Nghiên cứu sự biến động thành phần loài ve giáp (acari oribatida) ở vườn quanh nhà, đất canh tác tại vườn quốc gia tam đảo tỉnh vĩnh phúc - Pdf 31

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Môi trường đất là một môi trường sống rất đặc thù, với cấu trúc ba thể
rắn, lỏng và khí, trong đó chứa cả một thế giới sinh vật vô cùng đa dạng và
phong phú. Nhóm động vật đất chiếm hơn 90% tổng sinh lượng hệ động vật ở
cạn và hơn 50% tổng số loài động vật sống trên Trái Đất. Chúng có vai trò lớn
trong việc phân hủy xác thải hữu cơ, làm tăng độ phì của đất và bảo vệ môi
trường đất. Nhiều nhóm sinh vật đất, trong đó có nhóm động vật Chân khớp
bé (Microarthropoda) đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ thị điều kiện sinh
thái của môi trường đất, góp phần làm sạch môi trường (Vũ Quanh Mạnh,
2003) [4].
Việc nghiên cứu sinh vật đất có ý nghĩa quan trọng trong tìm hiểu tính
đa dạng của thế giới sinh vật và các đặc tính sinh học đất. Từ đó, góp phần đề
xuất cải tạo và tăng độ phì của đất, hoặc giúp đánh giá sắp xếp các vùng địa lí
tự nhiên, các vùng sinh thái, quy hoạch và phân bố các vùng sản xuất nông
nghiệp.
Động vật Chân khớp bé gồm các đại diện chính là Acari và
Colembola. Acari là những nhóm có khả năng chống chịu tốt trước các ảnh
hưởng của các yếu tố môi trường. Với khả năng di chuyển nhanh, có số lượng
cá thể lớn nên chúng có vai trò quan trọng trong việc chỉ thị điều kiện sinh
thái của môi trường đất.
Hiện nay, với sự phát triển của đất nước, các khu du lịch cũng ngày
càng phát triển góp phần phát triển nền kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển đó thì nhu cầu về lương thực thực phẩm cũng tăng cao, dân
số gia tăng, nhu cầu sử dụng đất đai tăng dẫn đến tình trạng người dân di cư
đến vườn quốc gia sinh sống ngày một nhiều và tác động đến rừng.

1



Oribatida nói riêng đã được nghiên cứu từ rất lâu, cách đây hàng trăm năm.
Ở Đức với công trình của Hermann J.F năm 1804; ở Ý là công trình của
Canestrini G. & Fanzago F năm 1876, 1877.; ... Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu về Oribatida chỉ phát triển mạnh trong thời gian gần đây.
Theo Balogh J. và Balogh P, 1992 [12] khu hệ Oribatida trên thế giới
hiện đã mô tả khoảng 10000 loài và thực tế có thể lên đến 100000 loài . Số
lượng giống Oribatida trên thế giới đã tăng từ 700 giống đến 1000 giống chỉ
trong 20 năm gần đây.
Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của
Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt. Ông là một
trong những người quan tâm đến ve giáp đầu tiên. Từ năm 1881 đến năm
1923, ông đã mô tả khoảng 120 loài Oribatida (Hammen L.Van Der, 2009Links). Ở Canada, khu hệ Oribatida là một trong những khu hệ được nghiên
cứu khá kỹ. Theo Behan – Pelletier et al., 2000, mặc dù các dẫn liệu về sinh
thái, phân bố của chúng có nhiều, nhưng về khu hệ, số loài được biết chỉ
chiếm 1/4 số loài có trong thực tế [14].
Ở Thụy Sĩ, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cùng
với kết quả nghiên cứu của riêng mình. Schatz , 2006 đã công bố và tổng hợp
bản danh lục các loài Ve giáp đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ. Danh lục
này gồm 543 loài Ve giáp thuộc 87 họ. Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Ve
giáp đã thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ
như: Cuba (225 loài), Jamaica (28 loài).... . Hiện tại 498 loài Ve giáp đã được
ghi nhận (gồm 300 loài đã xác định tên, 198 loài còn ở dạng sp.) (Schatz,
2002) [20].

3


Ở Nga, nghiên cứu về Ve giáp phát triển mạnh từ những năm 50 của
thế kỷ XX. Cho đến nay đã ghi nhận được 300 loài Ve giáp ở tất cả các hệ
sinh thái, riêng khu hệ Oribatida sống trên cây cũng được đặc biệt nghiên cứu

bắt nên chúng được chú ý như đối tượng nghiên cứu mẫu trong nhiều nghiên
cứu sinh học, động vật hoặc phân vùng địa lý. Bên cạnh đó Microarthropoda
có khả năng di cư nhanh và có số lượng lớn nên chúng là nhóm làm phân tán
và lan truyền nhiều bệnh và giun sán kí sinh.
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva, 1987 đã giới thiệu đặc điểm phân bố và
danh pháp phân loại học của 11 loài mới cho khu hệ Oribatida Việt Nam và 1
loài mới cho khoa học [21].
Nghiên cứu khu hệ Oribatida ở Việt Nam của Mahunka, 1988 đã xác
định 15 loài mới cho khoa học, trong đó có một số loài mới thu từ mẫu đất
vùng Tam Đảo [18].
Vũ Quang Mạnh, Cao Văn Thuật, 1990 xác định được 24 loài Oribatida
ở vùng đồi núi đông bắc Việt Nam khi tiến hành nghiên cứu cấu trúc định
lượng của nhóm Microarthropoda ở 7 kiểu sinh thái, ở 5 dải độ cao khí hậu và
3 loại đất. Theo 2 tác giả này, trong nhóm Microarthropoda, Oribatida luôn
chiếm số lượng chủ yếu từ 70 – 80% tổng số lượng, còn nhóm Collembola chỉ
chiếm 10% [9].
Năm 1994, trong thông báo khoa học các biển Yên Hưng (Quảng
Ninh), đảo Cát Bà (Hải Phòng) và đồng bằng sông Hồng (Từ Liêm, Hà Nội).
Phòng) và đồng bằng sông Hồng (Từ Liêm, Hà Nội) cùng với sự phân bố của
chúng theo sinh cảnh, theo độ cao so với mặt nước biển, theo địa điểm và
khoảng cách đến biển. Đồng thời tác giả cũng đã nêu lên mối liên hệ giữa
Oribatida vùng ven biển và vùng đảo so với Oribatida sâu trong đất liền [3].
Vũ Quang Mạnh, Vương Thị Hòa, 1995 đã giới thiệu danh sách 146
loài và phân loài Oribatida ở Việt Nam và phân tích đặc điểm thành phần loài
của chúng [7].

5


Năm 1996, Vũ Quang Mạnh, Lại Văn Tạc, Nguyễn Văn Sức đã nghiên

Năm 2007, Vũ Quang Mạnh đã tổng kết và giới thiệu toàn bộ các loài
Oribatida đã phát hiện được từ trước tới nay ở Việt Nam của các tác giả trong
và ngoài nước trong công trình Động vật chí Việt Nam. Ông đã giới thiệu hệ
thống phân loại và danh pháp đầy đủ nhất của 150 loài trong khoảng 180 loài
Oribatida đã biết của khu hệ động vật Việt Nam (Vũ Quang Mạnh,2007) [6].
Nhìn chung những nghiên cứu về ve giáp ở Việt Nam đã đề cập một
cách toàn diện và có hệ thống với kết quả cao. Tuy nhiên các kết quả đạt được
mới chỉ là những bước đi định hướng ban đầu. Để tìm hiểu thấu đáo vai trò
của nhóm ve giáp sống trong môi trường đất, để đưa ve giáp ứng dụng vào
lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cứu ve giáp cần được đẩy mạnh
nghiên cứu trong những năm tiếp theo.

7


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài Oribatida (Acari: Oribatida) thuộc ngành Chân khớp
(Arthropoda), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), lớp Hình nhện
(Arachnida), phân lớp Ve bét (Acari).
2.2. Thời gian nghiên cứu
Tiến hành từ tháng 3 năm 2012 tới tháng 5 năm 2013.
2.3. Địa điểm nghiên cứu.
Các mẫu đất được thu ở 2 sinh cảnh vườn quanh nhà và đất canh tác
của vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc (bảng 2.1).
Bảng 2.1. Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên cứu
Số lượng mẫu

Sinh cảnh

Các mẫu định lượng của đất được thu làm 2 đợt ở mỗi sinh cảnh nghiên
cứu và lặp lại 6 lần ở mỗi tầng. Mỗi mẫu được cho vào một túi nilon riêng

8


được buộc chặt, bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng đất,
ngày tháng, sinh cảnh, địa điểm… lấy mẫu.
2.4.2. Trong phòng thí nghiệm
Tách lọc mẫu Oribatida
Mẫu sau khi lấy ở thực địa được đưa ngay về phòng thí nghiệm động vật
của trường để xử lý. Chúng tôi tiến hành tách ve giáp theo phương pháp phễu
lọc “Berlese – Tullgren”, phương pháp này đã “lợi dụng” tập tính của các loài
động vật đất là: hướng đất dương và hướng sáng âm khi ở đất trong phễu lọc
để khô dần chúng sẽ chui sâu xuống lớp đất phía dưới, qua lưới lọc và rơi
xuống đáy phễu.
Dụng cụ dùng trong phương pháp này gồm có phễu thủy tinh và rây lọc.
Phễu thủy tinh có đường kính miệng là 18cm, đường kính vòi là 1,5cm. Bộ
phễu được đặt trong giá gỗ, vòi phễu gắn với ống nghiệm chứa dung dịch
formon 4%, bên trong có nhãn ghi thời gian đặt mẫu, địa điểm, tầng đất….
Rây lọc hình trụ đặt trên phễu, thành của rây lọc là vành kim loại, đường kính
15cm, cao 4cm, lưới lọc bằng sợi nilon, kích thước mắt lưới (1,0 x 1,0) mm.
Trước khi cho mẫu vào rây lọc, đất được bóp nhỏ và rải đều trên mặt lớp
lưới, phần vụn lọt qua mắt lưới sẽ được đổ trở lại trước khi đặt rây vào phễu.
Mẫu được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ từ 250C –
300C, bảy ngày đêm rồi mới tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được
lọc. Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm
của cùng một tầng tại một địa điểm lại với nhau, sau đó cho vào lọ nhựa có
chứa dung dịch formon 4% để giữ cho mẫu không bị hỏng.
Định loại Oribatida

- Số lượngloài: Số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong
điểm nghiên cứu ở tất cả các lần thu mẫu.
-Số lượngcá thể: Số lượng cá thể được tính bằng tổng số cá thể của các
loài có mặt trong địa điểm nghiên cứu của tất cả các lần thu mẫu.
- Chỉ số đa dạng loài (H’):
10


s

H '= ∑
i =1

ni
n 
× ln i 
N
N

Trong đó: s - số lượng loài;
ni - số lượng cá thể của loài thứ i

N - tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu.
Giá trị H’ dao động trong khoảng từ 0 đến ∞
Chỉ số đa dạng (H’): được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng
loài trong quần xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài trong
quần xã.
- Chỉ số đồng đều Pielou (J’)
J’=


sau. Nhiệt độ bình quân năm 180C ở độ cao trên 700 m và 230C ở chân núi, độ
ẩm trung bình hàng năm trong khu vực từ 80 – 87 %, lượng mưa bình quân
năm 1603 mm (vùng có độ cao
Tam Đảo bao gồm 23 xã và thị trấn thuộc 6 huyện thị. Tổng dân số trong
vùng trên 148000 người, thuộc 29598 hộ. Số người trong độ tuổi lao động
89460, trong đó lao động nông nghiệp 84678 người, chiếm 94,65%. Tỷ lệ
tăng dân số 1,0-2,0%.
Trong những năm gần đây với sự hỗ trợ của nhà nước, vườn quốc gia
và các tổ chức khác, nhiều dự án phát triển kinh tế-xã hội vùng đệm đã được
triển khai. Do đường sá, giao thông được mở mang đi lại thuận tiện tạo điều
kện cho người dân trong vùng giao lưu phát triển kinh tế, đổi mới kỹ thuật
canh tác, cơ cấu cây trồng vật nuôi, đời sống người dân được cải thiện khá
hơn trước. Mặc dù vậy, nhìn chung trong khu vực kinh tế người dân còn rất
nhiều khó khăn do phương thức canh tác lạc hậu, năng suất cây trồng thấp,
thiếu đất sản xuất, chậm đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi, cơ cấu ngành
nghề. Những khó khăn trên của người dân là áp lực lớn đối với tài nguyên
rừng của vườn quốc gia Tam Đảo.
Giao thông
Trong khu vực vườn quốc gia có đường quốc lộ 2B từ thị xã Vĩnh Yên
đến thị trấn Tam Đảo dài 24km, đường được nâng cấp, mở rộng hiện đại phục
vụ khách du lịch và giao thương trong vùng. Phía đông bắc Tam Đảo có quốc
lộ 13A từ Thái Nguyên qua Đại Từ đến Đèo Khế, dài 80km, phía tây nam có
đường cấp phối từ Đèo Khế qua Vĩnh Linh tới hồ Đại Lải, dài 60km. Hầu hết
các xã trong khu vực đều có đường cấp phối rộng, đảm bảo giao thông thuận
lợi. Nhìn chung, trong khu vực vườn quốc gia và vùng đệm, hệ thống giao
14


thông rất phát triển phục vụ tốt cho nhu cầu đi lại, giao lưu phát triển kinh tế,
xã hội của địa phương.
Y tế, giáo dục văn hoá
Các xã quanh khu vực đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, đảm
bảo nhu cầu học tập của trẻ em trong độ tuổi đi học. Những nơi trọng điểm có


VQN

A1 A2 A1 A2
I

EUPHTHIRACARIDAE JACOT, 1930
Giống Rhysotritia Maerkel et Meyer, 1959
1 Rhysotritia ardua (C. L. Koch, 1841)
2 Rhysotritia rasile Mahunka, 1982

II

LOHMANNIIDAE BERLESE, 1916
Giống Lohmannia Michael, 1898

16

x
x


3 Lohmannia javana Balogh, 1961

x

x

x


1931
Giống Archeozetes Grandjean, 1931
8 Archegozetes longisetosus Aoki, 1965

IV

x

x

x

x

NANHERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Giống Nanhermannia Berlese, 1913
9 Nanhermannia thainensis Aoki, 1965

V

x

x

HERMANNIIDAE SELLNICK, 1928
Giống Phyllhermannia Berlese, 1916
10 Phyllhermannia similis Balogh et Mahunka,
1967

VI

ASTEGISTIDAE BALOGH, 1961
Giống Cultroribula Berlese, 1908
14 Cultroribula lata Aoki, 1961
15 Cultroribula sp.

X

x
x

x

x

CARABODIDAE C. L. KOCH, 1837
Giống Gibbicepheus Balogh, 1958
16 Gibbicepheus baccanensis Jeleva et Vu, 1987

XI

x

OTOCEPEIDAE BALOGH, 1961
Giống Acrotocepheus Berlese, 1905
17 Acrotocepheus discrepans Balogh et

x

x



Mahunka, 1967
23 Dolicheremaeus ornata (Balogh et Mahunka,

18

x

x


1967)
XII

EREMELLIDAE BALOGH, 1961
Giống Eremella Berlese, 1913
24 Eremella vestita Berlese, 1913

XIII

x

x

x

x

OPPIIDAE GRANDJEAN, 1954
Giống Pulchroppia Subias et Balogh, 1989

x

x

x

x

XYLOBATIDAE J. BALOGH ET P.
BALOGH, 1984
Giống Brasilobates Pérez-Inigo et Baggio,
1980
31 Brasilobates maximus Mahunka, 1988
Giống Setoxylobates Balogh et Mahunka,

19

x


1967
32 Setoxylobates foveolatus Balogh et Mahunka,

x

x

1967
Giống Perxylobates Hammer, 1972
33 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988

x

x

PROTORIBATIDAE J. BALOGH ET P.
BALOGH, 1984
Giống Liebstadia Oudemans, 1906

38 Liebstadia humerata Sellnick, 1928
XVII

x

HAPLOZETIDAE GRANDJEAN, 1936
Giống Peloribates Berlese, 1908

39 Peloribates pseudoporosus Balogh et

x

x

Mahunka, 1967
Giống Rostrozetes Sellnick, 1925
40 Rostrozetes areolatus (Balogh, 1958)

x
19

Tổng số loài

Các họ còn lại chỉ có 1 loài/họ (chỉ chiếm 2,5% tổng số loài).
Có 2 họ có số giống nhiều nhất là 4 giống / họ (Oppiidae Grandjean,
1954 ; Xylobatidae J. Balogh et P. Balogh, 1984).
Một họ có 3 giống / họ (Lohmanniidae Berlese,1961).
Hai họ có 2 giống/ họ (Otocepeidae Balogh,1961 ; Haplozetidae
Grandjean, 1936). Các họ còn lại chỉ có 1 giống/ họ.

21


Bảng 3.2. Thành phần phân loại học ve giáp ở vườn quanh nhà, đất canh
tác tại vườn quốc gia Tam Đảo
Tỷ lệ %

Số loài
TT

Họ

so với tổng số

Số
giống

Đã

Chưa

xác


Lohmanniidae

3

5

0

5

12,50

11,11

3

Trhypochthonidae

1

1

0

1

2,50

3,70


3,70

6

Microtegeidae

1

1

0

1

2,50

3,70

7

Eremulidae

1

1

0

1


2

5,00

3,70

10

Carabodidae

1

1

0

1

2,50

3,70

11

Otocepheidae

2

7


4

0

4

10,00

14,81

14

Mochlozetidae

1

1

1

2

5,00

3,70

15

Xylobatidae


Haplozetidae

2

2

0

2

5,00

7,41

27

38

2

40

100

100

Tổng số

22


Brasilobates maximus Mahunka, 1988; Perxylobates brevisetus Mahunka,

23


1988 ) ; Perxylobates vietnamensis (Jeleva et Vu, 1987); Peloribates
pseudoporosus Balogh et Mahunka, 1967).
- Tại sinh cảnh vườn quanh nhà là 37 loài, tầng 0 – 10 cm là 19 loài, ở
tầng đất từ 11 - 20 cm là 18 loài. Trong đó số loài có mặt ở cả hai tầng là 10
loài (Lohmannia javana Balogh, 1961 ; Papilacarus aciculatus (Berlese,
1905) ;

Papilacarus

undrirostratus

Aoki,

arboriseta
1964;

Vu

et

Archegozetes

Jeleva,

1987;


A1

A2

A1

A2

19

17

19

18

27

Số loài chung
Số lượng cá thể

VQN

153

27
121

173

3.2.2. Số cá thể
Kết quả nghiên cứu cho thấy: mặc dù số loài ghi nhận ở vườn quanh
nhà tương đương với số loài ở đất canh tác nhưng số cá thể ở vườn quanh nhà
lại nhiều hơn ở đất canh tác (tương ứng: vườn quanh nhà: 312 cá thể, đất canh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status