Kiểu nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật trong thơ nguyễn bỉnh khiêm - Pdf 32

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-------------------

BẠCH THỊ THƠM

KIỂU NHÀ NHO HÀNH ĐẠO
VÀ NHÀ NHO ẨN DẬT
TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI, 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
-------------------

BẠCH THỊ THƠM

KIỂU NHÀ NHO HÀNH ĐẠO
VÀ NHÀ NHO ẨN DẬT
TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học
Th.S. NGUYỄN THỊ TÍNH

Bạch Thị Thơm


MỤC LỤC
Mở đầu .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................... 3
3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................ 5
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................... 5
5. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu .......................................... 5
6. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 6
7. Đóng góp của khóa luận ....................................................................... 6
8. Bố cục của khóa luận ........................................................................... 6
Nội dung ........................................................................................................ 7
Chương 1: Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà nho hành đạo ................................ 7
1.1. Khát vọng “phò nghiêng đỡ lệch” để xây dựng xã hội Nghiêu Thuấn...... 7
1.2. Khát vọng dẹp loạn hết nạn binh đao ..................................................... 13
1.3. Khát vọng dùng nhân nghĩa để xây dựng đất nước ................................ 23
1.4. Tinh thần đợi thời chờ cơ ...................................................................... 28
Chương 2: Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà nho ẩn dật ................................... 40
2.1. Quan niệm về chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm ............................ 41
2.2. Sự vui hưởng lẽ sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm........................... 44
2.2.1. Tinh thần thưởng thức thiên nhiên trong lành, tươi đẹp ................ 44
2.2.2. Tinh thần an bần lạc đạo ............................................................... 50
2.2.3. Niềm vui với thú ruộng vườn ......................................................... 55
Kết luận....................................................................................................... 57
Tài liệu tham khảo


MỞ ĐẦU

Bắc thuộc, Nho giáo bị coi là phương tiện nô dịch của bọn cướp nước và bán
nước nên không thể phát triển rộng rãi được. Cho nên, theo học Nho giáo chỉ
là những tầng lớp trên muốn thông qua học tập thi cử để ra làm quan.
Sau khi cùng với nhân dân giành lại độc lập từ tay quân xâm lược, giai
cấp phong kiến Đại Việt đứng trước nhu cầu cần phải củng cố lại trật tự đất
nước và xây dựng chế độ xã hội. Nho giáo từ lâu đã là hệ tư tưởng thống trị
của xã hội phong kiến Trung Hoa và lúc này lại có đầy đủ khả năng để trở
thành công cụ tinh thần mà giai cấp phong kiến Đại Việt đang cần tới. Cho
nên, Nho giáo dần được truyền bá rộng rãi và trở thành môn học chính thống
để đào tạo trí thức. Nho giáo thâm nhập vào đời sống chính trị và văn hóa,
góp phần đề cao địa vị của vua quan, củng cố trật tự phong kiến. Song, bên
cạnh mặt tích cực, Nho giáo cũng bộc lộ những yếu tố tiêu cực trong đời sống
xã hội, nhất là khi đất nước trải qua những thử thách hiểm nghèo. Tuy vậy,
trong hàng ngũ trí thức Nho giáo cũng có những con người lỗi lạc. Sự gắn bó
mật thiết với đất nước, nhân dân cùng những suy nghĩ độc lập và sáng tạo đã
giúp họ vượt ra khỏi khuôn khổ thông thường của Nho giáo để góp phần vào
sự nghiệp chung của dân tộc. Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là một nhà nho như
thế.
Do ảnh hưởng của hoàn cảnh đất nước, gia đình cùng những tính cách
riêng của cá nhân nên ở Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự tồn tại phức hợp hai kiểu
loại hình nhà nho: nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật. Tưởng như có sự mẫu
thuẫn, nhưng nếu đặt vào hoàn cảnh lịch sử xã hội, xem xét con người
Nguyễn Bỉnh Khiêm ở góc độ phẩm chất, tính cách và lý tưởng sống thì sự
phức hợp này hoàn toàn lôgic.
Chọn đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu một cách kỹ lưỡng hơn về
các kiểu loại hình nhà nho trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Qua đó thấy được
một nhà nho hành đạo Nguyễn Bỉnh Khiêm hăng say cống hiến vì sự bình ổn

2


Với tiểu luận Nguyễn Bỉnh Khiêm và tấm lòng lo trước thiên hạ đến già
chưa thôi, tác giả Đinh Gia Khánh cũng đi từ việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử
thời đại của nước ta thế kỉ XVI, một thế kỉ đầy biến động chính trị và gắn liền
với cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm. Từ đó thấy được khát khao “phò nghiêng
đỡ lệch” của ông khi ra làm dưới triều nhà Mạc và tấm lòng lo nước thương
đời vẫn vằng vặc sáng ngay cả khi đã về ở ẩn. Tiểu luận còn cho thấy thái độ
phê phán gay gắt của tác giả với những tệ lậu của chế độ phong kiến, thói đời
điên đảo, cùng những triết lí của ông về lẽ tiêu sinh, thừa trừ và tâm sự bi
quan, bất lực trước thời thế. Đó cũng chính là nguyên nhân khiến ông cáo
quan về ở ẩn, gắn bó với thiên nhiên.
Cùng đề tài này, tác giả Bùi Duy Tân có tiểu luận Nguyễn Bỉnh Khiêm
và tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi. Nhưng tác giả không đi từ hoàn cảnh
lịch sử mà tập trung thể hiện tấm lòng lo nước thương dân của Nguyễn Bỉnh
Khiêm khi về trí sĩ: Chứng kiến cảnh lưu ly, chết chóc, đói khổ của nhân dân,
ông phê phán chiến tranh phong kiến phi nghĩa, phê phán bọn quý tộc quan
liêu thối nát, bọn nhà giàu lòng dạ hiểm ác và bày tỏ niềm xót thương, cảm
thông với nỗi đau khổ của nhân dân, khát khao một cuộc sống hòa bình, an
lạc. Với những vần thơ giáo dục đạo đức, Nguyễn Bỉnh Khiêm mong muốn
khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp của con người, góp phần xây dựng lại trật
tự xã hội. Tiểu luận cũng chỉ ra sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên nơi thôn
dã của tác giả khi về trí sĩ.
Tác giả Phạm Luận có tiểu luận Thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ông tập trung giải thích về triết lí nhàn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm như
một chuẩn tắc đạo đức, sống nhàn là lối sống của bậc trí giả, bậc hiền nhân.
G.S Minh Chi cũng Bàn về chữ nhàn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
nhưng dưới góc nhìn của Phật Giáo. Còn trong tiểu luận Nguyễn Bỉnh Khiêm:
nhà thơ lớn bóng trùm nhiều thế kỉ, tác giả Trần Nhuận Minh cũng tìm hiểu

4



6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống
Phương pháp lịch sử
Phương pháp so sánh
Phương pháp phân tích, bình giảng văn học
7. Đóng góp của khóa luận
7.1.Về mặt lí luận
Góp phần nâng cao một cách hệ thống và cụ thể hơn về sự phức hợp
của các kiểu loại hình nhà nho trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
7.2.Về mặt thực tiễn
Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có một vị trí quan trọng trong chương trình
giáo dục phổ thông, Cao đẳng, Đại học. Do đó, khóa luận này sẽ góp phần
đem đến những hiểu biết về kiểu nhà nho hành đạo và nhà nho ẩn dật trong
thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, góp phần phục vụ cho việc học tập và giảng dạy các
sáng tác của ông có hiệu quả hơn, mở ra hướng tiếp cận mới khi tìm hiểu thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm.
8. Bố cục của khóa luận
Khóa luận tốt nghiệp được bố cục như sau:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà nho hành đạo
Chương 2: Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà nho ẩn dật
Kết luận
Tài liệu tham khảo

6


NỘI DUNG

7


vua giúp đời. Điều này thể hiện rất rõ trong thơ văn của ông. Ở độ tuổi 30,
ông đã tâm sự với bạn về điều ấy trong bài Kí hữu nhân (Gửi bạn):
Hà phần phụ cập cộng tòng sư
Khí nghiệp tương tương viễn đại kì
(Mang tráp sách cùng theo thầy học đạo ở Hà Phần
Tài năng và sự nghiệp hẹn nhau sẽ có bước đi xa xôi rộng lớn)
Như vậy có thể thấy, con đường hành đạo, thi thố tài năng lập công
danh để phò vua giúp đời đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm xác định rất rõ. Tuy
nhiên, con đường công danh hoạn lộ của Nguyễn Bỉnh Khiêm không dài và
cũng không được thuận lợi như Nguyễn Trãi. Điều đó có thể lí giải bởi hoàn
cảnh lịch sử lúc bấy giờ.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh vào năm Hồng Đức thứ hai mươi hai. Thời
thơ ấu của ông nằm trong giai đoạn thịnh trị nhất của Nhà nước phong kiến
theo thể chế Nho giáo ở Việt Nam. Nhưng thời thịnh trị ấy chẳng được bao
lâu. Sau mấy trăm năm xây dựng và phát triển, nhà nước phong kiến từ cái
đỉnh vinh quang của nó hồi thế kỉ XV đã trượt dần xuống cái dốc của sự suy
thoái. Đặc biệt đến năm 1503, khi Nguyễn Bỉnh Khiêm 13 tuổi, vua Lê Hiển
Tông qua đời, đồng nghĩa với thời kì hoàng kim của nhà Lê vụt tắt. Bắt đầu từ
đây, đất nước rơi vào rối ren, loạn lạc. Trong vòng 24 năm (1503 - 1527), nhà
Lê đã thay đổi đến sáu ông vua. Bản thân những ông vua ấy lại là kẻ bất tài vô
hạnh, được coi là nỗi kinh hoàng của lịch sử Việt Nam với những ông “vua
lợn”, “vua quỷ”. Cùng với đó là sự áp bức của bọn cường hào địa chủ, tô thuế
nặng nề, sưu dịch tàn tạ khiến đời sống nhân dân khốn đốn và căm phẫn.
Trước tình hình lịch sử như vậy, điều tất yếu đã xảy ra. Năm 1527, Mạc
Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, quyền bính chuyển sang nhà Mạc. Vương triều
Mạc được thành lập. Năm 1535, sau tám năm nhà Mạc cầm quyền, tình hình
đất nước có lúc tạm ổn định. Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc

(Trung Tân quán ngụ hứng)

9


Ôm ấp niềm hi vọng ấy bởi khi đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm tin rằng mình
có thể phò nghiêng đỡ lệch, cống hiến hết mình, góp phần đem lại nền thống
nhất cho đất nước:
Vạn lý Đông minh quy bả ác,
Ức niên Nam cực điện long bình
Ngã kim dục triển phù nguy lực
Vãn khước quan hà cựu đế thành
(Biển Đông vạn dặm nắm vào trong tay
Ức năm cõi Nam đặt vững cảnh thái bình thịnh trị
Ta nay muốn thi thố sức phò nguy
Cứu vãn lại quan hà thành cũ của nhà vua)
(Cự ngao đới sơn)
Đây có thể xem là lời “tuyên ngôn” về chí hướng của Nguyễn Bỉnh
Khiêm khi ông đã xác định rõ chỗ đứng cho mình. Những lời tuyên bố hùng
hồn ấy thể hiện một thái độ chính trị dứt khoát và tấm lòng chân thành đối với
nhà Mạc. Ông đặt niềm kì vọng lớn lao vào nhà Mạc sẽ đem lại cảnh thái bình
thịnh trị cho đất nước. Ông tôn phù nhà Mạc và nói đến vua với một niềm tin
tưởng cung kính trong bài thơ Hạ ngự giá thướng kinh:
Thiên quyến hoàng vương phục cựu đô
Vũ kỳ nhân đổ cộng hoan hô
Xu hồi bách tính khuynh quan cái
Thị vệ thiên quân tiếp trục lô
Di dân cửu dĩ li điêu tụy
Nguyện bố khoan nhân úy hễ tô
(Trời yêu mến nhà vua cho lập lại thành cũ

nước:
Đã ngoài mọi việc chăng còn ước
Ước một tôi hiền, chúa thánh minh
(Thơ Nôm, bài 26)

11


Dẫu có ai han thì sẽ nhủ
Thái bình thiên tử thái bình dân
(Thơ Nôm, bài 86)
Mừng thấy thời vần đời mở trị
Thái bình thiên tử thái bình dân
(Thơ Nôm, bài 133)
Và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng luôn coi trách nhiệm của mình là đưa đất
nước đến ngày đó:
Muốn cho nhà chúa bằng Nghiêu Thuấn
Phải đạo làm tôi kẻo hổ ngươi
(Thơ Nôm, bài 137)
Nhà thơ hẹn rằng “gặp lại buổi thăng bình thì dù già yếu, bệnh tật, ông
vẫn có thể làm một bài thơ để tỏ niềm hân hoan của mình”, vì như thế là “tấm
lòng nâng cao đức độ cho vua và để lại ơn huệ cho dân của ông đã được đền
đáp”. Nhưng rất tiếc, hoài bão của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không thực hiện
được. Bởi hiện thực xã hội dưới thời nhà Mạc cũng có lúc đã phũ phàng với
bao niềm hi vọng của ông.
Thời điểm này, giặc Minh cũng muốn mượn danh nghĩa “đánh kẻ thoán
đoạt” như đã đánh nhà Hồ xưa, để cướp nước ta. Nhưng có lẽ vì chưa quên
thất bại thảm hại trước nghĩa quân Lam Sơn hồi đầu thế kỉ XV nên vẫn còn sợ
nhân dân ta và chưa dám liều mạng xâm lược, đành tạm hòa hoãn với việc
Mạc Đăng Dung dâng nộp năm động ở Yên Quảng và chịu nhận chức An

đoàn phong kiến nhà Lê, nhà Mạc và Trịnh – Nguyễn xảy ra liên miên không
có dấu hiệu kết thúc. Ở chốn triều đình thì quan lại lộng quyền, tham lam đục
khoét của dân. Là một con người mang trong mình tấm lòng yêu nước,
thương dân, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có thái độ gay gắt trong việc phản đối
chiến tranh phong kiến. Ông đau đớn khi chứng kiến đời sống cơ cực của

13


nhân dân bởi thế sự xoay vần; những cảnh lưu ly, chết chóc, đói khổ cứ bày ra
trước mắt. Nhân dân đã không được an cư lạc nghiệp, lại còn lâm vào vòng
nước, lửa, giặc, cướp, mắc phải những tai họa tày trời. Đó chính là tội của kẻ
cầm quyền. Bởi vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm lớn tiếng phê phán chiến tranh
phong kiến:
Yếm khan nghịch tặc cửu xương cuồng
Hỗ chiến giao tranh bán sát thương
Liệt hỏa viêm viêm phần ngọc thạch
Cô ưng ngạc ngạc bố loan hoàng.
Du tồ binh vị tiêm quân xú
Kinh loạn dân đa tán tứ phương
(Ngán nhìn bọn giặc điên cuồng đã lâu
Chiến tranh với nhau giết hại đến một nửa
Lửa dữ cháy bừng bừng đốt cả ngọc đá,
Một con ưng hung dữ khủng bố chim loan, chim hoàng
Chưa ra quân để tiêu diệt bọn giặc dữ,
Dân gặp nạn nhiều kẻ ly tán bốn phương)
(Cảm hứng)
Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu
Uyên ngư tùy tước vị thùy khu.
(Khắp nơi chỗ nào cũng máu chảy thành sông

bệnh về trí sĩ tại quê nhà năm 53 tuổi. Song, hiện thực đất nước lúc bấy giờ
khiến ông không thể khoanh tay đứng nhìn. Khi hơn sáu chục tuổi, tức là
mười năm sau đó, ông đã theo vua Mạc đi tòng quân dẹp loạn với niềm ước
mong tha thiết cho cuộc sống nhân dân thái bình, chính quyền được quy về
một vương triều (tức là thống nhất giang sơn về một mối). Điều này được
Nguyễn Bỉnh Khiêm nói rất nhiều trong thơ của mình:

15


Niên du thập lục cưỡng tòng chung
Lưỡng độ kinh qua trú thử phong
(Tuổi quá sáu chục, gắng gượng theo quân
Hai dịp qua đây đóng lại ở núi này)
(Quá hữu giang, tam)
Đây là bài thơ được Nguyễn Bỉnh Khiêm viết khi theo vua Mạc tòng
quân đánh anh em họ Vũ ở Tây Bắc. Ông theo vua đi tòng quân không giống
như những chinh phu tráng sĩ xưa những mong đeo được ấn phong hầu trở về
quê cũ mà ông chỉ ra đi với mục đích duy nhất của cuộc đời là “phò nghiêng
đỡ lệch”, với khát vọng dẹp hết nạn binh đao. Bởi vậy mà dù tuổi đã già, ông
vẫn nguyện cống hiến hết sức lực của mình:
Xã tắc điên nguy xuất lực phù
Lão lai mị đạn hiệu tri khu
Vô cô dân cửu ly đồ độc
Bất sát thùy năng úy hễ tô
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa
Chỉ kì diệt tặc phục thần châu
(Cảm hứng thi, ngũ)
Nghĩa là:
Xã tắc nguy ngập nghiêng đổ ra sức phù trì

Tuổi già sức yếu nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn kiên trì theo quân
hết lòng vì việc nghĩa:
Trì khu mị đạn hiệu vi cung
Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết
(Ruổi rong chẳng ngại ngùng, rán hết sức thân hèn
Bình sinh chí hướng về việc nghĩa tha thiết trong lòng)
(Phụng can tòng phát, hành thuật hoài)

17


Ý chí quyết tâm vì nghĩa lớn đã được nung nấu trong lòng. Đó chính là
động lực giúp ông vượt qua bao hiểm nguy, núi cao hiểm trở, sông nước đóng
băng, thời tiết khắc nghiệt để hộ giá nhà vua với một niềm hi vọng lạc quan:
Giang tâm oanh khúc thạch ky nga
Thế nhược tòng thiên chú đại hà
Thủy nhiễu vân căn hoàn toái ngọc
Lãng phiên tuyết chử bạch sinh hoa
Tế xuyên hữu khách thi Ân tiếp
Lượng đẩu hà nhân tố Hán sà
Kỷ thủ vương sư hoàn khải nhật
Thuận lưu ổn phiếm phát cao ca
(Tây hộ quá Thời Ngạn than túc thứ Văn Đạt Bá
vận)
Nghĩa là:
Lòng sông vòng vèo đá ngầm lởm chởm
Hình thể như từ trời trút xuống lòng sông lớn
Nước diễu quanh đá, giá lạnh như đập nát ngọc sa
Sóng chờm lên cồn tuyết màu trắng tựa nở hoa
Vượt qua sông, khách có kẻ ra tay cầm lái nhà Ân

Đồ thán dân giai nhẫm tịch tê
(Muôn đội hùng dũng dựa vào khe núi đóng quân
Ánh mặt trời chiếu sáng tinh kỳ, bóng cây như thấp xuống
Trên chỗ triều hội của nhà vua hết thảy ngọc lụa được đưa về
Cuộc tuần thú miền tây, tất cả già trẻ đều được yên ủi
Thống nhất bờ cõi, xa thư cùng một lối
Dân lầm than khổ cực đều được nằm trên nệm chiếu yên ổn)
(Liệt Khê trú doanh)

19


Những vần thơ ấy không chỉ là niềm tự hào, ngợi ca quân đội nhà vua
như ánh hào quang, như vũ bão, đi đến đâu quét sạch bạo tàn đến đó, nhân
dân yên ổn, an cư lập nghiệp mà ẩn chứa trong đó ta còn thấy niềm khát khao
của một tấm lòng yêu nước, luôn mong muốn đất nước yên bình, nhân dân
thoát khỏi vòng oan khổ lưu ly. Và như đã nói ở trên, Nguyễn Bỉnh Khiêm
quyết định theo nhà vua đi chinh chiến không phải ước mong đeo được ấn
phong hầu, được thăng quan tiến chức mà khát khao lớn nhất của cuộc đời
ông là mong đất nước được thanh bình, yên ổn. Bởi vậy, ông đã dốc hết sức
của tuổi già để lên đường vì sự an nguy của xã tắc. Và trong mỗi chuyến đi
ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn ôm ấp hi vọng sẽ dẹp yên được bờ cõi:
Khởi vị nhất thi năng khước địch
Ưng tri vạn giáp tố bàn hung
Thử hành tố triển an biên sách
Chỉ nhật xâm cương thủ bỉ hung
(Há bảo một bài thơ có thể đẩy lùi quân địch
Nên biết hàng vạn giáp binh vẫn núp trong lồng ngực
Chuyến đi này bày sẵn kế sách vỗ yên bờ cõi
Hẹn ngày bắt bọn hung tàn kia trả đất lấn lại)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status