KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Nghiên cứu đa dạng và bảo tồn thực vật, đã trở thành một chiến lược trên
toàn thế giới, nhằm phục vụ yêu cầu xây dựng qui hoạch, phát triển kinh tế,
bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ nguồn gen, bảo vệ môi trường, ...
Các loài cây thuộc bộ Bồ hòn ở Trạm đa dạng sinh học Mê Linh đa số là
cây gỗ, có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái, trong đó một số loài là
cây gỗ lớn cho gỗ tốt, một số loài là cho quả ăn, một số được dùng làm
thuốc,... Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Góp phần nghiên cứu sự đa
dạng loài và biện pháp bảo tồn các loài cây thuộc bộ Bồ hòn (Sapindales
Dumort.) tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh”.
Mục đích nghiên cứu:
Khảo sát tính đa dạng của bộ Bồ hòn (Sapindales) tại Trạm đa dạng sinh
học Mê Linh thông qua đó góp phần bảo tồn và phát triển của bộ Bồ hòn tại
Trạm.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
Ý nghĩa khoa học: Góp phần bổ sung vốn kiến thức về đa dạng thực vật
và chuẩn bị cho những nghiên cứu tiếp theo về đa dạng bộ Bồ hòn ở Việt
Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ cho việc khai thác và sử
dụng hợp lý nguồn tài nguyên bộ Bồ hòn tại khu vực nghiên cứu, mang lại lợi
ích chung cho cộng đồng.
Điểm mới của đề tài:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về đa dạng bộ Bồ hòn tại Trạm đa
dạng sinh học Mê Linh.
Phạm Thị Mai Hương
Trang 1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Cho đến nay, hầu hết các quốc gia đều đã và đang nghiên cứu đánh giá
hay có những công trình về đa dạng thực vật trên cả nước hay mỗi khu vực ở
các mức độ khác nhau, được công bố trong các tập sách chuyên khảo như
Thực vật chí, Danh lục các taxon, tài nguyên, Sách đỏ, Danh lục đỏ, nghiên
cứu các taxon,... cũng như các bài báo trên tạp chí, báo cáo khoa học trong
các hội nghị, hội thảo,...
1. 2. Nghiên cứu về đa dạng thực vật ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, do sự khác biệt lớn
về khí hậu từ vùng gần Xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa
dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên, cho nên hệ thực vật rất
phong phú và được coi là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính
đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều loài có giá trị khoa học và kinh tế
cao, loài đặc hữu, nhiều nguồn gen quý hiếm.
Theo các tài liệu đã công bố, Việt Nam có khoảng 17000 loài thực vật,
trong đó ngành Tảo có 2200 loài, ngành Rêu 480 loài, ngành Khuyết lá Thông
1 loài, ngành Thông đất 55 loài, ngành Cỏ tháp bút 2 loài, ngành Dương xỉ
700 loài, ngành Hạt trần 70 loài và ngành Hạt kín 13000 loài. [2].
Việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam được
tiến hành hơn 2 thế kỷ, nhưng các công trình mới chỉ được công bố nhiều ở
khoảng 50 năm trở lại đây.
Ngay từ cuối thế kỷ 18, nhà thực vật học người Pháp J. Loureiro (1790) đã
biên soạn cuốn sách đầu tiên về đa dạng thực vật Việt Nam của hệ thực vật
Nam Bộ. Tiếp theo là tác giả J. B. L. Pierre (1790) về hệ Cây gỗ rừng Nam
Bộ. Nửa đầu thế kỷ 20 các nhà thực vật học Pháp dưới sự chủ biên của H.
Lecomte (1907-1952) đã lần lượt xuất bản bộ sách Thực vật chí đại cương
Đông Dương gồm 7 tập với 7004 loài, 1850 chi, 289 họ (ngành Hạt kín có
sinh ra kiểu thực vật, các yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ
thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu
hợp. Bên cạnh đó là các công trình Thảm thực vật Nam Trung bộ của Schimid
(1974) và Trần Ngũ Phương (1970),... [16, tr. 6].
Đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình là kết quả nghiên
cứu, điều tra, đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam của các tác giả trong nước
và nước ngoài rất có giá trị. Lê Khả & cộng sự (1969-1976) nghiên cứu về
Phạm Thị Mai Hương
Trang 6
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
các loài thực vật thường gặp ở Việt Nam gồm 6 tập. Phạm Hoàng Hộ (19701972) nghiên cứu các loài thực vật ở miền Nam Việt Nam với 5326 loài [16,
tr. 5] tiếp sau đó tác giả này có công trình nghiên cứu thực vật cả nước (19911993, 1999-2000) với số lượng loài khá đầy đủ phục vụ tốt việc nghiên cứu
đa dạng thực vật Việt Nam đến ngày nay. Trong 2 số tạp chí chuyên đề của
Tạp chí Sinh học (1994-1995) nhiều tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu
thực vật các taxon với hàng trăm loài. Đáng chú ý gần đây công trình là bộ
sách 3 tập Danh lục các loài thực vật Việt Nam của nhiều tác giả (2001, 2003,
2005) đã công bố danh sách hơn 20000 loài thực vật trong cả nước; là tài liệu
được công nhận mới và đầy đủ nhất, đáng tin cậy nhất từ trước đến nay; bộ
sách là cơ sở tra cứu, chỉnh lý tên khoa học các taxon và nhiều thông tin khác.
Nguyễn Tiến Bân & cộng sự (1996, 2007) công bố hàng trăm loài thực vật
quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng ở Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (2000) thống kê toàn bộ sự đa dạng của cây rừng Việt
Nam với hàng nghìn loài. Một công trình rất có giá trị nghiên cứu đa dạng
Bên cạnh những công trình nêu trên là các bài báo, sách chuyên khảo,
các hội thảo trong nước và quốc tế, các công trình nghiên cứu đa dạng thực
vật thể hiện ở bộ mẫu thực vật được điều tra thu thập bảo quản bền vững lâu
dài ở các phòng Tiêu bản thực vật trong và ngoài nước như: Bảo tàng quốc
gia lịch sử tự nhiên Paris (Pháp), Vườn Thực vật Hoàng Gia Anh – Kew
(Anh), Vườn Thực vật New York (Hoa Kỳ), Viện thực vật Komarốp (Nga),
Phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN) với hơn 1
triệu mẫu tiêu bản, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HNU) với khoảng 1
triệu mẫu, Viện Sinh học nhiệt đới (VNM) có khoảng 500 nghìn mẫu,.... [12].
1. 3. Những nghiên cứu về bộ Bồ hòn (Sapindales Dumortier, 1829) ở
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh
Trạm đa dạng sinh học Mê Linh có diện tích hơn 170,3 ha (thuộc xã
Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc) là khu vực nằm bên cạnh
VQG Tam Đảo và là khu vực đầu nguồn của con suối Đại Lại do đó thảm
thực vật ở đây hết sức phong phú. Theo Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2001)
hệ thực vật tại đây có 171 họ thực vật với 669 chi và 1226 loài, trong đó bộ
Bồ hòn có 5 họ với 25 loài. Đây là công trình duy nhất đề cập đến thành phần
các loài cây thuộc bộ Bồ hòn (Sapindales), nhưng không đánh giá về giá trị tài
nguyên và bảo tồn. [9].
Phạm Thị Mai Hương
Trang 8
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
gần như vuông góc với dông chính. Độ dốc trung bình từ 15-25, nhiều nơi
dốc từ 30-35; độ cao từ 100-520 m so với mực nước biển. [9].
2.2.3. Địa chất và thổ nhưỡng
– Địa chất: Khu vực nghiên cứu là một bộ phận của dãy núi Tam Đảo nên có
cấu tạo địa chất chủ yếu bằng hệ tầng phún trào axit gồm các lớp Rionit,
Daxit kết tinh xen kẽ nhau, có tuổi 260 triệu năm.
– Thổ nhưỡng: Nhìn chung các loại đá mẹ khá cứng, thành phần khoáng có
nhiều thạch anh, Muscovit, khoáng phong hoá, hình thành nên các loại đất có
thành phần cơ giới nhẹ, các hạt thô dễ bị rửa trôi và xói mòn, nhất là những
nơi dốc cao bị xói mòn mạnh để trơ lại phần đá rất cứng (điển hình là khu vực
có độ cao 300-400m).
Theo nguồn gốc phát sinh trong vùng có hai loại đất chính sau:
+ Ở độ cao trên 300 m là đất Feralit mùn đỏ vàng.
+ Ở độ cao dưới 300 m là đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại
đá khác nhau.
Ngoài ra còn có đất dốc tụ phù sa ở ven các suối lớn trên độ cao dưới
100m. Thành phần cơ giới của loại đất này là trung bình, tầng đất dày, độ ẩm
cao, màu mỡ, đã được khai phá trồng lúa và hoa màu.
Đất thuộc loại chua với pH là 3,5-5,5, độ dày tầng đất trung bình 30-40cm.
2.2.4. Khí hậu thuỷ văn
– Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa.
– Thuỷ văn: Là một trong những khu vực đầu nguồn của nhiều suối nhỏ đổ
vào hồ Đại Lải.
Sông suối: có một suối nhỏ, nước chảy quanh năm, bắt nguồn từ điểm
cực Bắc chảy dọc biên giới phía Tây giáp với VQG Tam Đảo và gặp suối
2.2.6. Tình hình dân sinh kinh tế
Khu vực nghiên cứu nằm trên địa bàn xã Ngọc Thanh nơi có diện tích
đất lâm nghiệp chiếm 51,8% tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã, với mật độ
dân số 139 người/km2, dân tộc Kinh chiếm 53%, dân tộc thiểu số chiếm 47%,
thu nhập bình quân đầu người 3 triệu đồng/người/năm. Trong khu vực nghiên
Phạm Thị Mai Hương
Trang 11
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
cứu không có dân sinh sống, tuy nhiên do tập quán của dân quanh vùng nên
vẫn có một số tác động tiêu cực tới diện tích rừng trong khu vực nghiên cứu
như: thả rông gia súc sau mùa vụ, lấy củi, măng và khai thác lâm sản phi gỗ.
2. 3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 12/2009-04/2011.
2. 4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu “Đa dạng loài và biện pháp bảo tồn các loài cây thuộc bộ
Bồ hòn (Sapindales) tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh”, chúng tôi dựa vào
phương pháp nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997 và 2007) [13], [15].
Để nhận biết bộ Bồ hòn và các họ trong bộ này, chúng tôi dựa vào các tài liệu
Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam của
Nguyễn Tiến Bân (1997) [1] và Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật của
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [13]; việc định loại mẫu vật dựa vào tài liệu Cây
cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2000) [8]; việc chỉnh lý tên khoa học dựa
vào Danh lục các loài thực vật Việt Nam do Nguyễn Tiến Bân chủ biên [2].
liệu rất quan trọng.
2. Nghiên cứu thực địa: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực
địa để thu thập mẫu vật, phân tích mẫu ở trạng thái tự nhiên, tìm hiểu các
thông tin về sinh thái, phân bố và các thông tin có liên quan khác.
Xác định địa điểm và tuyến thu mẫu: Để thu mẫu đầy đủ và đại diện
cho khu vực nghiên cứu tiến hành xây dựng các tuyến điều tra, các ô tiêu
chuẩn tại các hệ sinh thái để tiến hành điều tra thu thập mẫu vật, nghiên cứu
và theo dõi đặc điểm sinh học các loài trong bộ Bồ hòn, vì không thể đi hết
các điểm. Tuyến đường đi phải xuyên qua các môi trường sống của khu vực
nghiên cứu, có thể chọn nhiều tuyến theo các hướng khác nhau cắt ngang các
vùng đại diện cho khu vực nghiên cứu. Tuyến thu mẫu được thiết lập phụ
thuộc vào địa hình khu vực nghiên cứu. Tùy yêu cầu của công tác nghiên cứu
mà thu mẫu theo tuyến hoặc theo ô tiêu chuẩn.
Xây dựng ô tiêu chuẩn đặc trưng cho toàn bộ quần xã nghiên cứu. Trong
phạm vi của đề tài xây dựng ô tiêu chuẩn với kích thước 50 x 40 m.
Phạm Thị Mai Hương
Trang 13
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Phương pháp thu mẫu: Chất lượng mẫu đặc trưng cho từng loài, một
mẫu vật đầy đủ là mẫu vật có cả cơ quan dinh dưỡng (cành, lá,…) và cơ quan
sinh sản (hoa, quả).
Dùng kéo cắt cành để thu mẫu, ở cây cao có thể trèo hoặc dùng kéo
chuyên dụng để cắt. Mỗi cây thu từ 3-10 tiêu bản hoặc nhiều hơn, cây có hoa
thành chồng nhỏ và dùng cặp mắt cáo để ép chặt mẫu (mỗi kẹp khoảng 15-30
mẫu), các cặp mẫu được sấy bằng tủ sấy ở nhiệt độ 70-800C trong 3 ngày liên
tục hoặc phơi nắng đến khô, trong thời gian này, mỗi ngày nên thay báo mới
để mẫu chóng khô. Nếu không có điều kiện để làm khô mẫu ngay thì các mẫu
được bó chặt và cho vào túi polyetylen, sau đó đổ cồn (50-70o) vừa đủ thấm
vào các bó mẫu để bảo quản, thời gian bảo quản không nên quá một tháng.
Phân chia mẫu theo họ và chi: trước khi phân tích các mẫu cây phải biết
mẫu cây thuộc họ nào, bằng cách sắp xếp theo từng họ. Để làm nhanh cần có
các chuyên gia có kinh nghiệm về phân loại bộ Bồ hòn để giảm nhẹ công việc
và thời gian hoặc chúng ta theo bảng chỉ dẫn nhận nhanh các họ của Nguyễn
Nghĩa Thìn (1997). sau đó dùng các khóa xác định họ và chi để xác định.
Đối chiếu mẫu nghiên cứu với bộ mẫu lưu: Chúng tôi sẽ mang mẫu của
chúng tôi so với bộ mẫu lưu để có tên sơ bộ từ đó có cơ sở để xếp riêng tên
mẫu hay vẫn tiếp tục sử dụng khóa định loại để xác định tiếp.
3. Xử lý mẫu vật và phân tích mẫu
Dụng cụ: Kính lúp (bao gồm kính lúp thông thường và kính lúp màn
hình), kim mổ, kẹp, khay mổ, thước đo kích thước mẫu, máy ảnh,...
Phương pháp tiến hành: Mẫu vật được phân tích từ tổng thể bên ngoài
đến các chi tiết bên trong, phân tích từ các đặc điểm hình thái lớn đến nhỏ.
Đối với mẫu vật khô phải làm cho hoa và quả cần phân tích trở lại trạng thái
ban đầu bằng cách đun sôi hoặc ngâm cồn pha loãng (khoảng 40 độ), sau đó
dùng kim nhọn tách từng bộ phận để quan sát.
Trong khi phân tích mẫu, phải ghi chép các đặc điểm, vẽ hình, chụp ảnh.
Sau đó, kết hợp với các tài liệu chuyên ngành (bản mô tả gốc, các chuyên
khảo, thực vật chí,...) và mẫu vật chuẩn (typus) – nếu có để xác định tên khoa
học của mẫu vật.
Phạm Thị Mai Hương
Tiêu bản thực vật thuộc viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, tôi thấy rằng:
1) Ngoài các loài thuộc bộ Bồ hòn theo Nguyễn Tiến Bân công bố năm
2001, còn có thêm loài Allophylus viridis Radlk. là loài mọc hoang dại;
Amesiodendron chinense (Merr.) Hu được trồng bổ sung vào năm 2007 và
Dimocarpus longan Lour. đang bị hoang dại hóa (mọc rải rác ở các đường
mòn trong rừng).
2) Căn cứ vào tài liệu và mẫu vật, chúng tôi thấy loài Nephelium
lappaceum L. chỉ có ở miền Nam dưới dạng cây trồng, dạng hoang dại chỉ có
thứ Nephelium lappaceum var. pallens (Hiern) Leenh. (khác loài chuẩn bởi
mặt dưới lá chét không có lỗ tuyến); tương tự như vậy, Trạm đa dạng sinh học
Mê Linh cũng chỉ có phân loài Dimocarpus fumatus (Blume) Leenh. ssp.
indochinensis (khác loài chuẩn (chỉ có ở Boneo-Indonesia) bởi có lỗ tuyến
gần khắp nách gân gần mép lá).
3) Loài Chôm chôm nam (Nephelium hypoleucum Kurz) hiện biết chỉ có
ở Thừa Thiên-Huế (Bạch Mã), Đà Nẵng (Bà Nà), Kon Tum (Sa Thầy), Bình
Dương (Thủ Dầu Một), Đồng Nai (Biên Hòa, Trảng Bom), Tp. Hồ Chí Minh
(Thủ Đức); còn ở Mianma, Lào (Savannakhet), Campuchia, Thái Lan cho
nên, tôi mạnh dạn đưa ra khỏi danh lục các loài thuộc bộ Bồ hòn tại Trạm đa
dạng sinh học Mê Linh.
Như vậy, Trạm đa dạng sinh học Mê Linh hiện biết có 25 loài, 3 phân
loài và 2 thứ thuộc 15 chi 5 họ (Bảng 1).
Phạm Thị Mai Hương
Trang 17
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Acer flabellatum Rehd.
Acer heptaphlebium Gagnep.
Acer heptaphlebium Gagnep.
Acer laurinum Hassk.
Acer laurinum Hassk.
HIPPOCASTANACEAE
Aesculus assamica Griff.
Aesculus assamica Griff.
SABIACEAE
Meliosma lepidota Blume
Meliosma lepidota Blume
Meliosma pinnata ssp. angustifolia
Meliosma pinnata ssp. angustifolia
(Merr.) Beuseker
(Merr.) Beuseker
Meliosma simplicifolia ssp. fordii
Meliosma simplicifolia ssp. fordii
(Forb. & Hemsl) Beusekom
(Forb. & Hemsl) Beusekom
SAPINDACEAE
Allophylus petelotii Merr.
Allophylus petelotii Merr.
Allophylus viridis Radlk.
Cardiospermum halicacabum L.
Dimocarpus fumatus (Blume) Leenh.
Dimocarpus longan Lour.
Lepisanthes tetraphylla (Vahl) Radlk.
Litchi chinensis Soon.
Mischocarpus pentapetalus (Roxb.)
Radlk.
Radlk.
Mischocarpus sundaicus Blume
Nephelium cuspidatum var.
bassacense (Pierre) Leenh.
Nephelium lappaceum var. pallens
(Hiern) Leenh.
Pometia pinnata Forst. & Forst. f.
Sapindus saponaria L.
Xerospermum noronhianum (Blume)
Blume
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
24.
25.
26.
STAPHYLEACEAE
Turpinia cochinchinensis (Lour.)
Turpinia cochinchinensis (Lour.)
Merr.
Merr.
Turpinia indochinensis Merr.
Turpinia indochinensis Merr.
Turpinia montana (Blume) Kurz.
Turpinia montana (Blume) Kurz.
Acer wilsonii Rehd.
HIPPOCASTANACEAE
Aesculus assamica Griff.
SABIACEAE
Aesculus assamica Griff.
Meliosma
Merr.
Meliosma lepidota Blume
Meliosma pinnata ssp.
angustifolia (Merr.) Beuseker
Meliosma simplicifolia ssp.
Phạm Thị Mai Hương
Trang 19
dolichobotrys
Meliosma pinnata (Roxb.)
Walp.
Meliosma simplicifolia
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
fordii (Forb. & Hemsl)
Cardiospermum
halicacabum L.
Dimocarpus fumatus
(Blume) Leenh.
Lepisanthes tetraphylla
(Vahl) Radlk.
Mischocarpus oppositifolius
(Lour.) Merr.
Mischocarpus sundaicus
Blume
Nephelium cuspidatum var.
bassacense (Pierre) Leenh.
Nephelium lappaceum var.
pallens (Hiern) Leenh.
Pometia pinnata Forst. &
Forst. f.
Sapindus saponaria L.
Nephelium lappaceum L.
Paranephelium spirei
Lecomte
Paviesia annamensis Pierre
Pometia pinnata Forst. &
Forst. f.
Pometia pinnata Forst. &
Forst. f.
3.2 Một số thông tin về phân loại
1. Thích lá quạt, Tích thụ lá quạt (Acer flabellatum Rehd. [ex Veitch,
1904] 1905) – họ Thích (Aceraceae): Gỗ trung bình, cao 10-15 m; lá xẻ 5-7
thùy chân vịt, màu đỏ trước khi rụng; mùa quả tháng 8-9. Mọc rải rác trong
rừng; còn có tại Lào Cai (Sapa), Khánh Hòa (Vọng Phu), Lâm Đồng, Trung
Quốc (Vân Nam). Gỗ khá tốt, có thể dùng trong xây dựng, làm cán công cụ
và đóng tàu thuyền; vỏ có nhiều tannin. [2, tr. 1010].
2. Thích bảy gân, Tích thụ bảy gân (Acer heptaphlebium Gagnep.
1947) – họ Thích (Aceraceae): Gỗ trung bình, cao 15 -20 m. Mọc rải rác trong
rừng; còn có ở Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Kon Tum (Tu Inh), Lâm Đồng (Đà
Lạt) và một số nước khác (Lào). [2, tr. 1011].
3. Thích mười nhị, Tích tụ lá nguyệt quế, Tích tụ mười nhị; Prai co
(Acer laurinum Hassk. 1843) – họ Thích (Aceraceae): Gỗ cao 20-25 m; mùa
hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 9-10. Mọc rải rác trong rừng; còn có ở Lào Cai,
Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
Trị, Thừa Thiên-Huế, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng và một số nước khác
(Trung Quốc). Gỗ khá tốt, có thể dùng đóng tàu thuyền, làm thùng xe ô tô,
đóng đồ gỗ thông thường. [2, tr. 1011].
4. Kẹn, Mắc kẹn, Mạy kho, Mã dẻ, Kẹn Trung Quốc, Sa la tử (Aesculus
assamica Griff. 1854) – họ Kẹn (Hippocastanaceae): Gỗ trung bình, cao 1520 m; lá kép chân vịt, mọc đối; mùa hoa tháng 2-3, mùa quả tháng 9-10. Mọc
rải rác trong rừng thường xanh và rừng thứ sinh; còn có ở một số tỉnh miền
núi phía Bắc, Hà Nội (trồng), TP Hồ Chí Minh (trồng) và một số nước khác
Phạm Thị Mai Hương
Trang 21
K33C Sinh - KTNN
Phạm Thị Mai Hương
Trang 22
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
9. Mắc cá xanh, Ngoại mộc xanh. (Allophylus viridis Radlk. 1909) – họ
Bồ hòn (Sapindaceae): Cây bụi, cao 1-3 m; cành mang hoa màu nâu tía, hoa
màu vàng nhạt; mùa hoa tháng 8-10; mùa quả tháng 11-3 (năm sau). Mọc
hoang ở rừng cây bụi, rừng thưa ở độ cao 600 m tại Trạm và ở Tuyên Quang,
Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Tây, Hà Nội, ...;
ở Trung Quốc (Hải Nam). Rễ, thân trị phong thấp, đòn ngã tổn thương; lá
dùng trị cảm mạo; hạt chứa dầu. [11, tr. 129], [2, tr. 1015], (Ảnh 3, 4).
10. Trường mật, Trường ngân, Trường sâng, Sâng. (Amesiodendron
chinense (Merr.) Hu. 1938) – họ Bồ hòn (Sapindaceae): Cây gỗ, cao 20(-30)
m, hoa màu trắng tới hồng; mùa hoa tháng 3-7, quả tháng 8-12. Mọc rải rác
trong rừng nhiệt đới thường xanh, ở độ cao 300-400 m tại Trạm và ở Lạng
Sơn, Thanh Hóa ...; ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan. Loài hiếm đã đưa vào Sách
Đỏ Việt Nam (1996: 9, 44-45). Gỗ cứng mịn, không mối mọt, thường được
dùng trong xây dựng, đóng đồ dùng gia đình; hạt chứa dầu dùng trong công
nghiệp; làm cây bóng mát. [11, tr. 69]. (Ảnh 5).
11. Tầm phong, Chùm phong, Búp bụp, Tam phỏng, Xoan leo, Tầm bóp
leo, Phác tèng, Mãng hổ. (Cardiospermum halicacabum L. 1753) – họ Bồ hòn
(Sapindaceae): Cây thảo, leo hoặc trườn; hoa quả rải rác quanh năm. Thường
mọc ở những bãi đất hoang, mép rừng rải rác khắp Việt Nam và nhiều nước
khác. Các bộ phận của cây đều chứa saponin; hạt chứa 32,8% dầu; cây có vị
đắng, hơi cay, tính mát,… được dùng trong một số bài thuốc để giải độc, tiêu
rác trong rừng thứ sinh hoặc nguyên sinh, ở độ cao thường dưới 1200 m tại
Trạm, ở Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Quảng Trị, Lâm Đồng, Khánh
Hoà, Ninh Thuận, Đồng Nai; còn ở Mianma, Trung Quốc, Campuchia, Thái
Lan, ... . Gỗ nặng, cứng và mịn rất thích hợp để đóng các đồ gỗ trong nhà; vỏ
cây và quả chứa nhiều saponin nên có thể dùng thay xà phòng; lá và quả độc
với cá. [2, tr. 1022], [11, tr. 59], [15, pp. 633], [16, pp. 326].
15. Vải, Ly chi (Litchi chinensis Soon. 1782) – họ Bồ hòn
(Sapindaceae): Gỗ thường xanh, cao tới 30 m; mùa hoa từ tháng 1-4; mùa quả
từ tháng 4-7. Ngoài ở Trạm cây còn được trồng phổ biến ở miền Bắc và một
số tỉnh Tây Nguyên làm cây ăn quả; còn có ở Ấn Độ và Trung Quốc. Quả ăn
ngon; hạt chứa 1,38 % dầu béo, chữa đau dạ dày, đau ruột non, viêm tinh
hoàn; cùi vải dùng chữa khát nước, chữa hạt cổ; vỏ cũng dùng chữa ỉa chảy và
Phạm Thị Mai Hương
Trang 24
K33C Sinh - KTNN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
đau bụng đi ngoài; lá được dùng trị vết cắn của động vật; gỗ cứng bền đẹp
dùng làm sàn nhà, sống thuyền .... . [2, tr. 1022], [ 7, tr. 1576], [11, tr. 115].
16. Nây, Cây vải giông, Trường kẹn (Mischocarpus pentapetalus
(Roxb.) Radlk. 1879) – họ Bồ hòn (Sapindaceae): Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, thỉnh
thoảng cao tới 15(-25) m, vỏ màu đỏ nâu đến hơi xám; mùa hoa thường tháng
2-5, ít khi có từ tháng 12; quả thường chín tháng 6-9, ít khi chín từ tháng 3-5.
Mọc hoang ở rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh, ... ở độ cao (300-)800- 2000 m
ở Trạm và nhiều nơi từ Bắc vào Nam; và ở nước ngoài. [15, pp. 664]. Gỗ