B
TR
GIÁO D C VÀ ÀO T O
NG
I H C KINH T TP HCM
----------------
TR N V N T
M T S GI I PHÁP THÚC
Y NHANH TI N TRÌNH
C PH N HÓA DOANH NGHI P NHÀ N
C T NH
KIÊN GIANG
LU N V N TH C S KINH T
N m 2000
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu
1
trong giai đoạn hiện nay
1.3- Kinh nghiệm quá trình chuyển đổi sở hữu ở một số nước trên thế giới
16
1.3.1- Chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
16
1.3.2- Sơ lược về quá trình chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp nhà
nước ở các nước phát triển, các nước thuộc châu Mỹ La tinh và
18
Đông âu
1.3.3- Những đặc điểm chung của quá trình chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp nhà nước ở một số nước trên thế giới
20
Chương 2: Tình hình triển khai chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước ở nước ta và tỉnh Kiên Giang
25
2.2- Tình hình thực hiện cổ phần hóa ở Việt Nam trong thời gian qua
25
2.2.1- Các Quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ
2.3.1- Thực trạng hoạt động và quá trình tổ chức sắp xếp lại doanh
nghiệp nhà nước trong thời gian qua
32
2.3.2- Công tác triển khai cổ phần hóa tại tỉnh Kiên Giang
40
Chương 3: Giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
46
nước tỉnh Kiên Giang
3.1- Tiếp tục hoàn thiện môi trường vó mô liên quan đến tiến trình cổ phần
46
hóa doanh nghiệp nhà nước
3.1.1- Nâng cao năng lực pháp lý và hoàn thiện các cơ chế tài chính
cho quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
46
3.2.2- Xác đònh giá trò doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hóa
48
3.1.3- Phát huy tác dụng của thò trường chứng khoán và các tổ chức
51
61
3.2.6- Các giải pháp hổ trợ
63
Kết luận
64
Phần phụ lục
Tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
2
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng đònh chủ trương cổ phần
hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước. Điều đó đáp ứng quy luật phát triển cơ
cấu kinh tế trong quá trình cải cách - đổi mới kinh tế trong tiến trình chuyển đổi
cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp qua một nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thò trường có sự quản lý của Nhà
nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa.
Qua thời gian thực hiện thí điểm cổ phần hóa và giai đoạn cổ phần hóa đại
trà đối với các doanh nghiệp nhà nước, đã cho thấy các doanh nghiệp nhà nước
vấn đề có tính lý luận và những vướng mắc gặp phải trong thực tiễn. Để từ đó
kiến nghò một số giải pháp cơ bản để cho quá trình cổ phần hóa của tỉnh Kiên
Giang đạt được một số kết quả khả quan hơn hiện nay.
∴ Phạm vi nghiên cứu : tập trung vào quá trình thực hiện cổ phần hóa ở
Việt Nam và của Tỉnh Kiên Giang, những giải pháp chủ yếu gắn liền với chủ
trương cổ phần hóa và các vấn đề khác có liên quan.
∴ Phương pháp nghiên cứu của luận án :
- Phương pháp lý luận : dựa vào phép biện chứng duy vật và lòch sử.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể : phân tích hiện trạng các doanh nghiệp
nhà nước trong cả nước và trên đòa bàn tỉnh từ trước đến nay để chứng minh chủ
trương cổ phần hóa là đúng đắn để từ đó đề ra một số giải pháp cụ thể để đẩy
nhanh tiến trình cổ phần hóa.
∴ Kết cấu luận án bao gồm :
Lời mở đầu
Chương 1 : Các lý luận chung về cổ phần hóa.
Chương 2 : Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và
của tỉnh Kiên Giang.
Chương 3 : Một số giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước tỉnh Kiên Giang.
Kết luận
Phụ lục - tài liệu tham khảo.
Trong thời gian nghiên cứu, tôi đã sử dụng số liệu từ niên giám thống kê,
báo cáo của các ngành trong tỉnh Kiên Giang và các tài liệu có liên quan khác.
4
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Để thực hiện việc sắp xếp
các doanh nghiệp nhà nước, nhiều biện pháp đã được thực hiện như đăng ký lại
doanh nghiệp, giải thể các đơn vò hoạt động yếu kém , cổ phần hoá các doanh
nghiệp, tổ chức các tổng công ty ....Nhìn chung các biện pháp thực hiện đã có
những kết quả nhất đònh. Quá trình sắp xếp các doanh nghiệp nhà nước tiến hành
qua các giai đoạn chủ yếu sau:
Giai đoạn 1 : (trước năm 1990) tại đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) Đảng
đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, thừa nhận sự tồn tại khách quan
của sản xuất hàng hoá và của thò trường. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã bò
phê phán triệt để, khẳng đònh doanh nghiệp chuyển sang hẳn hạch toán kinh
doanh. Trong thời gian này một số các chính sách đổi mới về xí nghiệp quốc
doanh được ban hành như qui đònh tạm thời về quyền tự chủ sản xuất kinh doanh
của các đơn vò kinh tế cơ sở (Quyết đònh số 76/HĐBT ngày 26/6/1986); chính
sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh XHCN đối với xí nghiệp
quốc doanh (Quyết đònh 217/HĐBT ngày 14/11/1987)… Trong thời kỳ này các
doanh nghiệp được thành lập trên một qui mô rộng lớn cả ở cấp quận huyện, và
không có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp Trung ương và đòa phương.
Đến cuối năm 1989 cả nước có 12.296 doanh nghiệp nhà nước, và đặc trưng cơ
bản của các doanh nghiệp trong thời kỳ này là qui mô nhỏ, vốn ít và công nghệ
lạc hậu. Sự dàn trải của các doanh nghiệp làm cho nguồn vốn đầu tư của nhà
nước không thể tập trung để phát triển cho các ngành trọng điểm dẫn tới sự thiếu
hụt vốn thường xuyên. Hơn nữa với cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp ít phát huy
được tính sáng tạo và hoạt động một cách thụ động. Từ sau đại hội Đảng lần thứ
VI, nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển sang cơ chế thò trường có sự điều tiết
của nhà nước và bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước thì các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác cũng được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp
xuống 0,5% GDP trong khi đó đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vàøo GDP lại
tăng từï 32% trong năm 1994 lên 42% trong năm 1995. Trong giai đoạn này, công
tác đổi mới sắp xếp các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc tổ chức quản lý
7
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
và xây dựng cơ chế tự chủ cho doanh nghiệp, sáp nhập giải thể … để tạo ra một
hệ thống hợp lý các doanh nghiệp cho nền kinh tế. Sự chuyển dòch cơ cấu của các
doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa thực hiện được. Phần lớn các doanh nghiệp nhà
nước vẫn còn ở qui mô nhỏ, cơ cấu ngành vùng lãnh thổ chưa hợp lý.
Giai đoạn 3 (1994 - nay) : Tiến hành sắp xếp tổng thể các doanh nghiệp
để tạo ra một hệ thống các doanh nghiệp nhà nước hợp lý và có hiệu quả, đảm
nhận vai trò chủ đạo trong sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Trong thời gian
này chính phủ đã thành lập 17 tổng công ty có qui mô quốc gia (Quyết đònh 91/
TTg) và 84 tổng công ty có qui mô nhỏ hơn (Quyết đònh 90/TTg) nhằm tập trung
vốn, kỹ thuật để tăng cường sức cạnh tranh và đònh hướng chiến lược của nhà
nước trong các ngành kinh tế quan trọng. Các tổng công ty nhà nước này thu hút
1.750 doanh nghiệp nhà nước là thành viên hạch toán độc lập và phụ thuộc,
chiếm khoảng 30% tổng số doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động và khoảng
70% doanh nghiệp do trung ương quản lý. Các tổng công ty nhà nước hiện nay
chiếm khoảng 80% sản lượng và vốn của khu vực doanh nghiệp nhà nước, có khả
năng chi phối vào toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.
Qua ba đợt sắp xếp, số đầu mối doanh nghiệp nhà nước đả giảm hơn 50%
(từ hơn 12.000 xuống còn khoảng 6000 doanh nghiệp, trong đó sát nhập 3.100
doanh nghiệp, giải thể 3.350 doanh nghiệp), nhưng doanh nghiệp nhà nước vẫn
phát triển ổn đònh. Tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước trong tổng sản phẩm trong
quả.
↑ Tình hình công nợ của các doanh nghiệp nhà nước còn quá lớn. Theo
báo cáo của Ban đổi mơí doanh nghiệp Trung ương, năm 1996 tổng số nợ 174.797
tỷ đồng. Năm 1999 lên tới 199.060 tỷ đồng. Trong đó, nợ phải trả là 126.366 tỷ
đồng và nợ phải thu là 72.644 tỷ đồng. So với tổng số vốn toàn bộ doanh nghiệp,
số nợ phải thu chiếm tới 62% và số nợ phải trả bằng 109%, trong khi khả năng
thanh toán rất thấp, nợ quá hạn hoặc khó đòi chiếm tỷ lệ không nhỏ là gánh nặng
đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước. Trong ba năm 1997-1999, ngân sách nhà
nước đã đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp gần 8.000 tỷ đồng, trong đó 6.482 tỷ
9
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
đồng cấp bổ sung vốn cho doanh nghiệp, 1.464 tỷ đồng bù lỗ, hỗ trợ cho các
doanh nghiệp nhà nước để giảm bớt khó khăn về tài chính. Ngoài ra, từ năm 1996
đến nay, Nhà nước còn miễn giảm thuế 2.288 tỷ đồng, xóa nợ 1.088,5 tỷ đồng,
khoanh nợ 3.392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, cho vay tín dụng ưu đãi 8.685 tỷ
đồng. Mặc dù nguồn vốn hỗ trợ lớn như vậy nhưng hoạt động kinh doanh ở nhiều
doanh nghiệp nhà nước đã không đem lại hiệu quả tương ứng. Số nộp vào ngân
sách nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước này ít hơn phần mà Nhà nước đã
hỗ trợ. Trên thực tế nhiều doanh nghiệp nhà nước đang là gánh nặng cho ngân
sách nhà nước.
→ Cơ cấu doanh nghiệp nhà nước còn nhỏ về quy mô, còn dàn trải, chồng
chéo theo cơ quan quản lý và ngành nghề. Đến nay cả nước có 5.280 doanh
nghiệp với tổng số vốn Nhà nước khoảng 106.892 tỷ đồng, bình quân mỗi doanh
nghiệp 18,425 tỷ đồng. Trong đó số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm
tới 65,45%, số doanh nghiệp có vốn hơn 10 tỷ đồng chỉ chiếm dưới 20,89%. Tại
± Từ những thực trạng nói trên cùng với những ảnh hưởng khách quan của
nền kinh tế và bối cảnh hội nhập, cạnh tranh không thuận lợi trên thò trường khu
vực và quốc tế, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh
doanh trong các doanh nghiệp nhà nước vốn đã thấp lại càng khó khăn hơn và
đang có xu hướng giảm dần. Nếu như tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp
nhà nước từ năm 1997 về trước liên tục đạt 13% thì đến năm 1998 và đầu năm
1999 giảm xuống còn 8-9%. Hiệu quả sử dụng vốn giảm. Năm 1995, một đồng
vốn nhà nước tạo ra được 3,46 đồng vốn doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận. Năm
1998, các chỉ tiêu tương ứng chỉ đạt 2,9 đồng và 0,14 đồng. Thậm chí trong ngành
công nghiệp một đồng vốn chỉ làm ra được 0,024 đồng lợi nhuận.
Nguyên nhân của tình trạng trên : là do chưa nhận thức thống nhất và
đầy đủ nội dung đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước; cơ chế chính sách
nhất là trong lónh vực tài chính chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho doanh
nghiệp nhà nước phát triển; còn sự chậm trễ trong việc thực hiện chủ trương cổ
11
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
phần hóa và đa dạng hóa sở hữu; cơ chế đào tạo, tuyển chọn và bổ nhiệm đội
ngũ lãnh đạo doanh nghiệp còn nhiều bất cập.
Từ những tồn tại và hạn chế nêu trên, đòi hỏi phải tiếp tục tổ chức sắp xếp
lại sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế nhà nước nhằm đổi mới cơ chế
quản lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
nhà nước. Trong đó việc thực hiện cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà
nước là một trong những biện pháp quan trọng và cấp thiết đối với nước ta hiện
nay.
người lao động trong doanh nghiệp, đồng thời cũng có những qui đònh ràng buộc
sao cho không để một cá nhân hay một nhóm người nào có thể không chế hoạt
động của doanh nghiệp. Vì vậy, những nước này không dùng khái niệm tư nhân
hóa mà họ gọi quá trình chuyển đổi sở hữu này là cổ phần hóa.
Đối với nước ta, quan điểm của Nhà nước ta về khái niệm cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước không phải là chủ trương tư nhân hóa, mà cổ phần hóa
chính là chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần; là hình thức
chuyển đổi sở hữu đối với một phần tài sản của Nhà nước sang sở hữu nhiều
thành phần nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh
doanh, tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh
nghiệp và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2- Ý nghóa của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :
a)- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - Một hiện tượng phổ biến trong
nền kinh tế thò trường :
Trong nền kinh tế thò trường, cổ phần hóa được diễn ra như là một xu
hướng mang tính khách quan :
- Trước hết, trong nền sản xuất hàng hóa, quy luật giá trò tác động mạnh
đến sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, buộc họ phải cải tiến sản xuất kinh doanh,
giảm chi phí cá biệt thấp hơn chi phí xã hội để có thể tồn tại và phát triển. Điều
này chỉ những nhà tư bản lớn, có qui mô sản xuất ở mức độ nhất đònh mới có đủ
khả năng tự thực hiện việc trang bò kỹ thuật hiện đại, làm năng suất lao động
13
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
tăng lên và giành thắng lợi trong cạnh tranh; còn những nhà tư bản nào có giá trò
cá biệt cao hơn giá trò hàng hóa xã hội sẽ bò phá sản.
Tóm lại, các công ty cổ phần được hình thành và phát triển mạnh mẽ là
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó trở thành
mô hình sản xuất phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp nhà nước, lý do để cổ phần hóa có
khác và do vậy cách thức tiến hành cũng khác.
Lòch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy, sau chiến tranh thế giới thứ II,
các nước đua nhau thành lập các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là những nước
xã hội chủ nghóa và các nước theo mô hình Liên Xô (cũ). Nhưng đến năm 1970
thì đa số các nước đều nhận thấy : kinh tế quốc doanh hoạt động là kém hiệu quả,
chứa đựng nhiều tiêu cực trì trệ. Cho đến nay, ở những mức độ khác nhau, các
nước đang tìm cách cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh, mà cổ phần hóa được coi
là giải pháp quan trọng và phổ biến.
Riêng ở nước ta, kinh tế quốc doanh ra đời gắn liền với sự xuất hiện của
Nhà nước chuyên chính vô sản, được quản lý theo kiểu tập trung và được coi là
hình thức quản lý tiên tiến. Kinh tế quốc doanh lúc đó được coi là hình thức sở
hữu đặc trưng riêng có của chủ nghóa xã hội và mang tính phổ biến trong toàn bộ
nền kinh tế quốc dân. Các quan niệm này đã dẫn đến việc phát triển ồ ạt và trên
phạm vi rộng lớn các xí nghiệp quốc doanh, không tính đến khả năng thích hợp
của nó trong từng ngành, từng lónh vực và do vậy hiệu quả kinh tế của các xí
nghiệp quốc doanh hết sức thấp kém. Do đó Đại hội VIII của Đảng đã khẳng
đònh chủ trương cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước. Điều đó đáp
ứng quy luật phát triển cơ cấu kinh tế trong quá trình cải cách - đổi mới kinh tế
trong tiến trình chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung quan liêu và bao cấp
qua một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thò trường
có sự quản lý của Nhà nước, theo đònh hướng xã hội chủ nghóa.
15
16
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
cách là viên chức Nhà nước. Đối với người lao động, cán bộ công nhân viên đang
làm việc trong công ty do nắm giữ, sở hữu các cổ phần, trở thành những người
chủ sở hữu đích thực của công ty và sẽ có quyền, trách nhiệm và lợi ích cụ thể, từ
đó tạo điều kiện cho họ gắn bó thật sự với hoạt động của công ty.
Như vậy, có thể nói công ty cổ phần Nhà nước đã tạo ra sự thay đổi đáng
kể trong cơ cấu tổ chức nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật của mọi
người làm việc trong công ty hơn. Từ đó, cho phép công ty có thể khắc phục được
những khó khăn nhiều mặt về vốn, về cải tiến kỹ thuật, về nâng cao năng suất,
về chất lượng và hiệu quả hoạt động của công ty.
1.2.3- Nội dung chủ yếu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong
giai đoạn hiện nay :
a)- Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước :
Cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm các mục tiêu sau:
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm huy động vốn của toàn xã
hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để
đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao
sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo điều kiện để người lao
động trong doanh nghiệp có cổ phần và những người đã góp vốn được làm chủ
thực sự; thay đổi phương thức quản lý tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động,
góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước.
b)- Tổ chức thực hiện chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ
Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương đã phối hợp chặt chẽ với
các Bộ tổng hợp tổ chức 2 cuộc tập huấn cho khoảng 1.100 cán bộ thuộc các Bộ,
đòa phương và doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa năm 1998 tại 2 miền. Hai
cuộc tập huấn đã đạt được yêu cầu quán triệt sâu sắc Nghò đònh số 44/1998/NĐCP ngày 29/6/1998 của Chính phủ và các thông tư hướng dẫn của các Bộ, của
Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương đến tất cả các đối tượng đang tiến
18
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
hành cổ phần hóa. Nhiều vấn đề vướng mắc đã được giải đáp ngay tại cuộc tập
huấn. Sau cuộc tập huấn các Ban Đổi mới quản lý doanh nghiêp của các Bộ, đòa
phương, Tổng công ty nói chung đã khẩn trương triển khai thực hiện kế hoạch về
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thuộc phạm vi và trách nhiện của mình.
c)- Những hình thức cổ phần hóa:
Tuỳ theo tình hình và yêu cầu cụ thể, các doanh nghiệp nhà nước có thể
lựa chọn một trong bốn hình thức cổ phần hóa sau :
← Giữ nguyên giá trò phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu nhằm thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Theo hình thức
này thì giá trò cổ phần của Nhà nước góp vào công ty bằng giá trò thực tế vốn Nhà
nước tại doanh nghiệp trừ đi chi phí cổ phần hóa, giá trò ưu đãi cho người lao động
và giá trò phần trả dần của người lao động nghèo theo qui đònh của Nhà nước.
↑ Bán một phần giá trò vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. Theo hình
thức này thì Nhà nước sử dụng giá trò thực tế phần vốn Nhà nước tại doanh
nghiệp để bán cho các cổ đông.
→ Tách một bộ phận doanh nghiệp để cổ phần hóa. Theo hình thức này thì
một bộ phận của doanh nghiệp có thể hoạt động độc lập và hạch toán riêng giá
trò tài sản của bộ phận này được tách ra để cổ phần hóa (phân xưởng sản xuất,
Giá thò trường của
x
Chất lượng
tài sản tại thời điểm x còn lại của
xác đònh giá trò DN
tài sản (%)
- Xác đònh giá trò vô hình bao gồm : lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp
về vò trí đòa lý, uy tín mặt hàng (nếu có). Lợi thế này thể hiện ở tỷ suất lợi nhuận
thực hiện tính trên vốn kinh doanh bình quân 3 năm trước khi cổ phần hóa. Giá trò
lợi thế nói trên chỉ tính tối đa 30% vào giá trò thực tế của doanh nghiệp. Cụ thể
xác đònh theo các công thức sau :
Tỷ suất lợi nhuận
Tổng số lợi nhuận thực hiện của 3 năm liền kề
Bình quân 3 năm = ––––––––––––––––––––––––––––––––––––
Của doanh nghiệp
Tổng số vốn Nhà nước theo sổ kế toán 3 năm liền kề
Tỷ suất
Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận bình quân chung của
lợi nhuận = bình quân 3 năm - doanh nghiệp nhà nước cùng ngành nghề
siêu ngạch
của doanh nghiệp
trên cùng đòa bàn (tỉnh, thành phố)
Giá trò lợi thế
Vốn Nhà nước theo
Tỷ suất
hBáo cáo kiểm kê tài sản, hàng hóa …
hCác sổ sách kế toán của doanh nghiệp, hồ sơ giao vốn, tài liệu duyệt
quyết toán hàng năm.
↑ Thành lập Hội đồng xác đònh giá trò của doanh nghiệp do cơ quan tài
chính làm Chủ tòch hoặc thuê cơ quan kiểm toán độc lập để xác đònh giá trò doanh
nghiệp đến thời điểm cổ phần hóa.
Sau khi xác đònh giá trò doanh nghiệp xong, báo cáo UBND Tỉnh hoặc Hội
đồng quản trò Tổng công ty 91 quyết đònh công nhận giá trò doanh nghiệp có mức
vốn Nhà nước ghi trên sổ sách kế toán đến thời điểm cổ phần hóa từ 10 tỷ đồng
trở xuống. Trường hợp giá trò doanh nghiệp trên 10 tỷ sẽ do Bộ trưởng Bộ Tài
chính quyết đònh giá trò doanh nghiệp. Để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa, Bộ
Tài chính nên giao quyền xác đònh giá trò các doanh nghiệp do đòa phương quản
lý cho UBND Tỉnh quyết đònh.
21
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
e)- Quy trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần:
Thực hiện theo Nghò đònh số 44/1998/NĐ-CP, Ban đổi mới quản lý doanh
nghiệp Trung ương hướng dẫn quy trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành
công ty cổ phần tại công văn số 3395/VPCP-ĐMDN ngày 29/8/1998 có thể tóm
tắt như sau :
Bước 1 - Chuẩn bò cổ phần hóa : Thành lập Ban đổi mới quản lý tại doanh
nghiệp nhằm thực hiện các nhiệm vụ như : chuẩn bò hồ sơ pháp lý khi thành lập
doanh nghiệp; tình hình công nợ, tài sản, nhà xưởng, vật kiến trúc đang quản lý;
vật tư hàng hóa ứ đọng, kém, mất phẩm chất và đề ra hướng giải quyết; danh
sách lao động của doanh nghiệp đến thời điểm quyết đònh cổ phần hóa và dự
↑ Đối với doanh nghiệp được cổ phần hóa :
- Doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần là hình thức đầu tư
mới, được hưởng ưu đãi theo quy đònh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước
(sửa đổi). Trường hợp những doanh nghiệp không đủ điều kiện hưởng ưu đãi theo
quy đònh của Luật khuyến khích đầu tư trong nước thì giảm 50% thuế lợi tức (thuế
thu nhập doanh nghiệp) trong 2 năm liên tiếp kể từ sau khi chuyển sang hoạt
động theo Luật công ty.
- Được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền
quản lý và sử dụng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thành sở hữu của
công ty cổ phần.
- Được tiếp tục vay vốn tại ngân hàng thương mại, công ty tài chính, các tổ
chức tín dụng khác của Nhà nước theo cơ chế và lãi suất như áp dụng đối với
doanh nghiệp nhà nước.
- Được tiếp tục xuất nhập khẩu hàng hóa theo các chế độ quy đònh hiện
hành như đối với doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa.
- Các khoản chi phí thực tế, hợp lý và cần thiết cho quá trình chuyển doanh
nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần được trừ vào tiền bán cổ phần thuộc vốn
Nhà nước theo mức quy đònh của Bộ Tài chính. Trường hợp cổ phần hóa theo
hình thức giữ nguyên giá trò thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát
23
Luận án thạc sỹ kinh tế
Trần Văn Tỷ
hành cổ phiếu thu hút vốn để phát triển doanh nghiệp thì được sử dụng vốn Nhà
nước hiện có tại doanh nghiệp để trang trải.