Bước đầu tìm hiểu thành ngữ đồng nghĩa trong tiếng việt - Pdf 32

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

=====***====

NGUYỄN THỊ THANH NHÀN

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU
THÀNH NGỮ ĐỒNG NGHĨA
TRONG TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI - 2013

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

1

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học



1. Lí do chọn đề tài
Đồng nghĩa là một hiện tượng phổ biến và xảy ra ở khắp các cấp độ của
ngôn ngữ: đồng nghĩa hình vị (bất - phi - vô); đồng nghĩa từ vựng (muộn - trễ)
và đồng nghĩa ngữ pháp (mẹ rất yêu con - con được mẹ rất yêu).
Cấp độ đồng nghĩa từ vựng lại được phân chia ra thành: từ đồng nghĩa
(bẩn - dơ) và ngữ cố định đồng nghĩa (chạy long tóc gáy - chạy như cờ lông
công - chạy thục mạng).
Ở các công trình nghiên cứu, nếu như từ đồng nghĩa được chú ý khai thác
nhiều thì ngữ cố định đồng nghĩa chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Trong tiếng Việt, thành ngữ chiếm một khối lượng rất lớn, phong phú và
đa dạng, chúng mang đặc trưng dân tộc rõ nét và giàu sức biểu cảm. Xét về
mặt tu từ, thành ngữ đã góp phần làm giàu đẹp tiếng Việt trên nhiều phương
diện. Vì vậy việc tìm hiểu hiện tượng thành ngữ đồng nghĩa cũng sẽ góp phần
tìm hiểu lời ăn tiếng nói sinh động trong hoạt động giao tiếp hàng ngày và
trong việc tìm hiểu bản sắc văn hóa, tư duy của dân tộc.
Do đó khi tiến hành nghiên cứu đề tài Bước đầu tìm hiểu thành ngữ
đồng nghĩa trong tiếng Việt, chúng tôi không có tham vọng lớn mà chỉ hi vọng
đó là cơ sở cho bản thân có thêm những hiểu biết sâu sắc về thành ngữ. Đồng
thời người thực hiện không chỉ dựa trên tính chất mới mẻ của đề tài mà còn dựa
trên sự mong muốn có những đóng góp nhỏ trong nghiên cứu và ứng dụng:
Về mặt nghiên cứu, chúng tôi mong muốn đưa ra thêm một căn cứ để
khẳng định sự giàu đẹp của tiếng Việt cũng như qua các thành ngữ đồng
nghĩa thấy được nét đặc trưng văn hóa - dân tộc Việt Nam .
Về mặt ứng dụng, thực hiện đề tài này, chúng tôi muốn nâng cao hiểu
biết về nghĩa của các thành ngữ để có thể sử dụng vốn thành ngữ phong phú
của dân tộc một cách phù hợp, hiệu quả.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn


Vũ Quang Hào.
+ Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên.
Hướng thứ hai: Tìm hiểu khái niệm thành ngữ, phân biệt thành ngữ với
các đơn vị từ ghép, cụm từ tự do, tục ngữ, quán ngữ... Theo hướng này có các
công trình:
+ Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

4

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

+Tác giả Nguyễn Thiện Giáp với công trình nghiên cứu về vấn đề phân
loại thành ngữ, phân biệt thành ngữ với ngữ định danh và cụm từ tự do.
Ngoài ra còn có các công trình của Hoàng Văn Hành, Trương Đông San...
Hướng thứ ba: Nghiên cứu, tìm hiểu về cấu trúc ngữ nghĩa của các
thành ngữ tiếng Việt. Tiêu biểu cho hướng này có công trình:
+ Thành ngữ học tiếng Việt của tác giả Hoàng Văn Hành.
+ Bình diện cấu trúc hình thái ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt của
tác giả Nguyễn Công Đức.
Khi tìm hiểu thành ngữ trên phương diện ý nghĩa, chúng tôi thấy rằng
các thành ngữ có quan hệ đồng nghĩa với nhau. Hiện tượng này mới chỉ được
đề cập khái quát ở một số công trình như: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt của
Đỗ Hữu Châu, Từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Đức Tồn.

Các thành ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt bao gồm cả thành ngữ Việt và
thành ngữ gốc Hán trong kho tàng thành ngữ phong phú, đa dạng của dân tộc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu phục vụ mục đích nghiên cứu được thống kê trong các cuốn từ
điển sau:
+ Thành ngữ đồng nghĩa của Nguyễn Lực, Nxb Thanh niên, 2005.
+ Từ điển thành ngữ và tục ngữ Viêt Nam của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh,
Vũ Quang Hào, Nxb Văn học, 2008.
+ Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, Nxb Khoa
học xã hội, 1978.
+ Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (Chủ biên),
Nxb Giáo dục, 1998.
5. Phương pháp nghiên cứu
Do tính chất của đề tài và nhiệm vụ khoa học mà đề tài đặt ra, chúng tôi
sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp thống kê: mục đích của việc sử dụng phương pháp này là
nhằm dùng để thống kê các thành ngữ đồng nghĩa trong tiếng Việt để làm tư
liệu cho quá trình nghiên cứu.
Phương pháp hệ thống: để sắp xếp, tổng hợp lại tất cả các tư liệu.
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: để miêu tả ngữ nghĩa của các thành
ngữ đồng nghĩa.
6. Đóng góp của khóa luận
Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn sau:
Về mặt lí luận: Làm sáng tỏ một trong những mối quan hệ ngữ nghĩa
của các thành ngữ tiếng Việt đó là đồng nghĩa thành ngữ.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

6


1.1. Khái quát về hiện tượng đồng nghĩa
Hiện tượng đồng nghĩa trong ngôn ngữ có nội dung rất rộng lớn và nó xảy
ra ở khắp các cấp độ của ngôn ngữ. Hiện tượng này bao gồm: đồng nghĩa từ
vựng và đồng nghĩa ngữ pháp (câu). Các đơn vị từ vựng bao gồm từ và các ngữ
cố định có chức năng tương đương với từ (quán ngữ và thành ngữ). Do đó hiện
tượng đồng nghĩa từ vựng lại chia thành từ đồng nghĩa (thí dụ: chết - tử; cọp hổ; trễ - muộn) và thành ngữ đồng nghĩa (thí dụ: dai như chão - dai như chó
nhai giẻ rách - dai như đỉa đói; thắt lưng buộc bụng - nhịn ăn nhịn mặc).
1.2. Từ đồng nghĩa
1.2.1. Một số quan niệm về từ đồng nghĩa
Cho đến nay trong các sách nghiên cứu ngôn ngữ học ở cả trong và
ngoài nước đã xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ đồng nghĩa.
Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nga đã đưa ra những quan niệm
khác nhau về từ đồng nghĩa.
V. N. Kliueva đã định nghĩa về các từ đồng nghĩa trong công trình
nghiên cứu của mình như sau: “Các từ - khái niệm phản ánh bản chất của
cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan, khu biệt bởi những sắc thái ý
nghĩa bổ sung và phục vụ không chỉ cho việc thay thế nhau mà còn để chính
xác hóa tư tưởng, thái độ của chúng ta đối với phát ngôn” [10, tr.35].
Một nhà nghiên cứu khác là Z. E. Alếchsanđrôva lại đưa ra quan niệm
khác về từ đồng nghĩa: “Là những từ có cùng một ý nghĩa từ vựng, chỉ khác
nhau về sắc thái ý nghĩa, màu sắc biểu cảm và tính chất sở thuộc một lớp
phong cách nào đó của ngôn ngữ và chúng có khả năng kết hợp trùng nhau
dù chỉ là một phần, bởi vì chỉ trong trường hợp này chúng mới có thể thay thế
cho nhau trong các ngữ cảnh thực tế” [10, tr.49].

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

8

K35A - Ngữ văn

Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra định nghĩa về từ đồng nghĩa như sau:
“Hai đơn vị từ vựng / từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ âm
khác nhau biểu thị các biểu vật hoặc / và biểu niệm giống nhau và:

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

9

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

a/ Nếu chúng có thể xuất hiện được trong kết cấu: “A là B” và đảo lại
được “B là A” mà không cần phải chỉnh lí bằng cách thêm bớt nét nghĩa gì vào
trong một hoặc hai đơn vị / từ thì đó là những đơn vị từ vựng / từ cùng nghĩa
b/ Nếu như để chúng có thể xuất hiện trong kết cấu “A là B” và đảo lại
được “B là A” cần có sự chỉnh lí, thêm bớt nét nghĩa nào đó vào một trong
hai đơn vị từ vựng / từ thì đó là những đơn vị / từ gần nghĩa” [10, tr.97 98].
Như vậy, mỗi nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm khác nhau về
từ đồng nghĩa. Khi tiến hành làm khóa luận này, chúng tôi sẽ lấy định nghĩa
của GS.TS. Nguyễn Đức Tồn làm cơ sở lí luận cho khóa luận của mình.
1.2.2. Phân loại từ đồng nghĩa
Dựa trên những sự khác biệt về sắc thái ý nghĩa, sắc thái phong cách biểu cảm và phạm vi sử dụng, GS.TS. Nguyễn Đức Tồn trong cuốn Từ đồng
nghĩa tiếng Việt đã chia các từ đồng nghĩa làm ba tiểu loại như sau:
Tiểu loại thứ nhất là: các từ đồng nghĩa ý niệm. Đây là những từ đồng
nghĩa trung tính về phong cách, khác biệt nhau về sắc thái ý nghĩa cơ bản
chung cho mỗi từ.

từ dùng phổ biến và là từ chính của cặp từ đồng nghĩa này. Còn ca thường để
nói về những điệu cổ truyền ở miền Trung Bộ và Nam Bộ. Trong nhiều
trường hợp, ca thường có sắc thái địa phương và đôi khi nó còn có sắc thái
trang trọng .
Tóm lại, từ sự phân loại các tiểu loại từ đồng nghĩa nêu trên, chúng ta
thấy rằng nằm trong dãy đồng nghĩa, ngoài nét nghĩa chung đồng nhất, từ
đồng nghĩa còn có nét nghĩa khác biệt giúp ta nhận diện được sự khác nhau
giữa chúng. Sự khác biệt đó có thể là: về sắc thái ý nghĩa, sắc thái biểu thái
hay phạm vi sử dụng.
1.2.3. Giá trị nghệ thuật của từ đồng nghĩa
Ngôn ngữ nghệ thuật cùng lúc phải thực hiện hàng loạt các chức năng.
Nó phải chính xác, gợi hình ảnh, có khả năng bộc lộ tình cảm, tâm trạng của
con người nhưng lại phải hàm súc. Các từ đồng nghĩa của tiếng Việt là những
đơn vị thỏa mãn được những đòi hỏi trên. Mỗi từ đồng nghĩa là một bức
tranh, một mảnh nhỏ của một tác phẩm cô gọn lại trong một từ. Cho nên có
thể khẳng định các từ đồng nghĩa là phương tiện quý báu của văn chương
nghệ thuật nhất là nghệ thuật thơ ca. A. I. Efimốp đã chỉ ra rằng: “đằng sau
mỗi từ đồng nghĩa là một sự độc đáo về ý nghĩa và phong cách, nghĩa là
những sắc thái rất tinh tế, đặc biệt” [10, tr.318].

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

11

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học


12

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

yêu thương cháu. Ngay cả lúc dạy bảo cháu mình, bà cũng tìm cách giúp cháu
học được điều hay, lẽ phải một cách dễ hiểu nhất.
Có khi các từ đồng nghĩa có chung ý nghĩa biểu niệm được sử dụng thay
thế cho nhau nhằm mục đích đa dạng hóa về ngữ âm lời nói như ở đoạn thơ sau:
Nhưng bụng vẫn bồn chồn
Lòng anh cứ bề bộn
Bác ngủ không an lòng
Càng thương càng nóng ruột
(Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)
Các từ: bụng, lòng, ruột là những từ đồng nghĩa được sử dụng trong đoạn
thơ này. Chúng có chung ý nghĩa: chỉ ý nghĩ, tình cảm, tinh thần của con người
và cùng thể hiện sắc thái biểu thái: thái độ quan tâm, lo lắng, kính trọng của
người lính với bác Hồ. Ở ba từ cũng có nét nghĩa sắc thái riêng.
Từ bụng có ý nghĩa sắc thái nghiêng về việc biểu trưng cho những ý nghĩ
sâu kín, không bộc lộ ra đối với việc, người nói chung.
Lòng lại nghiêng về biểu tượng của mặt tinh thần nên nó được kết hợp
với từ bề bộn.
Ý nghĩa sắc thái của từ ruột lại thường chỉ tình cảm của con người.
Việc sử dụng từ đồng nghĩa trong đoạn thơ không chỉ có tác dụng đa
dạng hóa về ngữ âm, tránh lặp từ và quan trọng hơn là diễn đạt nội dung tư

cao; các thành ngữ thường được biểu hiện và sử dụng ở nghĩa bóng là chủ
yếu; các thành ngữ cũng có quá trình vận động, biến đổi. Từ những đặc tính
này các tác giả đi vào phân biệt rõ hai khái niệm thành ngữ và tục ngữ: “Nội
dung của thành ngữ là những khái niệm, nội dung của tục ngữ là những phán
đoán. Quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ là những quan hệ giữa các hình
thức khái niệm và phán đoán. Tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội, phản
ánh lối sống của thời đại, lối nghĩ của nhân dân, lối nói của cộng đồng dân
tộc. Chính trong lối nói, lối nghĩ của nhân dân thường không thể nào tách rời
hình thức biểu đạt của nó. Chỗ giống nhau và thống nhất với nhau ở một số
đơn vị là chúng có cùng một mô hình biểu đạt cố định” [8, tr.21- 22].
Tác giả Nguyễn Lân cũng khẳng định tính cố định, ổn định của thành
ngữ khi ông định nghĩa: “Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn
đạt một khái niệm” [7, tr.7].
Đồng tình với quan niệm trên, tác giả Nguyễn Thiện Giáp định nghĩa:
“Thành ngữ là một cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính
gợi cảm”. Ví dụ: thắt lưng buộc bụng, ba chân bốn cẳng, lừ đừ như ông từ vào
đền... Ông còn khẳng định thêm: “Bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

14

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

bao giờ cũng kèm theo sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, chẳng hạn, có thể

15

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

đại học ĐôngXibêri và Viễn Đông); ở phần Các đoản ngữ thành ngữ tính có
tính chất đồng nghĩa trong cuốn Thành ngữ học tiếng Nga hiện đại của N. M.
Sansky...
Sau khi phân tích các nghiên cứu đó ông đi đến nhận xét: “định nghĩa
các đơn vị đồng nghĩa thành ngữ của các nhà nghiên cứu có sự trùng hợp với
nhau và những sự khác biệt giữa các thành ngữ đồng nghĩa được xác định
như nhau (chúng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, sắc thái phong cách và biểu
cảm). Các ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu nằm ở chỗ có coi hay
không các đoản ngữ thành ngữ là những đơn vị thành ngữ đồng nghĩa nếu
như chúng không kết hợp với một số từ. Và còn vấn đề sau đây nữa cũng chưa
được làm rõ - đó là các đơn vị đồng nghĩa thành ngữ có tách biệt khỏi các
đơn vị đồng nghĩa từ vựng hay cùng với đồng nghĩa từ vựng tạo thành hệ
thống đồng nghĩa thống nhất của từ vựng” [10, tr.59 - 60].
Ở nước ta, vấn đề thành ngữ đồng nghĩa cũng bước đầu được một số
nhà nghiên cứu quan tâm.
Tác giả Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên chính thức đề cập tới hiện tượng
này. Trong cuốn giáo trình Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, khi nghiên cứu về
ngữ cố định, theo tác giả nhờ việc xác định các thành phần trung tâm của các
cụm từ tự do tương đương mà chúng ta thấy: “Những ngữ cố định đồng nghĩa
với một từ đã có sẵn trong từ vựng và những ngữ cố định không đồng nghĩa
với một từ nào đó có trong từ vựng” [2, tr.80 - 81]. Tức là tác giả khẳng định

thành ngữ cũng khác nhau” [9, tr.5].
GS.TS. Nguyễn Đức Tồn cũng có sự chú ý tới hiện tượng thành ngữ
đồng nghĩa. Trong công trình nghiên cứu Từ đồng nghĩa tiếng Việt, tác giả
cũng có đề cập tới hiện tượng đồng nghĩa giữa các từ và các đoản ngữ thành
ngữ tính. Tác giả khẳng định các đơn vị tương đương với các từ - các đoản
ngữ thành ngữ tính cũng có thể đóng vai trò là đơn vị đồng nghĩa với các từ.
Thí dụ: bẩn - bẩn như hủi, bẩn như ma lem, bẩn như trâu đầm. Ông cũng đi
đến khẳng định giữa các đoản ngữ thành ngữ tính cũng như giữa các từ đồng
nghĩa những sự khu biệt có thể ở các sắc thái ý nghĩa khi chúng thuộc về cùng
một phong cách, ở màu sắc phong cách khi có ý nghĩa tương đương nhau và
cuối cùng là chúng có thể khác nhau ở cả phong cách và sắc thái ý nghĩa.
Đồng thời tác giả cũng tiến hành phân loại thành ngữ đồng nghĩa thành ba
loại cơ bản: thành ngữ đồng nghĩa ý niệm, thành ngữ đồng nghĩa phong cách
và thành ngữ đồng nghĩa ý niệm - phong cách.
Như vậy, vấn đề thành ngữ đồng nghĩa đã được một số nhà nghiên cứu
quan tâm nhưng ở mức độ sơ lược.

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

17

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

1.4. Tiểu kết chương 1
Như vậy chúng tôi thấy rằng đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra ở hai cấp

Khi tiến hành thống kê, phân tích các thành ngữ đồng nghĩa, chúng tôi
nhận thấy có một số lượng khá lớn các thành ngữ đồng nghĩa với nhau mà
theo kết quả chúng tôi thống kê được là 132 nhóm thành ngữ. Các thành ngữ
đồng nghĩa với thành ngữ lại có thể phân loại ra thành hai nhóm nhỏ hơn là:
các thành ngữ giống nhau về ý nghĩa, có cấu trúc giống nhau, hình ảnh biểu
trưng khác nhau và nhóm các thành ngữ có nghĩa giống nhau, cấu trúc khác
nhau, hình ảnh biểu trưng cũng khác nhau.
2.2.1.2. Quan hệ đồng nghĩa giữa các thành ngữ có nghĩa giống nhau,
cấu trúc giống nhau, hình ảnh biểu trưng khác nhau
Chúng tôi nhận thấy một số cấu trúc được lặp lại ở các thành ngữ đồng
nghĩa trong nhóm này thường là: cấu trúc cụm từ, cấu trúc chủ - vị (câu).
a) Quan hệ đồng nghĩa giữa các thành ngữ có nghĩa giống nhau, hình
ảnh biểu trưng khác nhau, cùng được tổ hợp theo cấu trúc cụm từ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

19

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Ở trong nhóm này, chúng tôi thống kê được 111 nhóm thành ngữ đồng
nghĩa với nhau. Chúng lại có thể được phân ra làm những nhóm thành ngữ
đồng nghĩa nhỏ hơn.
* Quan hệ đồng nghĩa giữa các thành ngữ có nghĩa giống nhau, hình ảnh
biểu trưng khác nhau, cùng được tổ hợp theo cấu trúc cụm động từ


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Còn ở thành ngữ nước đổ đầu vịt hình ảnh biểu trưng là đầu vịt. Vịt là
loại gia cầm mà lông của nó không thấm nước. Khi ở dưới nước, lông vịt sẽ bị
ướt nhưng chỉ cần vịt rũ lông, vẫy cánh là lông sẽ khô trở lại. Đầu vịt trở
thành hình ảnh biểu trưng chỉ người có đầu óc không thể hiểu, tiếp nhận được
những điều người khác chỉ bảo, dạy dỗ. Hình ảnh biểu trưng đã tạo cho thành
ngữ ý nghĩa: chỉ việc làm không có tác dụng, không có kết quả, vô ích và
cũng góp phần tạo ra sắc thái biểu cảm: chê trách, thái độ bực tức với đối
tượng được nói đến. Nó quen thuộc, gần gũi với đời sống sinh hoạt hàng ngày
nên khi được sử dụng, nó đã khiến thành ngữ mang màu sắc dân dã.
Cùng nói về ý nghĩa: tùy tình hình, hoàn cảnh cụ thể để có biện pháp giải
quyết công việc cho thích hợp có các thành ngữ: liệu cơm gắp mắm, liệu bò lo
chuồng, liệu oản đọc kinh.
Xem xét kết cấu của ba thành ngữ, chúng ta thấy rằng chúng cùng được
tổ hợp theo cấu trúc cụm động từ.
Mỗi thành ngữ trong nhóm này đều có hai động từ và mỗi động từ có
một bổ ngữ là những hình ảnh biểu trưng khác nhau.
Ở thành ngữ liệu cơm gắp mắm, có hai cụm động từ là: liệu cơm và gắp
mắm. Liệu cơm chỉ hành động suy nghĩ, tính toán, xem xét hoàn cảnh, điều
kiện cụ thể ở hiện tại của bản thân. Còn gắp mắm chỉ cách giải quyết công
việc. Hai cụm động từ có liên quan đến nhau: phải suy nghĩ, tính toán, xem
xét hoàn cảnh, điều kiện của bản thân để có cách giải quyết công việc, vấn đề
sao cho hợp lí nhất. Thành ngữ đã đưa ra một cách giải quyết công việc rất
hợp lí cho nên sắc thái biểu cảm của thành ngữ này là: thể hiện thái độ đồng
tình, tán thành với cách giải quyết công việc của ai đó. Những hình ảnh biểu
trưng: cơm, mắm là những thứ gần gũi, thiết yếu trong đời sống sinh hoạt
hàng ngày đã tạo ra cho thành ngữ màu sắc phong cách dân dã.


thành, đồng tình với cách giải quyết công việc theo cách mà thành ngữ nêu ra.
Thành ngữ mang tính khẩu ngữ.
Hai thành ngữ: dạy đĩ vén váy và dạy khỉ leo cây cũng có quan hệ đồng
nghĩa với nhau.
Chúng cùng mang ý nghĩa: dạy bảo người thông thạo hơn mình, việc làm
thừa, không cần thiết [9, tr.139].

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

22

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

Điểm giống nhau giữa hai thành ngữ còn được thể hiện ở mặt kết cấu.
Chúng cùng được tổ hợp theo cấu trúc cụm động từ.
Khi phân tích các thành ngữ, chúng tôi còn thấy rằng bổ ngữ trong mỗi
cụm động từ ở các thành ngữ này không phải là các từ như bổ ngữ trong các
thành ngữ thuộc hai nhóm thành ngữ đồng nghĩa trên mà nó lai là cụm chủ - vị.
Ở thành ngữ dạy đĩ vén váy, dạy đóng vai trò là động từ. Dạy ở đây được
dùng với ý nghĩa chỉ hành động truyền lại tri thức hoặc kỹ năng một cách ít
nhiều có hệ thống, có phương pháp. Còn bổ ngữ của nó là đĩ vén váy lại được
cấu tạo từ cụm chủ - vị trong đó đĩ là chủ ngữ, vén váy là vị ngữ. Chủ thể
trong cụm chủ - vị này là đĩ chỉ những người phụ nữ dùng thân xác của mình
để kiếm sống. Do đó vén váy là hành động quen thuộc, dễ dàng đối với họ.
Cụm chủ - vị đĩ vén váy trở thành hình ảnh mang tính biểu trưng chỉ việc làm,

phong cách khẩu ngữ.
* Quan hệ đồng nghĩa giữa thành ngữ có nghĩa giống nhau, hình ảnh biểu
trưng khác nhau, được tổ hợp theo cấu trúc cụm danh từ
Bên cạnh những thành ngữ đồng nghĩa có cấu trúc cụm động từ, chúng
tôi cũng thống kê được 30 nhóm thành ngữ có nghĩa giống nhau, hình ảnh
biểu trưng khác nhau, cùng được tổ hợp theo cấu trúc cụm danh từ.
Để hiểu rõ hơn mối quan hệ đồng nghĩa của các thành ngữ ở nhóm này,
chúng tôi cũng đi vào phân tích một số nhóm thành ngữ đồng nghĩa.
Các thành ngữ: lưng ong má phấn, má đào mày liễu, má phấn môi son,
mày liễu mặt hoa là những thành ngữ có nghĩa giống nhau, hình ảnh biểu
trưng khác nhau, cấu trúc giống nhau.
Những thành ngữ này cùng có ý nghĩa chỉ những người con gái đẹp.
Xét về mặt kết cấu, chúng đều được tổ hợp theo cấu trúc cụm danh từ. Mỗi
thành ngữ được tạo thành từ hai cụm danh từ. Mỗi cụm danh từ lại gồm một
danh từ và một định ngữ. Và mỗi cụm danh từ chính là một hình ảnh biểu trưng.
Thành ngữ lưng ong má phấn có hai cụm danh từ: lưng ong và má phấn.
Lưng ong chỉ hình dáng lưng nhỏ ở phần eo. Theo quan niệm của ông cha ta
thì những người phụ nữ có phần eo nhỏ là người phụ nữ đảm đang, tháo vát.
Còn hình ảnh má phấn chỉ nước da trắng trẻo, mịn màng. Do đó khi nói tới
người phụ nữ có lưng ong, má phấn cũng có nghĩa là nói tới những người phụ
nữ đẹp, đẹp người đẹp nết. Những hình ảnh biểu trưng đã thể hiện thái độ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

24

K35A - Ngữ văn


Trường ĐHSP Hà Nội 2


Nguyễn Thị Thanh Nhàn

25

K35A - Ngữ văn


Trích đoạn Tiểu kết chương 2
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status