1
CÔNG TRÌNH DỰ THI
“GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU
KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH 2010”
Tên công trình:
TÁC ĐỘNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN, TIỀM LỰC TÀI
CHÍNH VÀ GIA CẢNH CÁ NHÂN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA
CHỌN NGHỀ NGHIỆP: LÀM CHỦ HAY LÀM THUÊ
Họ và tên sinh viên: Lê Thanh Hà
Nguyễn Đức Hùng
Ngô Quốc Thái
Trần Nhật Tuấn
Lớp: Kinh tế học 49 Năm thứ: 4/4
Trường: Đại học Kinh tế Quốc dân
Giáo viên hướng dẫn: T.S. Tô Trung Thành
HÀ NỘI, 2010
2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KINH TẾ QUỐC DÂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------------~--~----------- **********************
Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 2010
lượng lớn doanh nghiệp hộ gia đình (trong khu vực không chính thức), đã có rất nhiều
doanh nghiệp đăng ký mới trong thập kỷ qua là kết quả của sự ra đời Luật Doanh
nghiệp trong năm 2000 và 2005. Theo đó, số doanh nghiệp tư nhân đăng ký mới đã tăng
160.000 doanh nghiệp trong suốt giai đoạn 2000 – 2005 (Tô Trung Thành và công sự,
2009). Sự bùng nổ của những doanh nghiệp tư nhân đã hấp thụ số lượng lớn số người
thât nghiệp trong những thành phố lớn và những nông dân dư thừa ở khu vực nông thôn,
do đó đã có những đóng góp tuyệt vời cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những
năm qua (Perkins và cộng sự, 2008).
Nhận thức được tầm quan trọng của những doanh nghiệp nhỏ đối với tăng trưởng kinh
tế; chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích phát triển doanh
nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, vẫn có sự thiếu hụt những chính sách đồng bộ nhắm tới
những cá nhân đang phải đối mặt với sự lựa chọn việc trở thành doanh nhân (tự làm
chủ) hay trở thành người làm công ăn lương.
Bài nghiên cứu này của chúng tôi sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình
năm 2008 (VLSS 2008). Được tiến hành điều tra bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam
(GSO), dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng Thế giới (WB). Bao gồm 9189 hộ gia
đình với 38253 cá nhân được điều tra. Mô hình logit được sử dụng để đánh giá sự tác
động của các yếu tố tới xác suất quyết định tự làm chủ của một cá nhân. Trong đó, tập
trung xem xét ảnh hưởng của ba nhân tố: trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia
cảnh cá nhân. Chúng tôi sẽ làm rõ chiều hướng tác động và ảnh hưởng của các nhân tố
này.
Có thể thấy rằng: tổng số người trong gia đình không có ý nghĩa trong mô hình
xác suất quyết định trở thành người làm thuê nhưng có ý nghĩa trong mô hình tự làm
chủ và có tác động tích cực. Việc có vợ hoặc chồng cũng không ảnh hưởng tới quyết
định của cá nhân. Nhưng tình trạng nghề nghiệp, loại hình công việc của vợ hoặc chồng
lại có ảnh hưởng cụ thể: nếu vợ hoặc chồng là làm thuê thì tác động tích cực đến quyết
định làm thuê và làm giảm xác suất quyết định tự làm chủ của cá nhân. Nếu vợ hoặc
chồng tự kinh doanh thì sẽ có tác động tích cực, đáng kể và làm tăng xác suất quyết
định tự làm chủ. Tác động là ngược lại đối với khu vực làm thuê. Các biến vợ (chồng)
4
Tuy nhiên, bài nghiên cứu đã giải thích được chiều hướng tác động của các biến tới
quyết định lựa chọn của mỗi cá nhân mà trong bài nghiên cứu chúng tôi đã tập trung
vào ba nhóm nhân tố: Trình độ học vấn, tiềm lực tài chính và gia cảnh cá nhân. Kết quả
5
phát hiện phù hợp với mục đích nghiên cứu cũng như trong điều kiện thực tế tại Việt
Nam. Mặt khác, bộ số liệu (VLSS 2008) lần đầu tiên được chúng tôi sử dụng cho mục
đích nghiên cứu về chủ đề này. Trước đó, không có nhiều nghiên cứu về các yếu tố
quyết định đến sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân ở Việt Nam. Có ý nghĩa như là kim
chỉ nam, tài liệu hướng dẫn cho mỗi cá nhân khi quyết định tự làm chủ (làm thuê cho
chính mình) hay khởi đầu một doanh nghiệp. Bài nghiên cứu của chúng tôi phần nào bổ
xung những thiếu sót này.
6
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ........................................................................... 9
1.1. Lý do nghiên cứu ................................................................................................ 9
1.2 Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................... 10
1.2.1 Mục tiêu tổng quát ....................................................................................... 10
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ............................................................................................ 11
1.3 Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và số liệu.................................... 11
1.3.1 Phương pháp luận ........................................................................................ 11
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu. .................................................................................... 12
1.3.3 Số liệu ......................................................................................................... 12
1.3.4 Biến ............................................................................................................. 12
1.3.5 Cấu trúc của bài nghiên cứu ......................................................................... 13
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC...................................................................................................................... 14
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Tóm tắt các kết quả nghiên cứu trước................................................................... 24
Bảng 2: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm ................... 30
Bảng 3 : Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm .................. 31
Bảng 4: Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm 1/7 hàng năm
phân theo ngành kinh tế ....................................................................................................... 32
Bảng 5 : Tỉ lệ lao động có việc làm phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật phân chia
theo khu vực ......................................................................................................................... 33
Bảng 6: Tỉ trọng lao động trong nền kinh tế Việt Nam qua các năm: .............................. 34
Bảng 7 : Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô vốn đến 31/12/2007 ........................ 35
Bảng 8: Số lượng doanh nghiệp phân theo quy mô lao động đến 31/12/2007 ........................ 35
Bảng 9: Số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh sản xuất tại thời điểm 31/12 hàng năm:
............................................................................................................................................... 35
Bảng 10: Đóng góp vào GDP (tính theo %) của các khu vực: .......................................... 37
Bảng 11: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
(theo %): ............................................................................................................................... 37
Bảng 12: Thu nhập lao động theo thành phần sở hữu (đơn vị: triệu đồng) ...................... 38
Bảng 13: Cơ cấu vốn đầu tư và GDP theo thành phần kinh tế:......................................... 39
Bảng 14: Xếp hạng báo cáo môi trường kinh doanh của WB 2008 và (2009) ........................ 40
Bảng 15: Thống kê số liệu hồi quy. .................................................................................... 49
Bảng 16: Kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm chủ doanh nghiệp trong khu vực
tư nhân .................................................................................................................................. 52
Bảng 17: Kết quả hồi quy biến phụ thuộc = 1 nếu làm thuê trong khu vực tư nhân…....53
9
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do nghiên cứu
Doanh nghiệp tư nhân đã trở thành một lực lượng chính cho sự tăng trưởng kinh
đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này. Tuy nhiên, hầu hết các công việc là những
vấn đề tự làm chủ công việc của dân cư trong các quốc gia phát triển như Rees and Shah
(1986), Borjas and Bronars (1989), Evans and Leighton (1989), Constant and
Zimmermann (2006). Trong khi đó, lĩnh vực này vẫn còn đang được nghiên cứu ở các
quốc đang phát triển nói chung và đặc biệt là ở Việt Nam.
Hiện thiếu hụt nghiêm trọng các nghiên cứu về những nhân tố đằng sau sự lựa
chọn kinh doanh ở Việt Nam. Nghiên cứu của Vijverberg và Haughton (2002) là một
trong những nghiên cứu hiếm hoi về chủ đề này, nhưng các tác giả tập trung vào sự tồn
tại và tăng trưởng của những doanh nghiệp hộ gia đình, còn những nhà lãnh đạo doanh
nghiệp hoặc các doanh nhân không phải là trung tâm trong những nghiên cứu của họ.
Do đó, các yếu tố quan trọng đằng sau sự quyết định tự kinh doanh hay là làm công ăn
lương chỉ được thảo luận vắn tắt trong những nghiên cứu này. Sự thiếu sót trong những
nghiên cứu thực nghiệm này ở Việt Nam đã dẫn đến sự thiếu kiến thức về sự chọn lựa
của các cá nhân để trở thành doanh nhân và do đó chính sách hướng tới doanh nhân ở
Việt Nam đã bỏ lỡ một khía cạnh quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp tư
nhân. Có kiến thức tốt về những yếu tố quyết định tới sự lựa chọn của các cá nhân này,
các nhà chức trách có thể cung cấp thông tin phù hợp hơn, có sức thuyết phục và tập
trung hỗ trợ cho những doanh nhân tiềm năng thực sự và do đó tạo ra nhiều cơ hội hơn
cho họ để thành công trong kinh doanh.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định vai trò quan trọng của khu vực việc làm tự chủ (self-employment) và khu
vực doanh nghiệp trong thị trường lao động tại Việt Nam, nghiên cứu này cố gắng bổ
sung những khoảng trống nghiêm trọng bằng việc nghiên cứu thực nghiệm và tập trung
vào những yếu tố quyết định sự lựa chọn nghề nghiệp của những cá nhân giữa sự tự chủ
việc làm hay doanh nhân với người làm công ăn lương. Kết quả của nghiên cứu này có
thể sẽ rất hữu ích và quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách để thực hiện và đưa
ra những chính sách phù hợp cho sự phát triển doanh nghiệp và doanh nhân.
Ln Z C E F H
p
Trong đó, biến phụ thuộc: SE
i
(SE = 1, nếu cá nhân quyết định tự làm chủ; SE = 0,
nếu cá nhân quyết định làm công ăn lương). Nhóm các biến điều chỉnh trong mô hình
(C); nhóm các biến đại diện cho trình độ học vấn (E); nhóm các biến đại diện cho tiềm
lực tài chính (F); và nhóm biến đại diện cho gia cảnh cá nhân (H). 12
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.
Để có được kết quả ước lượng thuyêt phục nhất, chúng tôi sẽ cố gắng để thiết lập các
mẫu là thuần nhất có thể. Vì vậy, chúng tôi tập trung vào hành vi tiền lương nhân viên
toàn thời gian hoặc doanh nhân trong tất cả các khu vực đô thị, và do vậy loại trừ thu
nhập từ tiền lương bán thời gian, cá nhân trong những khu vực nông thôn hoặc hoạt
động trong nông nghiệp. Trên cơ sở mẫu đó, nghiên cứu sẽ tập trung vào hành vi của
những cá nhân trong khu vực thành thị trong việc quyết định trở thành người làm công
ăn lương (hưởng tiền lương toàn thời gian) hay là một doanh nhân (kinh doanh tự chủ).
1.3.3 Số liệu
Nguồn dữ liệu chính cho nghiên cứu này là cuộc khảo sát mức sống chuẩn hộ gia đình
Việt Nam (VHLSS) tiến hành năm 2008 bởi tổng cục thống kê (GSO) với sự hỗ trợ kỹ
thuật bởi Ngân hàng Thế Giới (WB). VHLSS bao gồm mẫu đại diện là 9189 hộ gia đình
tại tám khu vực địa lý của đất nước. Khảo sát này bao gồm một loạt các cá nhân và
số kỹ thuật, phương pháp luận và các biến ứng dụng trong nghiên cứu này.
Chương 4: Chương này được dành cho mô tả cẩn thận phương pháp luận, dữ liệu,
biến đo lường cụ thể cho việc phân tích và kết quả ước lượng.
Chương 5: Chương này trình bày tóm tắt các kết quả ước lượng và khuyến nghị chính
sách. Cuối cùng, các hạn chế của đề tài sẽ được nêu ra và phân tích kỹ lưỡng, đi kèm
với hướng nghiên cứu đề xuất trong tương lai.
14
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Sự thiếu hụt nghiên cứu về đề tài này ở Việt Nam cũng là nguyên nhân khiến các
tác giả thực hiện bài nghiên cứu. Đa phần các nghiên cứu mới được thực hiện ở các
nước phát triển, như của Rees và Shah (1986), Blanchflower và Oswald (1990) hay Le
(1999) về Liên hiệp Anh; Evans và Jovanovic (1989) nghiên cứu về Mỹ; Evans (1989)
và sau đó là Kidd (1993) ở Australia; de Wit và Van Winden (1993) ở Hà Lan;
Bernhardt (1994) tại Canada, Constant và Zimmermann (2006) về Đức. Trong khi đó,
lĩnh vực này vẫn còn đang được nghiên cứu ở các quốc đang phát triển nói chung và đặc
biệt là ở Việt Nam. Không có nhiều các nghiên cứu tương tự tại các nước đang phát
triển, mà trong số ít này có Cunningham và Maloney (1999) về Mexico, Earle and
Sakova (2000) về các nền kinh tế chuyển đổi hay của Destré và V. Henrard (2004) về
Colombia, Tamvada (2010) về Ấn Độ. Nghiên cứu bởi Vijverberg và Haughton (2002)
hay của Trang Do và Duchêne (2007) là hai bài viết hiếm hoi về chủ đề này ở Việt
Nam. Sau đây, chúng ta sẽ cùng điểm lại các nghiên cứu trước để xem những vấn đề gì
đã được giải quyết và nghiên cứu của chúng tôi có thể lấp khoảng trống học thuật nào.
Điểm qua một số lý thuyết về tự kinh doanh thì nhiều nghiên cứu xem xét sự khác
nhau trong thái độ với rủi ro là nhân tố tác động chính đến quyết định lựa chọn này.
Hamilton (1995) cho rằng việc tự kinh doanh vốn đã mang nhiều rủi ro hơn là làm thuê,
vì vậy mà người ghét rủi ro sẽ tránh tự đứng ra kinh doanh. Phái tân cổ điển lại chỉ ra
rằng di dân là nhóm người dám chấp nhận rủi ro để cải thiện thu nhập và cuộc sống của
wi
) + α
3
lnC
i
+ ε
i
> 0]
với lnY
ei
= Z
i
γ
e
+ ε
ei
, lnY
wi
= Z
i
γ
w
+ ε
wi
(Z
i
là vec-tơ các biến mang thông tin cá nhân).
Viết lại thì được công thức probit dạng rút gọn:
Prob (M > 0) = Prob (X
i
,M< 0) = λ
w
Z
i
+ π
w
δ
wi
+ε
wi
Destrés và Henrad (2004) trên cơ sở đó đã gợi ý sử dụng công thức của Thomas
(2000) khi mà hàm phân phối bị gián đoạn. Các vấn đề liên quan đến chi tiết kỹ thuật
của mô hình sẽ được thảo luận kỹ hơn ở chương 4. Các nghiên cứu sau đã phát triển quá
trình thực hiện thành kỹ thuật 3 bước, gồm (1): hồi quy mô hình probit rút gọn về hành
vi lựa chọn của cá nhân, sau đó (2): hồi quy ước lượng thu nhập kỳ vọng của mỗi cá
nhân (dùng mô hình 2 thời kỳ của Heckman, 1979) và (3): sử dụng các giá trị ước lượng
này để hồi quy mô hình probit cấu trúc.
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tiềm lực tài chính và gia
cảnh cá nhân có ảnh hưởng tích cực tới thiên hướng kinh doanh, nhưng ảnh hưởng của
16
giáo dục tới xu hướng quyết định lựa chọn tự làm chủ hay việc làm lương lại không rõ
ràng.
2.1. Tiềm lực tài chính
Liệu cá nhân phải tự cấp vốn cho công việc kinh doanh của mình (self-finance)
hay thị trường sẽ cấp vốn là câu hỏi còn bỏ ngỏ. Frank Knight (1921), như Evans và
Jovanovic (1989) đã dẫn, cho rằng thị trường vốn cung cấp không đủ vốn cho các cá
nhân tự đứng ra kinh doanh do lo ngại rủi ro đạo đức cũng như lựa chọn ngược, chính vì
từ đầu tư. Việc sở hữu tài sản có giá trị như ngôi nhà và vợ có việc làm hưởng lương
một mặt giảm thiểu rủi ro do sự dao động trong thu nhập từ việc kinh doanh, mặt khác
cải thiện khả năng huy động vốn. Holtz-Eakin, Joulfaian và Rosen (1994) ví von thu
nhập của người vợ có vai trò như “tấm lưới an toàn” cho công việc có tính rủi ro cao
của người chồng. Kết quả hồi quy cho thấy các biến đều có ý nghĩa thống kê cao.
Destrés và Henrad (2004) khi áp dụng mô hình tương tự cho Colombia thì chỉ có biến
thu nhập từ vốn không có ý nghĩa, do trong thống kê, giá trị của biến này trong 2 mẫu
quan sát không khác nhau nhiều trong khi ở mẫu Canada, sự chênh lệch là 3,61 lần.
Constant và Zimmermann (2006) khi nghiên cứu động lực đằng sau quyết định tự kinh
doanh của 2 nhóm dân số là di dân và bản địa ở Đức đều thấy các biến như sở hữu nhà
và sự quan ngại về tài chính dường như gia tăng khả năng trở thành doanh nhân của cả 2
nhóm. Với người đàn ông đã kết hôn thì xác suất làm chủ doanh nghiệp cũng tăng lên,
song khi có con thì lại giảm đi do trách nhiệm phải có thu nhập ổn định để nuôi cả gia
đình tăng lên.
Blanchflower và Oswald (1998) thì tiếp cận khả năng tài chính ở góc độ khoản thừa
kế hay quà biếu mà cá nhân được hưởng. Nhận thấy các nghiên cứu trước của Evans và
các cộng sự bỏ ngỏ khả năng ràng buộc tài chính còn phụ thuộc vào các yếu tố khác, hai
tác giả lập luận việc được thừa hưởng tài sản do người khác để lại cũng giúp cá nhân
khởi nghiệp kinh doanh của mình. Như vậy, kể cả khi không bị ràng buộc trong vấn đề
tài chính, vẫn có tương quan giữa tài sản sở hữu với xu hướng tự làm chủ của cá nhân.
Việc được thừa hưởng sản nghiệp của gia đình cũng có thể dùng để giải thích mối tương
quan này. Hai tác giả đi vào nghiên cứu tác động của việc thừa kế lên khả năng tự kinh
doanh giữa các nhóm tuổi và đi đến kết luận rằng việc được nhận thừa kế có ảnh hưởng
tích cực lên xác suất tự đứng ra kinh doanh của một cá nhân điển hình khi các yếu tố
khác không đổi. 18
2.2. Hoàn cảnh gia đình
quả cho thấy, nếu cha là một doanh nhân thì khả năng người con là doanh nhân cao hơn.
19
Ảnh hưởng của cỡ hộ là không đáng kể, khi cỡ hộ lớn hơn sẽ làm giảm xác suất trở
thành doanh nhân. Tương tự với cấu trúc gia đình, ảnh hưởng là không đáng kể, tuy
nhiên cá nhân cá nhân sống thiếu cả cha và mẹ thì xác suất làm chủ thấp hơn (tương tư
với ý kiến của Rhe và Sha về sự ủng hộ của gia đình). Tương tự, việc thử đưa thêm biến
có con nhỏ cũng không ảnh hưởng nhiều đến xác suất. Người độc thân có xác suất thành
doanh nhân thấp hơn cả. Tuy nhiên, đàn ông đã từng cưới – bất kể tình trạng hôn nhân
bây giờ ra sao – lại có khả năng làm chủ doanh nghiệp cao hơn.
Qua một số nghiên cứu ta thấy rằng, tác động của mỗi nhân tố lại khác nhau với
mỗi nghiên cứu. Trong khi Rees và Shah cho rằng có gia đình ảnh hưởng tích cực đến
việc trở thành doanh nhân thì Henley và đồng nghiệp lại có ý kiến trái ngược, với kết
luận của Hout M và Rosen H thì ảnh hưởng của tình trạng hôn nhân lại không rõ ràng.
Sự sai khác đó có thể do chọn mẫu hay phương pháp khác nhau. Để có một đánh giá
chính xác cho Việt Nam, chúng ta cần phải xem xét cụ thể.
2.3. Giáo dục
a. Giáo dục có tác động tích cực đáng kể tới người làm thuê (employee), nhưng
không ảnh hưởng nhiều tới quyết định tự làm chủ (self-employment) như nghiên cứu
của Carolona Castagnetti, Francesco Chelli và Luisa Rosti (2008). Bài nghiên cứu nhấn
mạnh vai trò của giáo dục ảnh hưởng tới thu nhập cá nhân quết định tự làm chủ. Tác giả
xây dựng hàm hiệu suất giáo dục gồm các biến kết quả học tập cuối kỳ và thời gian mà
sinh viên hoàn thành sự nghiệp học tập. Cũng như các bài nghiên cứu trước tác giả tiến
hành hồi quy hàm thu nhập đối với người làm thuê toàn thời gian và người làm chủ
bằng việc kiểm soát lựa chọn của cá nhân. Các tác giả ước tính mô hình lựa chọn mẫu
bằng phương pháp 2 bước của Heckman (1979) tiến hành kiểm tra lại kết quả ước lượng
bằng mô hình probit với biến nhị phân - nếu cá nhân có mức lương cao trong 2 trạng
thái nghề nghiệp. Cuối cùng kết quả được chỉ ra giáo dục có tác động không đáng kể
vào khu vực làm chủ nhưng có tác động đáng kể vào khu vực làm thuê.
Mỹ; Tác động trở lại của giáo dục đến thiên hướng tự kinh doanh ở Mỹ là cao hơn châu
Âu (xem thêm Van Der Sluis và cộng sự).
Peter van der Zwan, Ingrid Verheul, Roy Thurik và Isabel Grilo (2009) sử dụng
dữ liệu năm 2007 khảo sát ở châu Âu về tinh thần kinh doanh, No.192” của hội nghị
châu Âu gồm 20.674 quan sát gồm 25 nước thành viên và Norway, Iceland, US. Bằng
cách sử dụng một mô hình logit tích lũy, mô hình cơ bản đánh giá tác động của các biến
giải thích về sự chênh lệch (tỷ lệ hai xác suất) nghiên cứu về tiến trình kinh doanh bao
gồm năm cấp độ nghiên cứu "không bao giờ xem xét mở doanh nghiệp", "tư duy về
điều đó", "thực hiện các thủ tục", "đang kinh doanh dưới ba năm" và "đang kinh doanh
trên ba năm". Kết quả thu được chỉ ra rằng tác động của giáo dục là tích cực và đáng kể
21
cho sự chuyển đổi nhận thức đầu tiên ("không bao giờ nghĩ tới" đi đến "tư duy tự kinh
doanh"), không đáng kể cho sự chuyển đổi tiếp theo ("tư duy" để "thực hiện các bước
kinh doanh") và tiêu cực đáng kể khi đi đến các cấp độ quyết định kinh doanh tiếp theo
nữa (nghĩa là "thực hiện các bước" tới “đang kinh doanh dưới 3 năm” và “đang kinh
doanh sau 3 năm"). Giáo dục tinh thần kinh doanh xuất hiện thực sự quan trọng đối với
việc có ý định tự kinh doanh ban đầu, nhưng không có hiệu lực vào quá trình chuyển
đổi trong tương lai. Vai trò của người làm gương, cụ thể là thành viên trong gia đình sở
hữu doanh nghiệp riêng ảnh hưởng đáng kể đến xu hướng quyết định tự kinh doanh.
Nghiên cứu của Joern H. Block, Lennart Hoogerheide và Roy Thurik (2009) khi
đo lường ảnh hưởng của trình độ học vấn đến xu hướng quyết định tự làm chủ doanh
nghiệp gặp phải khó khăn là đưa biến đại diện cho trình độ học vấn vào mô hình như
một biến nội sinh. Giáo dục xuất hiện như là biến nguyên nhân trong mô hình kinh tế
trong khi nó có mối tương quan trong thực tế với sai sót trong mô hình (Van der Sluis
và cộng sự, 2008). Sự tương quan này có thể qui cho nguyên nhân sai sót trong đo
lường hoặc bỏ qua biến. Nguyên nhân khác bao gồm, tự hồi qui với khuyết tật tự tương
quan và mẫu không ngẫu nhiên (Kennedy, 2008). Nghiên cứu của Joern H. Block
Lennart, Hoogerheide và Roy Thurik (2009) lần đầu tiên đưa giáo dục vào mô hình như
một biến nội sinh bằng cách sử dụng hồi qui biến công cụ và dữ liệu từ hơn 10.000 cá
2000. Và đặc biệt tác động tới việc lựa chọn làm chủ cao nhất đối với khu vực giáo dục
phi chính thức. Cá nhân có bằng cấp giáo dục trong lĩnh vực nông nghiệp có xu hướng
quyết định trở thành người làm chủ.
Anh T.Le (1999) nghiên cứu về những yếu tố tác động đến quyết định tự kinh
doanh cá nhân người nhập cư ở Australia với dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu
“Điều tra dân số và nhà ở Australia, 1981 và 1991”, chỉ ra ảnh hưởng tới việc tự kinh
doanh bởi cả hai biến vốn con người và vốn phi con người (xem Le, 1999). Phân tích
tập trung miêu tả nhóm dân số, nhóm 15-64 làm công ăn lương hoặc tự kinh doanh và
thu nhập theo giờ. Với biến phụ thuộc là thiên hướng tự kinh doanh, sử dụng mô hình
logit với 2 mô hình : MH1 bao gồm biến vốn con người, đặc điểm mối quan hệ công
việc, địa phương người nhập cư, và tôn giáo, nơi sinh; MH2 bao gồm các biến trong
MH1, nhưng biến enclave được tạo với biến ngôn ngữ của người nhập cư.
Kết luận được Le đưa ra từ bài nghiên cứu là hầu hết những biến ảnh hưởng quan
trọng là giáo dục, kinh nghiệm thị trường lao động, thành thạo tiếng Anh, sở hữu nhà
(yếu tố vốn), trạng thái hôn nhân, và trạng thái nghề nghiệp. Người không phải quốc
tịch Australia tác động tích cực hơn so với người có quốc tịch Australia tới xu hướng
quyết định tự làm chủ. Đặc biệt cá nhân có vợ chồng, sở hữu nhà cao hơn trong xu
hướng tự kinh doanh. Trái lại, giáo dục làm giảm xu hướng tự làm chủ.
23
Guillaume Destrés và Valentine Henrad. 2004 thì sử dụng biến đại diện cho giáo
dục là “no schooling” (không theo trường lớp), cấp 1, cấp 2 và đại học. Mẫu quan sát là
đàn ông, từ 18-70 tuổi là chủ hộ lấy từ Điều tra Hộ gia đình ở Colombia (ENH) tháng
06/1996. Hai tác giả dùng mô hình cấu trúc như của Rees và Shah (1986) hay của
Bernhardt (1994), trong đó quyết định lựa chọn làm chủ hay làm thuê phụ thuộc phần
lớn vào chênh lệch thu nhập kỳ vọng giữa hai trạng thái. Giáo dục cho tác động âm, đối
với cấp đại học thì ảnh hưởng âm còn lớn hơn, có thể là vì giáo dục đại học mang lại lợi
ích lớn hơn cho người làm thuê như de Wit đã chỉ ra (1993).
d. Giáo dục không ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của cá nhân:
hộ gia đình. Xét với
cá nhân là chủ hộ - có
4762 chủ hộ; trong đó
có 327 là tự làm chủ
cón 4435 là làm thuê
Mô hình sử
dụng biến
nhị phân
đại diện cho
quyết định
lựa chọn
nghề
nghiệp của
cá nhân
(MH
probit)
Tác động của
giáo dục: Ảnh
hưởng hình chữ
U ngược
Tác động tiềm
lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân: Có ảnh
hưởng tới quyết
định lựa chọn
- Vốn ban đầu (của
cải tích lũy, quà
tặng, thừa kế hay
các khoản nợ) đều
đủ vốn, mà do
nhiều lí do, không
phải ai cũng dễ
dàng tiếp cận được.
Bernhardt,
1994
Mẫu được chọn là đàn
ông da trắng trong
Canada.
Mô hình
probit giảm
(MH hai
khu vực).
Tác động của
tiềm lực tài
chính là rõ
ràng. Như là
một yếu tố
quyết định sự
lựa chọn
- Thu nhập tiềm
năng là yếu tố quyết
định.
- Tự làm chủ có
mức thu nhập cao
hơn.
Le, 1999 Tác giả sử dụng dữ
liệu nghiên cứu “Điều
tra dân số và nhà ở
Australia, 1981 và
và trạng thái nghề
nghiệp
25
nhập theo giờ đến xu
hướng
quyết định
tự làm chủ
của những
người nhập
cư ở
Australia
- Đặc biệt cá nhân
có vợ chồng, sở
hữu nhà xác suất
cao hơn trong xu
hướng tự kinh
doanh
- Giáo dục làm
giảm xu hướng tự
làm chủ
Hout M. and
Rosen H.
(2000)
Dữ liệu: General
Social Survey
(University of
Chicago), từ 1973-
1996
Mẫu quan sát: Nam,
làm doanh nhân
cao hơn
- Cỡ hộ có ảnh
hưởng đáng kể, khi
cỡ hộ lớn hơn thì
xác suất thành
doanh nhân thấp
hơn
- Cấu trúc gia đình
có ảnh hưởng
không đáng kể
W.P.M.
Vijverberg and
J. Houghton.
2002.
Xem xét biến động
của doanh nghiệp gia
đình phi nông nghiệp
(non-farm households
enterprise) ở Việt
Nam qua hai cuộc
điều tra VLSS năm
1993 và năm 1998.
Mô hình
logit tương
tự của
Vijverberg
(1998)
Gia cảnh cá
lực tài chính và
gia cảnh cá
nhân: Tác động
- Ảnh hưởng âm có
thể là vì cấp bậc
giáo dục cao hơn
mang lại lợi ích lớn
hơn cho người làm
thuê
- Vì nó không phải
là biến đại diện