LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể như Thư Viện Quốc Gia
Hà Nội, Thư Viện Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, Học Viện Chính Trị
Quốc Gia Hồ Chí Minh… Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô
đặc biệt là cô giáo T.S Khuất Thị Hoa – người hướng dẫn trực tiếp, đã tận
tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2012
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hồng
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận
này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của T.S Khuất
Thị Hoa
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong
khóa luận này.
Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2012
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thị Hồng
2
Mỹ cứu nước (1965-1975); NXB Sự thật năm 1979 của Nguyễn Duy Trinh;
Đại thăng mùa xuân, NXB QĐND. Năm 1977 Đại tướng Văn Tiến Dũng; Về
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, NXBCTQG, năm 1996 của Đại tướng
3
Văn Tiến Dũng; Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ và công
cuộc đổi mới của dân tộc Việt Nam ngày nay, của Lê Đức Anh; Cuộc tổng
tiến công và nổi dậy đại thắng mùa xuân năm 1975, tạp chí QPTD ( 4) 1995
của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng; Trận quyết
chiến lịch sử xuân 1975, Viện LSQS, Hà nội 1990; Tổng kết cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, NXBCTQG, Hà Nội
1995….Ngoài ra còn có nhiều luận án thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam ở Học viện CTQGHCM cúng nghiên cứu đến cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tuy vậy, chưa có đề tài nào đề cập đến vấn
đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vị nghiên cứu của đề tài.
3.1. Mục đích:
Làm rõ một cách có cơ sở khoa học và hệ thống sự lãnh đạo và
chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1973-1975 của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước ; Rút ra những bài học kinh nghiệm
3.2. Nhiệm vụ:
- Xác định rõ sự lãnh đạo của Đảng qua các giai đoạn của cuộc kháng
chiến. Từ đó có cơ sở khoa học cho sự luận giải các chủ trương và sự chỉ đạo
của Đảng trong giai đoạn kết thúc chiến tranh
- Làm rõ tình hình cách mạng miền Nam sau Hiệp định Pari, coi đó là
cơ sở trực tiếp cho chủ trương kết thúc và chỉ đạo thực hiện chủ trương đó
- Trình bày có hệ thống quá trình chỉ đạo kết thúc thắng lợi hoàn toàn
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Đảng, từ đó khẳng định đây là
chống Mỹ, cứu nước.
Chương 2: Bước phát triển cao về nghệ thuật lãnh đạo chiến tranh
cách mạng.
5
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
QÚA TRÌNH CHỈ ĐẠO KẾT THÚC THẮNG LỢI HOÀN
TOÀN CUỘC KHÁNG CHẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC
1.1 ĐÁNH GIÁ ĐÚNG TƢƠNG QUAN LỰC LƢỢNG, PHÁT
ĐỘNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƢỚC ĐÚNG LÚC.
Nghệ thuật quân sự của người xưa đã tổng kết: Biết người, biết ta,
trăm trận trăm thắng. Nhận thức sâu sắc vấn đề trên, trên cơ sở phân tích
khoa học và toàn diện so sánh lực lượng giữa ta và địch, Hội nghi trung ương
lần thứ 12 (12/1965) đã khẳng định: mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam
hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh của ta và địch vẫn không
thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng gay go, ác liệt nhưng nhân dân
ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và giành thế chủ động trên chiến trường,
có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu ,trước mắt và lâu dài của địch.
Bởi vì, Mỹ vào miền Nam không phải do thế mạnh mà là trong thế yếu, thế bị
động, thế thua, vào để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ ngụy. Quân Mỹ
trực tiếp vào miền Nam còn là “hạ sách” của chủ nghĩa thực dân mới – một
thứ chủ nghĩa của thực dân dấu mặt, trá hình. Đưa quân đội vào miền Nam là
Mỹ đã lột mặt nạ, bản chất xâm lược bị phơi bày. Chỗ yếu cơ bản của chúng
từ trước vẫn là về chính trị, đến lúc này chỗ yếu đó càng bộc lộ sâu sắc hơn
bao giờ hết, hơn nữa quân Mỹ đông, lực lượng mạnh nhưng Mỹ không thể tập
trung tất cả vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Mỹ còn phải lo đối phó với
nhiều nơi trên thế giới. Đó chính là cHỗ yếu mà Mỹ không thể khắc phục
thế lực và thời cơ…là xem xét tất cả những yếu tố ấy trong quá trình vận
động, trong thời gian và không gian nhất định”.
Đánh giá đúng so sánh lực lượng địch – ta là một điểm nổi bật trong
lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng ta, là tiền đề để tạo ra những bước ngoặt đưa
cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Thành công đó còn là cơ sở quan
trọng nhất đảm bảo cho Đảng ta vạch ra được đường lối và phương pháp cách
mạng đúng đề ra và phát huy một một nền nghệ thuật tiến hành chiến tranh
7
nhân dân thông minh, sáng tạo với hình thức đa dạng, phong phú vượt qua
ngoài cung cách chiến tranh cổ điển, thông thường.
Nhờ dựa trên cơ sở đánh giá đúng so sánh lực lượng 2 bên mà tư
tưởng quyết đánh, quyết thắng Mỹ và lòng tin vào thắng lợi cuối cùng của
toàn Đảng, toàn dân ngày càng được củng cố và nâng cao một cách vững
chắc. Đúng như đồng chí Lê Duẩn đã nói: “Không đánh giá đúng thế yếu của
Mỹ, không đánh giá đúng thế mạnh của ta, thì không bao giờ dám đánh Mỹ”.
Sau này, trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, phương pháp xem xét,
đánh giá kẻ thù và những bài học kinh nghiệm này đã được tiếp tục kế thừa và
vận dụng một cách xuất sắc. Trong không ít khó khăn của cách mạng miền
Nam và tình hình phức tạp của quan hệ quốc tế Đảng vẫn nhận rõ và chỉ đúng
thời cơ cách mạng chiến lược, hạ đúng quyết tâm lịch sử để kết thúc thắng lợi
cuộc chiến tranh.
Nếu như quyết đánh và quyết thắng đế quốc Mỹ là biểu hiện tập trung
nhất của đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng, thì biết phát động
chiến tranh chống Mỹ đúng lúc và biết kết thúc đúng cách các giai đoạn của
chiến tranh lại là một biểu hiện sinh động nhất trong nghệ thuật chiến tranh
nhân dân biết đánh và biết thắng từng bước đế quốc Mỹ của Đảng Cộng sản
Việt Nam .
đảm bảo lợi ích hòa bình của nhân dân thế giới.
Cao trào Đồng Khởi (1959-1960) đã làm thất bại hoàn toàn chiến lược
toàn cầu “ lấp chỗ trống” với “chiến tranh đơn phương” của Tổng thống Mỹ
Aixenhao tại miền Nam Việt Nam.
So sánh lực lượng giữa ta và địch có thay đổi khi Mỹ tiến hành chiến
lược “chiến tranh đặc biệt”.Trước yêu cầu mới, Đảng đã kịp thời chỉ đạo
chuyển phương châm đấu tranh và hình thức tiến công địch. Theo đó, Hội
nghị Bộ chính trị tháng 1 năm 1961 đã vạch rõ:
- Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đưa đấu tranh vũ
trang lên song song với đấu tranh chính trị
9
- Tiến công địch bằng cả ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến
lược”;
- Đồng thời chỉ đạo: ở các vùng rừng núi, lấy đấu tranh quân sự làm
chủ yếu; ở các vùng đồng bằng, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị có
thể ngang nhau; ở đô thị, lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu.
Sự chỉ đạo kịp thời, sang suốt trên đây của Đảng đã đưa cách mạng
miền Nam vượt qua những khó khăn, thử thách bởi “chiến tranh đặc biệt” gây
ra. Dù Mỹ tập trung mọi cố gắng để đẩy mạnh “chiến tranh đặc biệt”, cách
mạng miền Nam vẫn luôn ở thế tiến công liên tục, toàn diện trên cả ba vùng
chiến lược. Nếu chiến thắng Ấp Bắc (1/1963) đã mở đầu cho sự phá sản của
chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch và chứng tỏ chúng ta có
khả năng đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt thì chiến thắng Bình Gĩa
(3/1965) đã đánh dấu bước trưởng thành nhảy vọt về khả năng đánh tập trung
của chủ lực cao, chứng tỏ sự thất bại căn bản của chiến lược “chiến tranh đặc
biệt”, với hàng ngàn “ấp chiến lược” bị quần chúng tại chỗ phá vỡ. Đông đảo
quần chúng đã nổi dậy giành quyền làm chủ bằng phương thức đấu tranh “hai
không thay đổi lớn. Vì thế, ta vẫn giữ vững và phát huy thế chiến lược tiến
công của chiến tranh cách mạng miền Nam.
-Ta tiếp tục tiến công và phản công, kết hợp đấu tranh quân sự và
chính trị, hưng đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết định trực tiếp.
Cụ thể hóa Nghị quyết của Trung ương, Đảng chủ trương đẩy mạnh
hơn nữa hoạt động đối ngoại nhằm làm rõ hơn nữa chính nghĩa và thiện chí
của ta, góp phần hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng
hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Quân ủy Trung ương cũng đã xác định
nhiều vấn đề về chỉ đạo đúng đắn, kịp thời trên chiến trường. Phát triển nhanh
lực lượng vũ trang, nhất là bộ đội chủ lực.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã
mở đầu chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ bằng những
thắng lợi vang dội ở cả 2 miền Nam, Bắc, “tìm Mỹ mà đánh”, “tìm ngụy mà
diệt” phát triển sâu rộng trên khắp các chiến trường miền Nam. Đây là những
11
sáng tạo, những phát triển mới của chiến tranh nhân dân ở miền Nam trong
kháng chiến chống Mỹ.
Một mặt đẩy mạnh các hoạt động quân sự ở miền Nam, mặt khác, đế
quốc Mỹ đã tiến hành và ngày càng tăng cường chiến tranh phá hoại bằng
không quân và hải quân đối với miền Bắc, nhằm đánh quỵ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa ngăn chặn sự chi viện từ đây cho chiến trường miền Nam.
Để đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, một cuộc chiến
tranh nhân dân chưa từng có trong lịch sử dân tộc và hiếm có trong lịch sử
chiến tranh thế giới đã được phát động. Đó là toàn quân, toàn dân đánh máy
bay và tàu chiến địch bằng mọi cách, mọi phương tiện, vũ khí, toàn dân làm
công tác phòng tránh, toàn dân đảm bảo giao thông vận tải, kết hợp chặt chẽ
giữa chiến đấu và sản xuất, thực hiện chuyển hướng kinh tế sang thời chiến để
thực hiện bước chuyển đó bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết
Mậu Thân 1968. Tuy mục đích chiến lược đạt được ở mức chưa cao, nhưng
đây là đòn quyết định đánh bại chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc
Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải xuống thang
chiến tranh và đi dần vào chiều hướng kết thúc cuộc chiến. Chính phủ Hoa
Kỳ đã chịu ngồi đàm phán theo điều kiện của ta tại Hội nghị Paris.
Cách kết thúc giai đoạn chống “chiến tranh cục bộ” được thể hiện ở
chỗ: sau thắng lợi liên tiếp trong hai mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, ta đã
giáng tiếp cho địch một đòn quyết định bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
đồng loạt vào lúc quân Mỹ đang ở thế “tiến thoái lưỡng nan”, giới cầm quyền
Mỹ đang giao động về chiến lược vào thời điểm rất nhạy cảm ở chính trường
nước Mỹ trong năm bầu cử Tổng thống.
Cũng như các giai đoạn trước, Đảng đã phân tích diễn biến tình hình
và âm mưu của đế quốc Mỹ rất chính xác để từ đó khẳng định: chúng ta đang
đứng trước thời cơ lớn để thừa thắng tiến lên, đẩy mạnh tiến công toàn diện
và liên tục, tiến lên một bước mới cơ bản, đánh bại ý chí xâm lược của đế
quốc Mỹ.
13
Dưới sự chỉ đạo của Đảng, những thắng lợi to lớn trong khôi phục và
củng cố miền Bắc, tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam; trong
việc hình thành và củng cố vững chắc thế liên hoàn của chiến trường Đông
Dương; trong việc liên tục tiến công địch trên bàn Hội nghị Paris và một loạt
thắng lợi về quân sự ở cả chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia đã mở ra
khả năng thực tế cho việc làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh
của Mỹ”.
Trước tình hình đó, Đảng ta đã chỉ đạo giành thắng lợi quyết định, mở
ra môt thời kì mới “đánh cho Mỹ cút” tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giành
cho cách mạng miền Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
thực hiện thống nhất nước nhà.
Trong thời gian 60 ngày, kể từ khi kí Hiệp định, toàn bộ quân Mỹ và
quân các nước phụ thuộc phải rút hết. Việc quân Mỹ phải rút hết khỏi miền
Nam là nét nổi bật của tình hình cách mạng miền Nam sau Hiệp định Paris.
Ngụy quân, ngụy quyền mất chỗ dựa trực tiếp, tinh thần bị dao động lớn, sức
chiến đấu bị giảm sút nghiêm trọng. Trong khi đó thực lực cách mạng miền
Nam, cách mạng Việt Nam nói chung đã lớn mạnh, nay lại có them điều kiện
pháp lý (Hiệp định Paris) để đấu tranh chống lại kẻ thù.
“Đánh cho Mỹ cút”, đó là thắng lợi có tính chất quyết định mà cách
mạng Việt Nam đã giành được sau hơn 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, tạo tiền đề thuận lợi để “đánh cho ngụy nhào”. Song cũng như sau Hiệp
định Giơnevơ(1954), kẻ thù lại một lần nữa lộ rõ bản chất xâm lược, ngoan cố
ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết.
Tuy phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng đế quốc Mỹ vẫn
chưa chịu từ bỏ chính sách cơ bản của chúng là thực hiện chủ nghĩa thực dân
mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài nước ta.
Thực hiện ý đồ đó, trước khi rút hết quân, Mỹ đã đưa thêm vào miền
Nam gần 700 máy bay, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và nhiều tàu
chiến các loại. Chúng còn dự kiến tiếp tục đưa thêm số lượng lớn phương tiện
15
chiến tranh cho ngụy quyền Sài gòn, tiếp tục dùng họ làm lực lượng thực hiện
chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.
Cùng với việc tăng cường vũ khí, Chính phủ Hoa Kỳ còn giúp ngụy
quyền ra sức tăng cường, củng cố quân ngụy và tiếp tục duy trì lực lượng
không quân, hải quân ở các vùng phụ cận Việt Nam để làm “lực lượng răn
đe”, hỗ trợ quân ngụy thực hiện “bình định”, “lấn chiếm” xóa thế da báo và
miền Nam tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
1.3 PHÁT TRIỂN THỰC LỰC, TẠO THỜI CƠ, NẮM VỮNG
THỜI CƠ CHÍN MUỒI ĐỂ ĐI TỚI GIÀNH THẮNG LỢI HOÀN
TOÀN.
1.3.1 Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21.
Nhận rõ sự chuyển biến về chất của giai đoạn cách mạng mới, từ
tháng 3 năm 1973, cùng với sự chỉ đạo thực tiễn trên chiến trường, Bộ chính
trị đã khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho Hội nghị Trung ương lần 21 để vạch
phương hướng chủ trương hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân,giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Tháng 5 năm 1973, Hội nghị Bộ chính trị đã phân tích, nhận định tình
hình sau Hiệp định Paris và đề ra phương hướng hoạt động cho thời gian tới.
Trên cơ sở báo cáo của HN các bí thư đảng bộ và các đòng chí chủ trì
các chiến trường tháng 6 năm 1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 đã được
triệu tập vào tháng 7 năm 1973 và ra Nghị quyết về “Thắng lợi vĩ đại của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền
Nam trong giai đoạn mới”.
Hội nghị đã tổng kết 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của
nhân dân ta, rút ra những kết luận có tính quy luật phát triển thắng lợi của
cuộc kháng chiến. Nghị quyết viết: “Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ
dân tộc dân chủ và ngọn cờ xã hội chủ nghĩa, gắn chặt nhiệm vụ cách mạng ở
2 miền nhằm mục tiêu chung là hoàn thành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ
quốc và tiến lên chủ nghĩa xã hội”… “Bạo lực cách mạng ở miền Nam dựa
trên lực lượng chính trị và lực lượng quân sự thể hiện bằng hình thức đấu
17
tranh quân sự, đấu tranh chính trị kết hợp một cách hết sức chủ động, linh
hoạt, tùy theo từng lúc, từng nơi”
-Trên cơ sở nhận định tình hình, xác định kẻ thù và nhiệm vụ cơ bản,
Nghị quyết cũng đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam:
“Đoàn kết toàn dân đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự,ngoại
giao…thắng địch từng bước và chủ động trong mọi tình huống, đưa cách
mạng miền Nam tiến lên”.
-Trong thế trận của cả nước, miền Bắc luôn luôn có vai trò to lớn và
quyết định trong toàn bộ cuộc kháng chiến. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, trong
giai đoạn này vai trò ấy càng được khẳng định: “Nhiệm vụ của miền Bắc đối
với cách mạng miền Nam là phải tranh thủ những điều kiện thuận lợi hiện có,
ra sức chi viện miền Nam, khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân, làm
cho miền Bắc xã hội chủ nghĩa luôn luôn là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu
tranh cách mạng nhằm hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa
bình thống nhất Tổ quốc.
Đây là một trong những Nghị quyết có ý nghĩa lịch sử lớn lao trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là Nghị quyết quan trọng trực tiếp chỉ
đạo giai đoạn kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Nếu như Nghị quyết Trung ương lần thứ 11 và 12 (1965) xác định quyết tâm
chiến lược quyết đánh và quyết thắng Mỹ và đề ra những vấn đề chiến lược
cơ bản để “đánh cho Mỹ cút”, thì Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 này đã
vạch ra những vấn đề cơ bản để “đánh cho ngụy nhào”.
Sau Nghị quyết Trung ương lần thứ 21, nhìn chung trên toàn chiến
trường miền Nam đến cuối năm 1973, ta đã chặn được phần lớn các hoạt động
“bình định”, “lấn chiếm” của địch, mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp vùng
kiểm soát của địch, giành lại được nhiều vùng địch mới lấn chiếm. Ở một số
khu vực, ta đã tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp vùng kiểm
soát của địch. Năm 1973 kết thúc với những chuyển biến tốt đẹp cả về so sánh
lực lượng và thế trận chiến lược có lợi cho ta.
1.3.2 Phát triển thực lực, tạo thời cơ, nắm vững thới cơ chín muồi
để đi tới giành thắng lợi hoàn toàn
thực hiện những nhiệm vụ quan trọng như: hình thành kế hoạch tác chiến
chiến lược, kế hoạch tác chiến cho các chiến trường, kế hoạch tổ chức và
20
huấn luyện các binh đoàn chiến lược, ra sức xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch
chuẩn bị hậu cần kĩ thuật, đảm bảo cho tác chiến quy mô lớn.
Với sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, về mặt quân sự, những yêu
cầu của việc chuyển giai đoạn mới đã được đáp ứng.
Về xây dựng lực lượng và chuẩn bị chiến trường, ta đã chuẩn bị khẩn
trương bổ sung quân và tăng thêm nhiều đơn vị bộ binh, đơn vị binh chủng kỹ
thuật, từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ.
Đáp ứng yêu cầu kết thúc kháng chiến thắng lợi. Việc thành lập các quân
đoàn chủ lực là hết sức cần thiết. Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Quân đoàn
1được thành lập gồm các sư đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng hợp
thành đang đứng chân trên các tỉnh phía Bắc mở đầu cho các quân đoàn chiến
lược khác.
Cùng với các hoạt động quân sự, dưới sự chỉ đạo của Trung ương
Đảng và Đảng bộ các cấp, phong trào đấu tranh của quần chúng trong vùng
địch kiểm soát đã phát triển mạnh mẽ trong sự phối hợp chặt chẽ với các hoạt
động quân sự. Ở các vùng giáp ranh, quần chúng tập chung đấu tranh đòi địch
thi hành Hiệp định, vận động binh sĩ địch về với nhân dân, về với cách mạng.
Ở các đô thị, khẩu hiệu đấu tranh của quần chúng nhằm chủ yếu đòi địch thi
hành Hiệp định, tôn trọng quyền tự dân chủ của các tầng lớp nhân dân, đòi
Thiệu từ chức. Ở các giải phóng phong trào nhân dân ủng hộ cách mạng càng
mạnh mẽ hơn bằng các hoạt động cụ thể như động viên con em gia nhập các
lực lượng vũ trang, sản xuất tự túc, đóng góp xây dựng lực lượng. Phong trào
đấu tranh của nhân dân miền Nam đã cùng với các hoạt động quân sự ngày
càng đẩy địch vào thế bị động, lung túng. Thực lực cách mạng ngày càng
những bước chuyển lớn hơn.
Rõ ràng, việc Đảng nhận định, đánh giá tình hình và đề ra những chủ
trương chỉ đạo trên là rất sáng suốt; việc tổ chức thực hiện tạo thế, tạo lực, tạo
thời cơ cũng rất khoa học và có hiệu quả.
Từ nửa cuối năm 1974, trước sự phản công và tấn công của quân dân
cách mạng miền Nam, quân ngụy phải lui từng bước về giữ các đô thị, các
đường giao thông và các vùng có ý nghĩa chiến lược. Do bị Quốc hội Mỹ cắt
22
giảm viện trợ bổ sung, lại gặp khó khăn nghiêm trọng về kinh tế, bế tắc về
chiến lược quân sự, Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đã phải chủ
trương “đánh theo kiểu con nhà nghèo” – điều mà một đội quân tay sai, quen
phụ thuộc không thể làm được.
Tháng 8 năm 1974 địch phải bỏ chi khu quận lỵ Thượng Đức (Quảng
Nam) khi bị ta tiến công. Ở trận này, địch đã phải sử dụng đến sư đoàn lính
dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược để phản công lấy lại nhưng không
thành.
Thất bại ở Thượng Đức là một biểu hiện mới quan trọng, nó chứng tỏ
khả năng của quân chủ lực cơ động ngụy đã thua kém chủ lực ta.
Như vậy, sau một năm có Nghị quyết Trung ương 21, tình hình chiến
trường miền Nam đã có những bước phát triển thật lớn. Chiến tranh đã bước
vào giai đoạn kết thúc với những dấu hiệu rõ rệt: so sánh lực lượng đã thay
đổi, ta mạnh lên, địch yếu đi; ta chủ động, vững vàng, địch bị động, lung túng.
Từ thực tiễn trên, Đảng ta dự tính khả năng và phương án kết thúc chiến
tranh, giành thắng lợi hoàn toàn.
Trong thời gian này, tình hình nước Mỹ, tình hình thế giới diễn ra
phức tạp, có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình đi tới thắng lợi cuối cùng, đòi
hỏi phải kịp thời nắm bắt, khai thác những thuận lợi, ngăn chặn, đối phó với
những bất lợi.
-Về thời cơ chiến lược: đã xuất hiện ngày càng rõ những yếu tố mới
của tình thế mới; chế độ ngụy quyền Sài Gòn ngày càng suy yếu; Mỹ ngày
càng gặp nhiều khó khăn ở cả trong nước và thế giới; không những khó có
khả năng quay lại miền Nam mà khả năng viện trợ cho quân ngụy cũng ngày
càng giảm bớt.
-Cân nhắc thận trọng về khả năng Mỹ quay trở lại trong trường hợp ta
đánh lớn, thắng lớn, đặt ngụy quyền Sài Gòn trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn,
Bộ Chính trị đã đi đến kết luận: “Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam thì khó có khả
24
năng nhảy vào trở lại, và dù có can thiệp đến thế nào đi nữa thì Mỹ cũng
không thể cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ tay sai Sài Gòn”.
- Xem xét toàn diện và phân tích sâu sát các mặt, Bộ chính trị đã nhất
trí phê chuẩn phương án của Bộ Tổng tham mưu, chọn Tây Nguyên là hướng
chiến trường chủ yếu trong hoạt động tiến công lớn của ta năm 1975.
Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10 năm 1974 đã khởi đầu xác định quyết
tâm chiến lược và chỉ rõ ý nghĩa lịch sử của nó. Đây là một điều hết sức trọng
đại. Vì đã gần 30 năm, từ khi giành được chính quyền (1945), nhân dân Việt
Nam đã liên tục phải tiến hành chiến tranh cách mạng, trải qua mấy thời kì
chống đế quốc xâm lược, nay cuộc chiến đấu đã đi đến bước ngoặt lịch sử.
Song để đi tới chính thức hạ quyết tâm chiến lược, Đảng thấy cần phải
tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình hơn nữa, nắm chắc diễn biến chiến
trường và chuẩn bị mọi mặt hoàn thiện hơn nữa.
Sau mấy tháng tiếp tục chuẩn bị theo phương hướng đã định, Bộ
Chính trị triệu tập Hội nghị mở rộng (từ 18 tháng 12 năm 1974 đến tháng 1
năm 1975) gồm hầu hết các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà
nước, Quân đội và các chiến trường chính ở miền Nam, để đi đến những
quyết định cuối cùng.