LỜI CẢM ƠN
Có thể nói đây là công trình nghiên cứu đầu tiên của tôi nên chắc chắn
không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót. Để có thể hoàn thành được công
trình nghiên cứu này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của thầy Nguyễn Văn Dũng. Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành nhất đến thầy người đã dìu dắt tôi trên bước đường tập dượt
nghiên cứu khoa học của mình.
Bên cạnh đó cũng cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến cán bộ và nhân
viên làm việc trong thư viện Quân đội, thư viện Quốc gia, đã nhiệt tình giúp
đỡ và cung cấp cho tôi những tài liệu cần thiết phục vụ cho đề tài khóa luận
của mình.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đặc biệt
là thầy cô ở bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đã cung cấp cho tôi
những kiến thức trong quá trình học tập tại trường.
Hà Nội, ngày 1,tháng 5, năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Luyến
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự
hướng dẫn của ThS Nguyễn Văn Dũng. Các số liệu, dữ liệu, kết quả trong
khóa luận là hoàn toàn trung thực. Các nguồn tài liệu trích dẫn có nguồn gốc
xuất xứ rõ ràng. Tôi xin cam đoan những điều trên là đúng sự thật.
Hà Nội, ngày 1, tháng 5, năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Thị Luyến
của Mỹ............................................................................... 10
1.2.
Chủ trương của Đảng ...................................................... 17
1.3.
Những thắng lợi và hạn chế của quân và dân ta trong
cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại lần thứ 1 ........... 26
1.3.1.
Những thắng lợi ................................................................. 26
1.3.2.
Những hạn chế................................................................... 33
Chương 2. ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÂN DÂN MIỀN BẮC
CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2
(1972-1973) ....................................................................... 16
2.1.
Âm mưu và thủ đoạn tiến hành chiến tranh phá hoại
lần thứ hai của đế quốc Mỹ ............................................. 36
2.2.
Chủ trương của Đảng ...................................................... 41
của quân và dân miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta ... 60
3.2.
Bài học kinh nghiệm trong việc lãnh đạo quân dân
miền Bắc chống chiến tranh phá hoại (1964-1973) ......
3.2.1.
64
Đánh giá đúng âm mưu chiến lược và khả năng hoạt động
của địch, có quyết tâm cao giành thắng lợi, chuẩn bị tích
cực, chu đáo, đối phó kịp thời, kiên quyết..........................
3.2.2.
64
Tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa
vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ sự viện
trợ của quốc tế.....................................................................
3.2.3.
68
Vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh
nhân dân trong tác chiến phòng không, tích cực xây dựng
lực lượng phòng không theo phương châm vừa chiến đấu
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả tổng hợp của một loạt
nhân tố tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam. Nguồn gốc của
mọi nhân tố ấy là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đội tiên phong dày dạn
của giai cấp công nhân Việt Nam, người đại biểu trung thành và đầy đủ những
lợi ích sống còn, những nguyện vọng sâu xa và chính đáng của nhân dân Việt
Nam, của cả dân tộc Việt Nam... Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ
1
cứu nước là thắng lợi cuả cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh ngoan cường
và bền bỉ, anh dũng và thông minh của nhân dân và Quân đội cả nước...Đó là
thắng lợi của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc”[3,tr.2].Trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc là hậu phương chiến lược của cả nước, là
hậu phương trực tiếp của tiền tuyến lớn miền Nam, là mặt trận chính đánh bại
chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Miền Bắc đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ
miền Bắc, chi viện sức người, sức của đầy đủ, kịp thời cho chiến trường miền
Nam, quyết định thắng lợi cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Để
hoàn thành sứ mệnh lịch sử trọng đại đó, Đảng ta đã trực tiếp lãnh đạo thành
công quân và dân miền Bắc tiến hành chống cuộc chiến tranh phá hoại.Qua
thực tiễn lãnh đạo cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại đó, Đảng ta đã rút ra
được những bài học kinh nghiệm quý báu. Bài học kinh nghiệm đó đã bổ sung
hoàn chỉnh hệ thống các kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, nó đã góp phần phát triển lý luận khoa học, nghệ thuật quân sự Việt
Nam, đồng thời còn có ý nghĩa thiết thực đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn mới.Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài Đảng lãnh đạo
quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ(19641973)làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp đại học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã được
phá hoại 1964-1973, khẳng định sự đúng đắn trong đường lối, chủ trương của
Đảng để đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với quân và dân ta để
chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ từ 1964 đến 1973, từ đó rút ra
3
những kinh nghiệm để góp phần thiết thực đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
trong giai đoạn mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-Vạch rõ âm mưu và hành động thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại của
đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta.
-Làm rõ quá trình nhận thức về âm mưu và hành động chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ, chủ trương và đường lối của Đảng để lãnh đạo quân và
dân ta chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 1964-1973.
-Rút ra nhận xét về chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ thực hiện ở
miền Bắc nước ta và cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của quân và dân
ta từ 1964-1973; nêu lên những bài học kinh nghiệm lịch sử trong công tác
lãnh đạo quân dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
1964-1973 của Đảng ta.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu đường lối, chủ trương
của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu trong một số văn kiện, nghị quyết
liên quan đến việc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ 1964-1973.
Từ đó rút ra những nhận xét về cuộc chiến tranh phá hoại của địch và
cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại của ta, rút ra kinh nghiệm chỉ đạo quý
báu của Đảng ta, góp phần vào sự nghiệp giữ vững an ninh, trật tự và chủ
quyền của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
khóa luận gồm 3 chương.
Chương 1.Đảng lãnh đạo quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá
hoại lần thứ nhất 1964-1968.
Chương 2.Đảng lãnh đạo quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá
hoại lần thứ hai 1972-1973.
Chương 3.Nhận xét và bài học kinh nghiệm.
5
Chương 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÂN DÂN MIỀN BẮC CHỐNG CHIẾN
TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ I (1964-1968)
1.1. BỐI CẢNH LỊCH SỬ TRƯỚC CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI
LẦN THỨ NHẤT
1.1.1.Thất bại của Mỹ ở miền Nam
Sau thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ, khi thấy trước không thể thực
hiện được âm mưu kéo dài, mở rộng và quốc tế hóa cuộc chiến tranh Đông
Dương, không ngăn được việc ký kết hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, đế
quốc Mỹ (dưới thời Aixenhao) ra sức thực hiện “lấp chỗ trống” ở miền Nam
Việt Nam với việc xây dựng hệ thống chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.
Chính quyền Mỹ - Diệm trong những năm 1957 – 1959 đã mở rộng
đồng thời gây cơ sở gián điệp ở miền Bắc.
Bước 2, Trong năm 1963, tập trung khôi phục nền kinh tế miền Nam,
tiếp tục hoàn tất chương trình bình định, tăng cường thêm lực lượng quân đội
Sài Gòn, tiến hành các hoạt động gây rối phá hoại miền Bắc.
Bước 3, Tập trung vào việc phát triển kinh tế miền Nam và tấn công
miền Bắc.
Từ năm 1961, dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận dân tộc
giải phóng miền Nam do Đảng lãnh đạo, quân dân miền Nam đã tiến hành
chiến đấu và từng bước thu được những thắng lợi mới trong cuộc chiến tranh
cách mạng chống lại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ- ngụy.
“Tính chung trong năm 1961, quân và dân miền Nam đã tiến hành đấu
tranh quân sự với đấu tranh chính trị trên cả 3 vùng chiến lược, đánh 15.525
trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 28.968 tên(41 lính Mỹ), thu 6.000 súng
các loại, huy động 33,8 triệu lượt người xuống đường đấu tranh chính trị trực
diện với địch. Riêng công tác binh vận đã làm cho 14.500 binh sĩ ngụy đảo
ngũ và rã ngũ. Vùng giải phóng được củng cố và giữ vững.
7
Sang năm 1962, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị tiếp tục phát
triển với những thắng lợi mới.Trên toàn miền đã đánh 19.108 trận, tiêu diệt và
làm bị thương 55.119 tên (có 324 lính Mỹ). Trên mặt trận đấu tranh chính trị
và “phá ấp chiến lược” có hàng chục triệu lượt người tham gia phá “ấp chiến
lược” đi đôi với xây dựng làng chiến đấu. Tính đến cuối 1962, trên toàn miền
Nam có 2.665 “ấp chiến lược” bị phá, 115 ấp được xây dựng thành làng chiến
đấu, giải phóng hoàn toàn 6,5 triệu/14 triệu dân.
Ở thành thị, trong 2 năm 1961-1962 công nhân và nhân dân lao động
miền Nam đã tiến hành 8.916 cuộc đấu tranh với 744.000 người tham gia.
Tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên cũng đã nhiều lần xuống đường đấu
kháng chiến toàn diện và trường kỳ, chống đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai
bán nước”[20, tr.351], quân và dân miền Nam trong 2 năm 1964-1965 đã nỗ
lực vượt bậc, đẩy mạnh chiến tranh cách mạng, liên tiếp giành những thắng
lợi lớn có ý nghĩa quyết định.
Quốc sách “ấp chiến lược” của ngụy quân bị phá vỡ từng mảng lớn.Ấp
chiến lược- “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” về cơ bản bị
phá sản.Vùng giải phóng được mở rộng.
Sau đảo chính Diệm (1-11-1963), nội bộ ngụy quân, ngụy quyền luôn
chia rẽ, lâm vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Các cuộc đảo chính,
thanh trừng, tranh giành nhau quyền lực trong nội bộ tay sai liện tục nổ ra.
Trên mặt trận quân sự, quân giải phóng liên tiếp chủ động mở các chiến
dịch tiến công với quy mô lớn, tiêu biểu là chiến dịch tiến công đông – xuân
1964-1965 với trận đánh mở màn vào ấp Bình Gĩa (Bà Rịa- Vũng Tàu) ngày
2-12-1964. Qua trận Bình Gĩa, quân ngụy Sài Gòn tỏ ra không đủ sức đương
đầu với Việt Cộng.
Thừa thắng sau chiến dịch Bình Gĩa, quân và dân miền Nam liên tiếp
tiến công giành thắng lợi trên các chiến trường nổi bật là các chiến thắng: An
Lão (Bình Định, 12-1964), Ba Gia(Quảng Ngãi,6-1965), Đồng Xoài(Biên
Hòa, 9-6-1965)..
9
Thế và lực của cách mạng miền Nam đã lớn mạnh trên cả 3 vùng chiến
lược. Kế hoạch Giônxơn- Mác Namara bị phá sản, kéo theo đó là sự sụp đổ
hoàn toàn của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.
Như vậy, ngay từ khi đế quốc Mỹ đặt chân lên đất miền Nam Việt Nam
mang âm mưu xâm lược bằng nhiều chính sách, kế hoạch với nhiều chiến
lược chiến tranh từ đơn phương đến chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” chúng
đã thất bại thảm hại. Các chiến lược này leo thang nối tiếp chiến lược khác bị
nghĩa, Mỹ còn nhằm một đòn vào phe cộng sản, uy hiếp tinh thần chống đế
quốc của các nước trung lập và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới,
ngăn chặn sự lan rộng của phong trào cộng sản, mở đường cho âm mưu mở
rộng chiến tranh ra miền Bắc, xâm lược toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Giới quân sự Mỹ đã nói rõ: “Để giữ gìn miền Nam Việt Nam, chiến
lược quân sự của Mỹ có 2 mục tiêu liên kết với nhau: Tiến hành một chiến
dịch bằng quân mặt đất và không quân đánh bại quân địch ở Nam Việt Nam
hoặc buộc họ phải rút quân, còn ở bên ngoài thì dùng không quân và hải quân
để buộc họ phải đình chỉ xâm lược”. Cụ thể “Cuộc chiến tranh không quân
chống miền Bắc bắt đầu với 3 mục tiêu chủ yếu: Nâng đỡ tinh thần cho Sài
Gòn, kích thích nó thực hiện các cuộc cải cách. Buộc Hà Nội phải thôi ủng hộ
cuộc nổi loạn và giành một thế mặc cả” [25,tr.51,60].
Như vậy, chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc không phải là một
cuộc chiến tranh độc lập mà là một bộ phận của chiến lược xâm lược miền
Nam của đế quốc Mỹ, là một bộ phận của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.Nó
ra đời nhằm cứu vãn cho tình thế nguy khốn của đế quốc Mỹ ở miền Nam.
Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc đã phát
triển liên tục từ thấp đến cao. Ngay từ đầu năm 1961, trong kế hoạch Xta-lây
– Tay-lơ, đi đôi với âm mưu “bình định” miền Nam, địch đã đề ra việc phá
hoại miền Bắc bằng gián điệp, biệt kích [9, tr.5].
11
Cụ thể, năm 1961, Tổng thống Kennơđi chỉ thị cho Bộ Quốc phòng
CIA(Cục Tình báo Trung ương Mỹ) bắt tay xây dựng các chương trình bí mật
chống phá miền Bắc dài hạn và ngắn hạn.
Ngày 11-5-1961, Kennơđi phê chuẩn “Chiến dịch chiến tranh bí mật
chống Bắc Việt Nam” của Bộ Quốc phòng Mỹ. Theo tài liệu này, Kennơđi đã
có chỉ thị rất chi tiết cho những hoạt động của chiến dịch:
Việt Nam ngăn chặn, đánh chìm hoặc bắt sống, CIA quyết định đổi hướng
xâm nhập miền Bắc bằng đường không.
Một chuỗi hoạt động bí mật chống phá cách mạng miền Bắc đã được
tăng cường về cả quy mô và cường độ. Song tất cả đều bị lực lượng an ninh
Bắc Việt bắt giữ.
Năm 1963, CIA bàn giao các hoạt động biệt kích cho Bộ Quôc phòng
Mỹ triển khai trong vòng 18 tháng với tên gọi: “Kế hoạch trở lại” (Operation
Swichback). Mác Namara lệnh thả tiếp các toán biệt kích xuống miền Bắc cùng
với lời đe dọa: “Giới lãnh đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá rất đắt
nếu còn tiếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam” [22, tr.9].
Tính chung từ năm 1961 đến năm 1964, dù cố gắng tung ra miền Bắc
hơn 60 toán biệt kích với quy mô từ nhỏ cho đến lớn, nhưng hầu hết các đợt
thả của Mỹ đều bị tiêu diệt. Âm mưu “gây chiến tranh du kích” ở hậu phương
miền Bắc đã bị đập tan... Ở miền Nam, dù đã triển khai nhiều thủ đoạn và
biện pháp chiến tranh, song Mỹ-ngụy vẫn không dập tắt được phong trào cách
mạng của nhân dân [34, tr.39].
Do vậy, đầu năm 1964, vừa được ủy nhiệm vai trò Tổng thống nước
Mỹ Giônxơn lập tức có hành động quân sự mới, phê chuẩn kế hoạch phá hoại
miền Bắc đã được khởi thảo trong những ngày cuối đời của Kennơđi.
Giônxơn lệnh cho Bộ ngoại giao bắt đầu chiến dịch gây sức ép với Hà Nội,
tạo cơ tiến côngở miền Bắc.
Ngày 22-1-1964, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đệ trình
bản kiến nghị lên Bộ trưởng Quốc phòng, hối thúc chiến tranh phá hoại Bắc
13
Việt Nam bằng lực lượng không quân và hải quân. “Cần phải sẵn sàng tiến
hành các hoạt động ngày cáng táo bạo hơn, kể cả việc ném bom các mục tiêu
then chốt ở Bắc Việt Nam và việc sử dụng lực lượng Mỹ ở mức cần thiết vào
sách các mục tiêu đánh phá ở miền Bắc đệ trình ngày 22-5-1964 bao gồm 99
điểm.Ngày 1-6-1964, tại Hônôlulu, các quan chức cấp cao Mỹ nhóm họp xem
lại lần cuối cùng kế hoạch đánh phá miền Bắc. Bản thống kê 99 mục tiêu ném
bom đã được đưa ra xem xét. Đến ngày 24-8-1964, danh sách sơ bộ 99 mục
tiêu được sửa đổi, trình bày theo một phiên bản mới với 94 mục tiêu (tập tin
mã số 1GSM-729.4. Bộ Quốc phòng Mỹ) phân thành 5 mục: 12 điểm nút giao
thông vận tải,kho cảng,bến bãi; 9 khu vực sân bay; 53 khu vực quân sự; 8 khu
vực công nghiệp; 12 đường bay trinh sát vũ trang.Trong đó, mục tiêu trọng
điểm luôn được các quan chức Mỹ nhấn mạnh là cô lập Hải Phòng, Hà Nội
với các tỉnh thành khác ở miền Bắc, cản trở việc phân phối, chuyên chở hàng
hóa nhập cảng đi khắp miền Bắc, làm cho miền Bắc không có lối nào nhận
hàng viện trợ từ bên ngoài [3, tr.69].
Về quan điểm chiến lược, học thuyết quân sự Mỹ coi việc đánh phá hậu
phương là mục tiêu mang tính quyết định vì nó phá hoại tận gốc tiềm lực quân
sự, kinh tế, loại bỏ khả năng duy trì chiến tranh.
Về biện pháp chiến tranh, Mỹ chủ trương dùng không quân ném bom
kết hợp với dùng hải quân phong tỏa, bắn phá ven biển, và tổ chức các vụ biệt
kích phá hoại.
Phương pháp tiến hành là leo thang từng bước với quy mô tăng dần và
tính chất ngày cáng ác liệt.
Về chiến thuật, Mỹ dùng hải quân khóa chặt cửa biển miền Bắc. Dùng
máy bay của không quân, máy bay của hải quân mở các chiến dịch đánh phá
ven biển, đánh phá các mục tiêu trọng điểm của nội địa miền Bắc. Dùng tàu
chiến, máy bay thả thủy lôi, bom từ trường... hòng phong tỏa cửa sông. Dùng
tàu tuần dương bắn phá làng mạc, các mục tiêu kinh tế, quân sự, các đầu mối
15
giao thông. Dùng tàu biệt kích bắt các ngư dân khai thác tin tức, gây tâm lý
Ngày 7-2-1965, Giônxơn ra lệnh cho không quân Mỹ mở chiến dịch
“Mũi lao lửa” ném bom đánh phá thị xã Đồng Hới, đảo Cồn Cỏ, chính thức
mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân trên toàn bộ
lãnh thổ miền Bắc.
Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc (19651968) nước ta có thể chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: giai đoạn leo thang: từ 7-2-1965 đến 31-3-1968.
- Giai đoạn 2: giai đoạn xuống thang: từ 1-4-1968 đến 1-11-1968.
Như vậy, với âm mưu thâm độc, hành động xúc tiến chiến tranh phá
hoại miền Bắc của Mỹ đã được gia tăng mạnh mẽ. Sau một loạt các sự kiện
nổi bật như việc xâm phạm hải phận miền Bắc, việc dựng lên sự kiện Vịnh
Bắc Bộ, Mỹ đã tiến hành chiến dịch“Mũi tên xuyên” bắt đầu cuộc chiến tranh
phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, liên tiếp leo thang một cuộc chiến tranh bẩn
thỉu khiến loài người tiến bộ phải lên án. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh phi
nghĩa đã vấp phải phản kháng mạnh mẽ, quyết liệt của quân dân miền Bắc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thấm nhuần lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ chủ
tịch, vì độc lập của Tổ quốc và vì nghĩa vụ đối với các dân tộc trên thế giới
đang đấu tranh chống đế quốc Mỹ, toàn quân và toàn dân ta quyết vượt qua
mọi khó khăn gian khổ, hy sinh, tập trung toàn lực, quyết đánh và quyết thắng
cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ xâm lược.
Trước mắt nhân dân ta, đó là con đường duy nhất, không có con đường
nào khác.
1.2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
Trước những âm mưu to lớn và thâm độc của địch với hoạt động ráo
riết tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, Đảng ta đã nhận định và thấy rõ
những âm mưu của địch từ rất sớm, từ đó đã có những chủ trương và biện
pháp đúng đắn đập tan những âm mưu và hoạt động của địch.
17
2. Đánh ra miền Bắc, mở rộng chiến tranh xâm lược của chúng ra toàn
nước ta.
3. Dùng một giải pháp chính trị nào đó để giải quyết vấn đề miền Nam.
Trong tình hình hiện nay, chúng cho rằng chưa thể áp dụng giải pháp
thứ 2 và thứ 3, cho nên chúng nặng về thực hiện giải pháp thứ 1.
...Chúng sẽ tăng thêm lực lượng, đẩy mạnh các hoạt động quân sự, tiếp
tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam; đồng thời tăng cường
các hoạt động khiêu khích phá hoại miền Bắc với quy mô lớn hơn, thậm chí
có thể dùng đến những hành động chiến tranh ở mức độ hạn chế. Chúng ta
cũng không gạt bỏ khả năng địch liều lĩnh mở rộng chiến tranh tấn công lớn
ra miền Bắc.
Đối với việc tăng cường khiêu khích và phá hoại miền Bắc, địch có thể
có những hành động như:
- Tung biệt kích, gián điệp phá hoại với quy mô lớn hơn;
- Phong tỏa ngoài khơi, uy hiếp vùng biển, đánh bắt các tàu thuyền của
ta.
- Đổ bộ đánh phá vùng ven biển rồi rút;
- Tập kích các vùng ở giới tuyến và biên giới Việt – Lào;
- Cho máy bay bắn hoặc ném bom một số căn cứ quân sự; cơ sở công
nghiệp, cầu cống, đê đập, kho tàng,...
- Thúc đẩy bọn gián điệp...bọn phản động trong Thiên Chúa giáo, bọn
thổ phỉ và các phần tử phản cách mạng khác nổi dậy chống chính quyền ta,
xúi dục bọn lưu manh, côn đồ hoạt động phá rối trật tự, trị an,...
Chúng tiến hành những âm mưu trên đây có thể bằng những hoạt động
bất ngờ với quy mô lớn, phối hợp nhiều hình thức, hoặc cũng có thể bằng
những hành động hạn chế, có từng bước để chuẩn bị dư luận và thăm dò phản
ứng của ta và phe ta” [12, tr.184].
19
20
Các lực lượng vũ trang (quân đội nhân dân, công an nhân dân vũ
trang, dân quân tự vệ) phải nhận rõ trách nhiệm nặng nề của mình
trong hoàn cảnh hiện nay, nêu cao truyền thống quyết chiến, quyết
thắng, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, triệt để chấp hành mệnh lệnh,
anh dũng quyết tâm tiêu diệt địch, đoàn kết và hiệp đồng chặt chẽ
trong bất cứ tình huống nào” [12, tr.188- 189].
Ngày 7 tháng 2 năm 1965, Mỹ chính thức mở đầu cuộc chiến tranh
bằng không quân và hải quân trên toàn lãnh thổ miền Bắc.
Ngay sau đó, Đảng ta đã họp Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (Ngày
25, 26,27 tháng 3 năm 1965) và ra Nghị quyết Về tình hình và nhiệm vụ cấp
bách trước mắt.
Đảng ta nhận định: “Đế quốc Mỹ là tên cầm đầu phe đế quốc. Nếu lần
này chúng bị thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam
thì đây sẽ là một thất bại rất lớn, mang theo những hậu quả hết sức tai hại cho
cả Mỹ và phe đế quốc. Chúng không chịu thất bại một cách dễ dàng, trái lại,
chúng rất ngoan cố.Chúng lại có tiềm lực chiến tranh rất lớn. Cho nên...chúng
có thể tăng cường các hoạt động ném bom, bắn phá miền Bắc thường xuyên
hơn, bằng những lực lượng không quân lớn hơn, trên phạm vi rộng hơn và
nhằm nhiều mục tiêu hơn; và chúng cũng còn có thể dùng tàu chiến để phong
tỏa đường biển và tập kích một số vùng ở bờ biển miền Bắc.
Vấn đề đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân ở cả hai miền là chiến thắng cho
kỳ được cuộc chiến tranh đặc biệt ở mức độ cao nhất của địch ở miền Nam và
tích cực chống lại và đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại và phong tỏa bằng
không quân và hải quân của địch ngày càng ác liệt hơn ở miền Bắc.
Nhiệm vụ cấp bách của ta ở miền Bắc lúc này là phải kịp thời chuyển
hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực