Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và thành phần hóa học của tinh dầu của loài biến hóa núi cao (asarum balansae franch ) ở một số tỉnh phía bắc việt nam - Pdf 31

MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.) thuộc chi Hoa tiên (Asarum
L.), họ Mộc hương (Aristolochiaceae). Các loài trong chi Hoa tiên đều là cỏ
nhiều năm, mọc thành từng đám nhỏ ở những nơi ẩm ướt, ở gần các khe núi,
ven đường dưới tán rừng kín thường xanh. Hiện cây phân bố tại một số khu
vực rừng trên núi cao như : Hà Giang, Cao Bằng, Hà Nội( Ba Vì).
Biến hóa núi cao ( Asarum balansae Franch.) là loài quý hiếm, có giá trị
sử dụng cao. Tại một số địa phương miền núi nước ta, cây được sử dụng làm
thuốc chữa ho, chữa cảm sốt. Mấy năm gần đây, các loài Biến hóa núi cao (
Asarum balansae Franch.) đã bị khai thác tận lực để làm thuốc và bán qua
Trung Quốc. Bên cạnh đó rừng nguyên sinh cũng bị tàn phá nhiều, nơi sống
của các loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.) cũng ngày càng bị
thu hẹp nên tính đa dạng của các loài này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Đến nay, tất cả các loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.) ở Việt
Nam đã được đưa vào Nghị định 32/2006 của Thủ tướng Chính phủ.
Những nghiên cứu trong nước về những loài trong chi Hoa tiên đặc biệt
là loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.) hầu như chưa được đề
cấp đến, nếu có cũng chỉ ở mức độ mô tả đơn giải, chưa có tính hệ thống. Từ
thực tế hiện trạng trữ lượng ngoài tự nhiên và các nguy cơ đe dọa của loài
Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.), chúng tôi tiến hành triển khai đề
tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và thành phần hóa
học của tinh dầu của loài biến hóa núi cao(Asarum balansae Franch.) ở
một số tỉnh phía Bắc Việt Nam”.


Mục đích nghiên cứu
Cung cấp các thông tin về đặc điểm sinh học, sinh thái, thành phần hóa
học của tinh dầu của loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.)
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí

Lu et al. (2010) [21] đã bổ sung thêm 5 loài mới ở Đài Loan là A.
chatienshanianum, A. tawushanianum, A. villisepalum, A. yaeyamense và A.
satsumense, nâng tổng lên 11 loài thuộc chi Asarum.
Hwang Shu-Mei và Wong Siu Tak-Ping (1990) [24] đã phát hiện loài
mới thuộc chi Asarum và đặt tên là A. hongkongense S. M. Hwang et T. P.
Wong Siu. Cho đến nay, A. hongkongense là loài duy nhất của chi Asarum
mới gặp phân bố tại Hồng Kông.
Ohwi J. (1965) [28] đã thống kê có 4 loài Asarum caulescens Maxim.,
A. sieboldii Miquel, A. dimidiatum F. Maekawa và A. heterotropoides F.
Schmidt. Cho đến năm 1991, Satake và Momiyama (1982) [29] và Sugawara
T. (1991) [30] đã thống kê được 40 loài thuộc chi Asarum tại Nhật Bản.
Trong những công trình nghiên cứu tiếp theo, Sugawara T. (1996) [31] đã bổ
sung thêm hai loài mới A. mitoanum T. Sugaw., sp. nov. và A. majale T.
Sugaw. cho hệ thực vật ở quần đảo này.
Oh Byoung-Un và nnk(1997) đã công bố một loài mới là A. misandrum
B. Oh et J. Kim, nâng tổng số loài thuộc chi Asarum L. lên 7 loài và 3 thứ [27].


Ở Malaysia, hiện có 6 loài A. arifolium Michaux; A. caudatum Lindl.; A.
europaeum L.; A. virginicum L.; A. canadense L. và A. sieboldii Miq. var.
seoulensis Nakai.
Ở Bắc Mỹ, có 6 loài thuộc chi Asarum [26], trong đó có 2 loài khá phổ
biến và có vùng phân bố rộng: một loài ở phía Đông (Asarum canadense) và
một loài ở phía Tây (Asarum caudatum); 2 loài đặc hữu ở California (A.
lemmonii và A. hartwegii); một loài khác đặc hữu ở Oregon (một tiểu bang ở
vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ) là Asarum wagneri và một loài
khác nữa (A. marmoratum) được trồng ở phía Tây Oregon và phía Bắc
California; có 2 thứ là Asarum canadense var. canadense và Asarum
canadense var. reflexum ở các tiểu bang Carolinas, Virginia và Georgia thuộc
vùng Tây Bắc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

Asarum caudigerum phân bố ở Hương Sơn (Hà Tĩnh) là: safrol (chiếm
96,2%), nonan (1,72%), 1,6-octadien-3-ol, 3,7-dimethyl (0,22%), axetaldehyt
(0,09%), -caryophyllen (0,58%), benzen,1-(1,1-dimethylethoxy)-2-methyl
(0,18%), elemixin (0,64%) và 4,6-guaiadien (0,25%).
. Trần Huy Thái và nnk. (2010) [11Error! Reference source not
found.], bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC/MS), đã xác định được
31 hợp chất có trong tinh dầu từ thân và lá của loài Hoa tiên (Asarum
glabrum) phân bố ở Hà Giang, trong đó, thành phần hóa học chính của tinh
dầu là safrol (chiếm 42,24%), apiole (27,11%) và myristicin (6,13%).
Như vậy, cho đến nay những nghiên cứu về loài Biến hóa núi cao
(Asarum balansae Franch.) còn rất ít, những nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu
là nhằm phân loại và xác định vùng phân bố để phục vụ cho công tác bảo tồn.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về các đặc tính sinh học, sinh thái, thành phần hóa
học của loài cây này còn rất hạn chế.


CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Loài Biến hóa núi cao (Asarum balansae Franch.) ở Việt Nam, dựa trên
cơ sở mẫu vật và tài liệu.
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Hoa tiên trên thế giới và của Việt
Nam, nhất là các chuyên khảo.
Mẫu vật: Là loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae Franch.) bao gồm
các mẫu khô hiện được lưu giữ tại các phòng tiêu bản thực vật của Viện Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Viện Dược liệu (HNPM), Trường Đại học
Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), Các mẫu tươi thu được
tại Na Hang (Tuyên Quang), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Nội), Quản Bạ
(Hà Giang).
Gồm 20 mẫu thu tại Na Hang (Tuyên Quang), kí hiệu NAT11121; 10

Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật của loài Biến hóa núi cao
(Asarum balansae Franch.)
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm
mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan
khác.
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm của loài,
chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh
các nội dung khoa học khác của đề tài.
– Soạn thảo loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy
phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:


Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên
tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả
công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính
và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên
đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu
chuẩn (Loc. class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy
ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng,
ghi chú (nếu có).
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc
truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành,
lá,...) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt).
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã
phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu
typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài. Bản
mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong
chi. Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác
(thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những
ghi chú bổ sung.

Nhân giống từ hom: Thu cây vào buổi sáng sớm, lựa chọn những cây
khỏe mạnh, tỉa lá và cắt hom với kích thước dài từ 15-20 cm. Lựa chọn 2 loại
hom: Hom thân - là phần gốc của cây; hom ngọn - phần ngọn, giữ lại lá non.
Cắt hom xong, để vào chậu nước đủ ngập 3-5 cm phần gốc; đem giâm hom
vào luống hoặc túi PE đã được làm đất, góc nghiêng của hom là 60 o, khoảng
cách các hom 20 cm, chiều sâu từ 4-7 cm [8].


Chăm sóc và bảo quản: Rừng giống và vườn giống được tưới nước hàng
ngày, bảo vệ cẩn thận bằng hàng rào chắn xung quanh, để tránh trâu bò và các
loại động vật khác tàn phá.
2.5.3. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học của tinh dầu
Đối tượng nghiên cứu là loài Biến hóa núi cao (Asarum balansae), thu tại
Na Hang (Tuyên Quang);
Mẫu vật được lưu giữ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Nguyên liệu chưng cất là toàn cây (thân lá và rễ) của các loài nói trên
được chưng cất bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước có hồi lưu
trong thiết bị Clevenger với thời gian 3 giờ ở áp suất thường. Hàm lượng tinh
dầu được tính theo nguyên liệu khô không khí và nguyên liệu khô tuyệt đối.
Hòa tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng natrisunfat khan trong 1ml
metanol tinh khiết sắc ký hoặc loại dùng cho phân tích phổ.
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS): Việc phân tích định tính được thực hiện
trên hệ thống thiết bị sắc ký khí và phổ ký liên hợp GC/MS của hãng Agilent
Technologies HP 6890N. Agilent Technologies HP 6890N ghép nối với Mass
Selective Detector Agilent HP 5973 MSD. Cột HP-5MS có kích thước 0,25
m x 30 m x 0,25 mm và HP1 có kích thước 0,25 m x 30 m x 0,32 mm.
Chương trình nhiệt độ với điều kiện 60 oC/2 phút; tăng nhiệt độ 4oC/1 phút
cho đến 220oC, sau đó lại tăng nhiệt độ 20 o/phút cho đến 260oC; với He làm
khí mang. Tra thư viện phổ Willey/ Chemstation HP [25].

cao mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đất giàu mùn; độ ẩm, độ xốp và ánh sáng
cao; thoáng khí. Đôi khi thấy xuất hiện trên các hốc đá. Có thể bắt gặp Biến
hóa núi cao ở những nơi ẩm ướt, ven các suối, dưới tán rừng cây gỗ nhỏ, chủ
yếu ở hai bên đường mòn đi lại trong rừng; phân bố ở các độ cao từ 200 đến
1.200 m so với mặt nước biển (Ảnh 1).


3.1.3.1. Một số đặc điểm về hình thái của quả và hạt loài Biến hóa núi
cao( Asarum balansae Franch.)
Các đặc điểm về hình thái của quả và hạt loài Biến hóa núi cao( Asarum
balansae Franch.) được thể hiện qua bảng 1.
Bảng 1. Một số đặc điểm hình thái của hạt và quả loài Asarum
balansae Franch.
Hạt
STT

Chiều dài (mm) Chiều ngang (mm)

Trọng lượng

Số hạt/quả

(g)

1

0,41

0,22


0,013

20

5

0,44

0,22

0,012

22

6

0,46

0,20

0,010

16

7

0,40

0,21


0,011

30

20

0,41

0,22

0,012

22

TB

0,44

0,22

0,012

19,5

Dẫn liệu ở bảng 1 cho thấy, chiều dài trung bình của hạt là 0,44 mm,
chiều ngang trung bình là 0,22 mm và trong lượng trung bình của hạt là 0,012
g. Số lượng hạt trung bình ở mỗi quả là 19,5.


3.1.3.2 Một số đặc điểm sinh thái của loài Biến hóa núi cao( Asarum


cấp I


Niếng

Lung
Khăm

Độ
Vị trí

cao
(m)

Độ
dốc

Nhiệt
độ
(oC)

Độ
(%)

ẩm

Độ gặp

1


626

58o

24,5

75

Không gặp

1

Chân núi

420

0o

24,5

83

Thường gặp

2

Sườn núi

446

Mật

Nguồn gốc tái sinh
OTC

Khu

cấp

vực

I

Số
cây

tái
Chồi

Hạt

Số

Số

cây

Niếng

Lung


Xấu
Số
cây

%

1

133 117 97,5 3

2,5 120

5.000 11

10

47 39

60 51

2

4

0

0

0


0

0

0

0

0

0

0

0

1

264 85

76,6 26

23,4 111

4.625 85

76,6 18 16,2 8

7,2


0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Bảng 3 cho thấy, ở 2 khu vực, mật độ tái sinh tại chân núi (OTC1) khá
cao (từ 4.625 đến 5.000 cây/1000m2), trung bình 4.812 cây/1000m2, trong đó,
cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi chiếm ưu thế (từ 76,6-97,5%); cây tái sinh
có nguồn gốc từ hạt chiếm tỷ lệ tương đối thấp (từ 2,5-23,4%). Tỷ lệ tái sinh
có nguồn gốc từ chồi ở khu vực Nà Niếng (97,5%) cao hơn so với ở Lung
Khăm (76,6%); trong khi đó, tỷ lệ tái sinh có nguồn gốc từ hạt ở khu vực Nà
Niếng (2,5%) lại thấp hơn ở Lung Khăm (23,6%). Điều này cho thấy, tại khu

Trên thế giới, phân bố ở Trung Quốc và Nhật Bản.
3.1.5. Giá trị sử dụng
Đây là loài có nguồn gen quý hiếm, được phân hạng EN (Nguy cấp)
trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)[5] và Danh mục rừng, Động vật rừng nguy


cấp, quý, hiếm (nhóm 2) của Nghị định số32/2006/NĐ – CP ngày 30/3/2006
của Chính phủ để hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
Tại một số địa phương miền núi nước ta, loài biến hóa núi cao được sử
dụng làm thuốc chữa ho, chữa cảm sốt và viêm phế quản. Tại khu bảo tồn
thiên nhiên (KBTTN) Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, lá được
người Tày sử dụng làm men rượu để sản xuất rượu ngô (rượu men lá), còn
người Dao sử dụng rễ làm thuốc chữa ho.
3.2. Khả năng nhân giống của loài Biến hóa núi cao( Asarum
balansae Franch.)
Từ cơ sở trên, chúng tôi tiến hành nhân giống đối với loài Asarum
balansae tại 2 địa điểm ở bản Bung là tại rừng giống (thung Lung Khăm) và
tại vườn giống (bản Bung), số liệu thu được như bảng 4.
Qua bảng 4 cho thấy, tỷ lệ phát triển từ hom thân rễ cao hơn so với hom
ngọn; tỷ lệ phát triển từ hom ngọn kích thích cao hơn so hom ngọn tự nhiên.
Đặc biệt, chưa thấy cây nảy mầm từ hạt (Ảnh 9).


Bảng 4. Đặc điểm tái sinh nhân tạo của loài Biến hóa núi cao
(A. balansae)
Khu vực
nhân

Loại hom


689

570

Rừng

(1.000 hom)

%

75

68,9

57

giống

Hom ngọn

Số lượng

435

402

386

%


114

108

98

(120 hom)

%

95,00

90,00

81,6

Hom ngọn

Số lượng

120

120

118

(120 hom)

%


rễ
(1.000 hom)

KT
(500 hom)

Vườn
giống


3.3. Thành phần hóa học của tinh dầu của loài Biến hóa núi cao
(Asarum balansae Franch.)
3.3.1. Quy trình chưng cất tinh dầu của loài Biến hóa núi cao (Asarum
balansae Franch.)
Nguyên liệu là toàn cây của các loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae
Franch.) thu hái được ở KBTTN Na Hang. Thân lá và rễ của cây sau khi xử lý
sơ bộ được cắt nhỏ (rửa sạch, bỏ những lá sâu, dập) hoặc say nhuyễn với
nước cho vào bình cầu (nồi áp suất). Ráp hệ thống chưng cất và tiến hành
chưng cất tinh dầu. Sau đó để nguội, dùng ống đong chiết lấy phần tinh dầu
phía trên, làm khan bằng Na2SO4 thu được tinh dầu sản phẩm (Ảnh 6,7,6).


Sơ đồ tách chiết tinh dầu của loài Biến hóa núi cao( Asarum balansae
Franch.)
Nguyên liệu


Xử lý sơ bộ



núi cao (Asarum balansae.) ở Việt Nam

STT

Asarum

Thành phần

balansae

hóa học

(%)

1

α-pinene

2

Camphene

3

β-pinene

0,42

4


α –humulene

0,13

10

germacren D

0,55

11

β-selinene

0,16

12

Elemicine

71,53

13

germacren b

0,55

14


0,14

Tổng

98,90

Hàm lượng tinh dầu của loài Asarum balansae đạt 0,02% (theo nguyên
liệu khô không khí). Tinh dầu là chất lỏng màu vàng chanh, có mùi thơm nhẹ
và nặng hơn nước. Tinh dầu từ loài Aarum balansae chứa 18 hợp chất, chiếm
98,9% tổng hàm lượng tinh dầu. Thành phần hóa học chính của tinh dầu là
elemicin (71,53%) và trans isoelemicin (19,85%) (bảng 5).
Như vậy có sự đa dạng và khác nhau về thành phần hóa học và hàm
lượng các thành phần chính trong tinh dầu của các loài nói trên. Loài Asarum
balansae có thành phần chính trong tinh dầu là hợp chất elemicin (71,53%);
trans isoelemicin (19,85%); loài Asarum cordifolium cũng có thành phần
chính của tinh dầu là hợp chất elemicin (84,38%). Trong khi đó loài Asarum
petelotii có thành phần chính của tinh dầu là myristicin (59,06%) và dilapiol
(17,67%); loài Asarum yunnanense có thành phần chính là hợp chất E -methyl
isoeugenol (47,39%), cis-β-elemen (5,94%), bicyclogermacren (4,58%),
myristicin (4,26%), δ-elemen (4,90%).


KẾT LUẬN
Từ các kết quả và những dẫn liệu thu được, chúng tôi rút ra được một số
kết luận dưới đây:
1. Đã cung cấp thêm một số dẫn liệu mới về đặc điểm sinh học, sinh thái,
phân bố, công dụng của loài Biến hóa núi cao (Asarum balansae Franch.).
2. Loài Asarum balansae phân bố tập trung chủ yếu ở các dải đất tại
chân núi, tạo thành những đám nhỏ. Mật độ phân bố đạt 1.611
cây/1.000m2Trong đó, đáng chú ý là cây tái sinh có nguồn gốc từ chồi với loài


Đỗ Huy Bích và nnk.,(2006)Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt
Nam, tập 1, 928-930. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.

4.

Bộ Khoa học và Công nghệ (2008), Quy phạm soạn thảo Thực vật chí
Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội.

5.

Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
(2007), Sách Đỏ Việt Nam, phần II - Thực Vật. Nxb. Khoa học tự nhiên
và Công nghệ. Trang: 94-98.

6.

Võ Văn Chi & Trần Hợp (1999-2001), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, tập 12. Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

7.

Võ Văn Chi, (2003), Từ điển thực vật thông dụng, Nxb. Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội. Trang: 375-377.

8.

Dự án VN 06/011 (2010), Tài liệu kỹ thuật. Bảo tồn và phát triển nguồn gen
cây quí hiếm của hệ sinh thái núi đá vôi xã Thí Phìn Tùng, Đồng Văn, Hà
Giang. Nxb KHTN & CN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status