp
1.2.4.1. Thuốc phiện (opium)
- Cây thuốc phiện (cây anh túc) là loại cây thân cỏ, thân thẳng đứng,
cao từ 1 - 1,5m, mọc ở nơi khí hậu mát, thích hợp với đất sét vôi. Nó có từ 8
- 12 nhánh phụ, mỗi nhánh có 1 bông hoa nhiều màu sắc, từ hoa sinh ra quả.
Nhựa từ quả gọi là thuốc phiện sống. Còn có tên là nha phiến, á phiện...
Trong thuốc phiện có morphine, công dụng chính là giảm đau, gây ngủ.
- Nhựa thuốc phiện thường được dùng để hút. Lúc đầu hút vào thấy
có sự khoái lạc, tạo cảm giác hưng phấn, làm giảm đau nhức, mệt mỏi.
Nhưng càng hút thì càng ngày càng phải tăng liều mới đạt được cảm giác
như lần trước. Dần dần người hút bị suy sụp, mất hết nghị lực, không còn ý
chí và cảm giác. Hơn thế, ở người sử dụng ma tuý, hút thuốc phiện còn xuất
hiện các biến chứng như: Viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính, táo bón dai
dẳng, phát ban ngoài da, tiểu tiện ra abumin, thường hay bị sưng phổi, mạch
đập chậm và không đều. Nguy hiểm hơn là khi không có thuốc, người sử
dụng ma tuý phải nạo xái trong ống thuốc ra để hút, hút xái độc hơn vì nó
có khoảng 80 - 90% chất morphine.
19
Hình 1 - Quả thuốc phiện (poppy head)
1.2.4.2. Morphine
- Ðây là hoạt chất chính của thuốc phiện. Morphine dạng bột: Kết
tinh màu trắng, không mùi, vị đắng và chua, dễ chuyển màu xám dưới ánh
sáng và không khí. Morphine dạng nước: Không màu, có mùi khai của
được sử dụng bằng cách: Hút (trộn với thuốc lá), hoặc hít (để lên tờ giấy
bạc, hơ lửa cho heroine bốc khói và hít khói; nặng hơn thì không cần hơ mà
hít thẳng vào mũi); hoặc chích (pha vào nước chích vào tĩnh mạch hay động
mạch).
- Heroine thường được chế biến thành 2 loại: Loại bột trắng hồng, xốp
như bông gọi là "heroine 4" (còn gọi là bạch phiến) dùng để chích vào tĩnh
mạch. Loại bột màu nâu hồng gọi là "heroine 3" dùng để hút, hít.
- Dùng heroine lần đầu sẽ có cảm giác mơ màng, khoan khoái, quên
mọi khổ đau, bi thương... Nhưng khi cơn nghiện đến mà không có heroine,
cơ thể sẽ bị đau co thắt. Nếu dùng quá liều heroine thì người sẽ bị tê liệt thần
kinh, hôn mê và có thể chết sau vài phút. Nghiện heroine làm cho con người
thay đổi về tính cách, trở nên cô độc, thù ghét đồng loại, mất khả năng sinh
dục; dễ gây ra các hành vi vi phạm pháp luật.
21
Hình 2 - Heroine
1.2.4.5. Keo dán, thuốc lào Canada, thuốc lào Ả rập
* Keo dán:
- Các loại keo dán (gỗ, nhựa, kim loại) bao gồm 2 thành phần chính:
chất kết dính (polymer) và dung môi, trong đó dung môi đóng vai trò hoà tan
và pha loãng chất kết dính và là một chất dễ bay hơi.
- Việc hít keo (dung môi hữu cơ) thường được tiến hành bằng các cách
sau đây: hít trực tiếp bằng mũi hoặc bằng miệng từ các chai lọ đựng dung
môi hoặc keo dán; tẩm dung môi trên vải, và sau đó chụp lên mũi và miệng;
cho dung môi hoặc hỗn hợp keo dán có chứa dung môi vào túi nhựa và sau
đó chụp lên mũi, miệng hoặc trùm qua đầu.
- Có nhiều loại keo dán khác nhau nhưng có hai loại keo dán phổ biến
mà một số thanh, thiếu niên đang sử dụng đó là keo dán gỗ và nhựa. Kết quả
- “Pin” được chế biến dưới dạng sợi thuốc gói trong túi nylon hoặc ép
thành bánh để người sử dụng cắt ra, bóp vụn rồi quấn vào giấy để hút, kèm
theo pin là một loại giấy có tên là OCB dùng để quấn thuốc, phần tẩu thuốc
thường được làm bằng vỏ thuốc lá Vinataba.
- Sử dụng loại thảo dược này sẽ kích thích đến não người sử dụng ở
mức độ nhẹ hơn ma túy. Sau khi hút pin, người hút bị kích thích thần kinh,
tùy theo ảo giác từng người khi như bay bổng, lúc ngồi yên đờ đẫn. Người
hút lâu dài sẽ tổn thương các tế bào não và có thể làm người sử dụng bị suy
nhược thần kinh, rối loạn nhận thức, mất khả năng tập trung.
Hình 4 - Giới trẻ sử dụng pin ma tuý
* Thuốc lào Ả rập (còn được gọi là shisha):
24
- Thành phần thuốc chủ yếu là mật ong, lá và rễ cây được ướp hương
các loại trái cây như nho, cam, táo, dâu… Shisha được hút thông qua chiếc
bình lọc giống như điếu bình.
- Hút shisha là một kiểu hút thuốc qua ống nước, phổ biến ở các quốc
gia Ảrập, trong đó những loại thảo mộc tạo mùi thơm được đốt cách nhiệt
bằng than, qua một ống nước và người dùng hít khí vào bằng ống.
- Hút shisha thường xuyên có thể làm hư hại não vì người người sử
dụng hít phải nồng độ khí CO cao.
Hình 5 – Cảnh hút shisha
(hvcsnd.edu.vn/.../680.aspx, truy cập ngày 24 / 01/ 2011 )
1.2.4.6. Ma tuý tổng hợp
- Là chất ma tuý được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hoá học
toàn phần từ các hoá chất (được gọi là tiền chất). Điển hình là amphetamine.