Tìm hiểu ẩn dụ về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính và Tố Hữu - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1. Trong nền thơ ca Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại ẩn
dụ đã góp một phần không nhỏ tạo nên những nét độc đáo trong nghệ thuật
sử dụng ngôn từ. Ẩn dụ là một hiện tượng vô cùng thú vị và phức tạp của
ngôn ngữ học. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hiện
tượng này. Các công trình nghiên cứu hầu hết đều nhìn ẩn dụ dưới góc độ
của từ vựng học và tu từ học, tức là xem ẩn dụ như một phương thức phát
triển nghĩa mới của từ. Tuy vậy ở Việt Nam, chưa có nhiều đề tài khảo sát
và đánh giá hết tầm quan trọng của ẩn dụ, đặc biệt là sự so sánh đối chiếu
cách thể hiện của hiện tượng này ở các tác giả để thấy hết được vai trò của
nó, đặc biệt là trong các tác phẩm thơ, ca dao.
1.2. Tình yêu vốn là một đề tài muôn thưở không chỉ của thơ ca
mà ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi nghiên cứu về tình yêu các tác
giả đã nhìn nhận nó ở những bình diện khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu về
tình yêu dưới góc độ ẩn dụ tu từ thì không phải đã có nhiều người quan tâm
tới.
1.3. Nguyễn Bính và Tố Hữu là hai nhà thơ lớn của dân tộc. Sự
thành công của một hồn thơ được mệnh danh là “nhà thơ của đồng quê Việt
Nam”- một trong những gương mặt tiêu biểu của dòng thơ lãng mạn, và một
nhà thơ của cách mạng, sống và thuỷ chung với lý tưởng cách mạng không
phải ở việc sử dụng ngôn ngữ thơ mới lạ, độc đáo, mà chính ở cái “hồn”, cái
chân quê, chất dân dã, và tình yêu dành cho quê hương, đất nước sâu nặng
của các ông. Tuy nhiên sự nghiệp thơ ca của các ông lại được hình thành từ
những hoàn cảnh khác nhau. Nguyễn Bính và Tố Hữu đã trở thành hai hiện
tượng lớn của nghệ thuật thơ ca thu hút được hầu hết các nhà nghiên cứu,
phê bình có tên tuổi như: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Phan Cự Đệ, Nguyễn
1
Đăng Mạnh và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Chế Lan Viên, Hoàng
Trung Thông, Nguyễn Đình Thi….. Từ trước tới nay đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về hai nhà thơ này ở các bình diện như lý luận văn học và

Như những con tàu, Ý xuân, Tiếng sáo ly quê, Tâm tư trong tù, Con
chim của tôi, Nhớ người, Trưa tù, Quanh quẩn, Khi con tu hú, Nhớ
đồng, 14 tháng 7, Giờ quyết định, Tranh đấu, Đôi bạn, Đời thợ, Một
tiếng rao đêm, Tiếng hát đi đày, Xuân đến, Huế tháng tám, Xuân nhân
loại, Vui bất tuyệt, Bà má Hậu Giang)
• Tập thơ “ Việt bắc” 6 bài : ( Việt Bắc, Lượm, Ta đi tới, Lại về, cá
nước, Sáng tháng năm)
• Tập thơ “ Gió lộng” 8 bài : ( Vinh quang Tổ quốc ta ơi, Trên miền bắc
mùa xuân, Ba mươi năm đời ta có đảng, Em ơi Ba- Lan, Bài ca xuân
61, Mẹ Tơm, Người con gái Việt Nam )
• Tập thơ “ Ra trận” 18 bài : ( Lá thư bến tre, Miền Nam, Trên đường
thiên lý, Tiếng hát sang xuân, Mẹ Suốt, xuân sớm, Từ Cu Ba, Hãy
nhớ lấy lời tôi, Giữa ngày xuân, Những ngọn đèn, Theo chân Bác,
Chào xuân 67, Bài ca xuân 71, Đường vào, có thể yên, Bài ca xuân
68, Xuân 69, Bác ơi!)
• Tập thơ “ Máu và hoa” 11 bài : ( Việt Nam máu và hoa, Hoàng hôn,
Rôm, Xin gửi Miền Nam, Xta- lin- Grát, Nước non ngàn dặm, Đuờng
của ta đi, Toàn thắng thuộc về ta, Bài ca quê hương vui thế hôm nay,
Với đảng mùa xuân)
3
• Tập thơ : “ Một tiếng đờn” 20 bài ( Phút giây, Một nhành mai, Bài thơ
đang viết, Xuân đấy, Đêm xuân 85, Gửi theo anh Xuân Diệu, Đêm thu
quan họ, Có một ngày như thế, Chân lý vẫn xanh tươi, Dầu và máu,
Ta lại về, Xuân đang ở đâu, Xuân hành 92, Anh cùng em, Chân trời
mới, Duyên thầm, Đêm cuối năm, Sáng đầu năm, Màu tôi yêu, Ngọn
lửa)
3. Mục đích, ý nghĩa của khoá luận
3.1. Mục đích của khoá luận
Thông qua việc khảo sát các ẩn dụ về tình yêu, khoá luận giúp
người đọc phần nào tìm hiểu phong cách thơ của Nguyễn Bính và Tố Hữu

tham khảo 6 trang, phụ lục 19 trang, phần kết luận 2 trang và phần nội dung.
Trong đó nội dung của khoá luận được chia thành 2 chương cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Ẩn dụ về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính và thơ Tố Hữu
5
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Khái niệm về ẩn dụ.
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ẩn dụ.
Ẩn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cổ đại
( khoảng thế kỷ thứ IV trước công nguyên) ở nhiều cấp độ khác nhau. Ẩn dụ
không chỉ được nghiên cứu trong các lĩnh vực thuộc về ngữ văn học, mà còn
được nghiên cứu ở nhiều các lĩnh vực khác như: triết học, tâm lý học, phong
cách học, từ vựng học và gần đây nhất là dụng học và ngôn ngữ học tri nhận.
Lý thuyết về ẩn dụ bắt đầu hình thành từ thời triết học Hy Lạp.
Ẩn dụ theo tiếng Hy Lạp lúc bấy giờ là ( metaphor) có nghĩa là chuyển từ
chỗ này sang một chỗ khác, tức có nghĩa là chuyển đổi. Sau này khái niệm
chuyển đổi ấy được vận dụng vào việc xác định nghĩa của từ theo phương
thức ẩn dụ là hiện tượng chuyển nghĩa. Trong ẩn dụ một sự vật được miêu tả
hay được định nghĩa bằng những từ biểu thị một sự vật khác, có sự tương
đồng hay sự giống nhau với sự vật trước.
Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cổ
đại thì ẩn dụ được thể hiện qua cách chỉ sự ví von, bóng bảy và thường ẩn
chứa trong lời khởi đầu của các bài ca dao dân ca sau này và được ghi lại rất
nhiều trong các tác phẩm Kinh Thi nổi tiếng.
Đến thời hiện đại cũng xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu
của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ. Có thể kể ra như: R.Jakobon, J.Cohen,
và sau này là George Lakoff và Mark Johnson…… Nếu như quan niệm
truyền thống chỉ xem ẩn dụ như là một phương tiện sáng tác của thơ ca hay
nghệ thuật hùng biện. Ẩn dụ chỉ được xem như là vấn đề của ngôn ngữ hơn

Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề
cập đến lý thuyết ẩn dụ. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam cho
rằng khi nghiên cứu về lý thuyết ẩn dụ cần xem xét ở hai góc độ.
* Thứ nhất: Ẩn dụ là một trong những phương thức
chuyển nghĩa cơ bản của các đơn vị từ vựng. Nếu xem xét ở góc độ này,
dựa vào mối quan hệ tương đồng giữa sự vật và đối tượng thì ẩn dụ là đối
tượng nghiên cứu của từ vựng học. Ẩn dụ không chỉ được thể hiện ở một từ,
một câu mà có thể ẩn dụ được sử dụng làm khung chiếu vật cho cả một đoạn
văn, một khổ thơ hay cả một bài thơ.
Theo các công trình nghiên cứu về ẩn dụ trong và ngoài nước cho
đến nay ẩn dụ thường được xem là phép chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so
sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay những nét giống nhau nào
đó. Tiếng Hy Lạp “Metaphor” lúc đầu có nghĩa là chuyển từ chỗ này sang
một chỗ khác, tức có nghĩa là “chuyển đổi”.
Chẳng hạn, tác giả Đỗ Hữu Châu lý giải hiện tượng ẩn dụ bằng
cơ chế chuyển đổi trường nghĩa từ vựng. Ông quan niệm “ Ẩn dụ là cách gọi
tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng khác, giữa
chúng có mối quan hệ tương đồng” [ 6, tr 54]. Cơ chế chuyển đổi nghĩa của
ẩn dụ được ông miêu tả như sau:
“ Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật. A vốn
là tên gọi của X ( tức X là ý nghĩa biểu vật của A). Phương thức ẩn dụ là
phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y, nếu như X và Y giống
nhau….” [ 7, tr 145]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “ Ẩn dụ là sự chuyển đổi
tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh
với nhau”. [ 19, tr 162]
8
Nguyễn Văn Tu nêu ra định nghĩa: “ Ẩn dụ là phép gọi tên
một sự vật bằng tên gọi của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp.
Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng ta phải so sánh ngầm. Khác với hoán

khách quan.
Vì vậy Đinh Trọng Lạc phát biểu: “ Ẩn dụ là sự định danh thứ
hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có
tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hiện tượng, hoạt
động, tính chất) A được định danh với khách thể ( hiện tượng, hoạt động,
tính chất) B có tên gọi được dùng chuyển sang cho A.[31, tr 52]
Còn Cù Đình Tú thì nói : “ Ẩn dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên
gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở mối
quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” [62, tr 179]
Tác giả Hữu Đạt nói kỹ hơn: “ Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói
thẳng ra. Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng
năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với
các sự vật hiện tượng tồn tại ngoài văn bản. Như vậy thực chất của phép ẩn
dụ là dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy của
ngôn ngữ dân tộc” [12, tr 302 ].
Ở khoá luận này chúng tôi đưa ra cách hiểu về ẩn dụ như sau: Ẩn
dụ là phép tu từ trong đó dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này để biểu
hiện cho sự vật, hiện tượng khác khi mà giữa 2 sự vật, hiện tượng đó có
những nét tương đồng dựa trên một cơ chế liên tưởng nào đó. Nói cách khác
ẩn dụ chính là sự so sánh ngầm trong đó vế được so sánh bị ẩn đi. Giá trị chủ
yếu của ẩn dụ là biểu cảm, nó được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ và đặc
biệt là trong các tác phẩm văn học.
10
2. Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ
Trong Việt ngữ học có rất nhiều cách phân loại ẩn dụ dựa trên
những cơ sở khác nhau từ đó dẫn đến các kiểu , loại ẩn dụ khác nhau. Có thể
dẫn ra một số tác giả với những cách phân loại tiêu biểu sau đây:
* Tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng có 2 loại ẩn dụ dựa trên cơ
sở sau:
+ Thứ nhất: Khi hai biểu vật có cùng nét nghĩa nào đó như nhau nên

giữa các sự vật.
Vd: cửa trong cửa sông, cửa rừng…..
+ Ẩn dụ kết quả: là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các
sự vật đối với con người. Trong ẩn dụ kết quả có một loại ẩn dụ được chú ý
đặc biệt đó là ẩn dụ dùng tên gọi của những cảm giác này để gọi tên những
cảm giác của giác quan khác hay những “ cảm giác” của trí tuệ, tình cảm.
Ví dụ, chua, ngọt, mặn, cay, chát... là những cảm giác vị giác được dùng
để gọi các cảm giác thính giác nói chua loét, lời nói ngọt ngào, nói cay
quá...
* Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “ từ vựng học tiếng
Việt” cho rằng có các kiểu ẩn dụ sau đây:
+ Ẩn dụ hình thức: Vd mũi là một bộ phận của con người có đặc điểm nhọn,
có phần nhô ra. Vì thế phần đất nhô ra cũng được gọi là “ mũi đất”
+ Ẩn dụ chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật hoặc hiện tượng khác.
Ví dụ: Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
( Ông đồ - Vũ Đình Liên)
+ Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó
12
Vd: Tình cảm khô khan, lời nói ngọt ngào.
+ Ẩn dụ chức năng: Vd. “Bến” trong bến xe, bến đò, bến sông…..tất cả các
từ này đều thể hiện một chức năng giống nhau là đầu mối giao thông.
+ Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài: vd: Người phụ nữ đẹp được
gọi là Tây Thi
+ Ẩn dụ màu sắc: Vd màu da trời - màu xanh như da trời; màu cánh sen -
màu hồng như màu của cánh sen; màu cốm - màu xanh như màu của cốm.
+ Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người: vd : Cún con của mẹ,
cún con của anh…..
+ Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng Ví dụ, hạt nhãn là cái cụ thể chỉ phần bên
trong của quả được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của một vấn đề.

người trong xã hội. Một số tác giả gọi đó là phúng dụ. Ẩn dụ ngụ ngôn là
những triết lý nhân sinh đã được đúc rút từ nghìn năm.
Ví dụ: “ Cà cuống uống rượu la đà
Bao nhiêu ếch nhái nhảy ra chia phần”
( Ca dao)
Ẩn dụ ngụ ngôn tác động đến người đọc một cách rất thấm thía vì
đó là sự kết hợp hài hoà giữa yếu tố hiện thực của ngôn ngữ và chất suy
tưởng. Tác giả Hữu Đạt từng nhận định rằng: “ Trong thơ ca ẩn dụ ngụ ngôn
xuất hiện chủ yếu trong ca dao. Ẩn dụ là phương pháp tu từ mở ra nhiều cảm
xúc và nhận thức cho con người”.
Trên đây là cách phân loại ẩn dụ của một số nhà nghiên cứu ngôn
ngữ. Quan niệm và cách phân loại về ẩn dụ tu từ của các nhà ngôn ngữ học
14
được trình bày theo những cách khác nhau không hề mâu thuẫn, đối lập mà
chúng bổ sung cho nhau đem lại những cách hiểu thống nhất và đầy đủ nhất
về ẩn dụ tu từ
Trong khoá luận này chúng tôi chỉ khảo sát những ẩn dụ tu từ
mang tính biểu trưng về tình yêu trong các sáng tác của Nguyễn Bính và Tố
Hữu.
3. Ẩn dụ về tình yêu
3.1. Ẩn dụ tu từ.
3.1.1. Các đặc điểm của ẩn dụ tu từ
Ẩn dụ hình tượng hay còn gọi là ẩn dụ tu từ là phương tiện diễn
đạt có giá trị hình tượng, có sức mạnh biểu cảm. Ẩn dụ tu từ được dùng
trong văn chính luận cũng như trong thơ ca đặc biệt là thơ trữ tình.
Vd. "Hoa" mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc, trong câu
Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo đoạ đầy bấy hoa
(Truyện Kiều).
Ẩn dụ là một phương thức tu từ được sử dụng nhiều trong ngôn

ngôn ngữ đã tuân thủ quy luật tiết kiệm kỳ diệu của ngôn ngữ. Ở ẩn dụ
người ta đã dùng những cái hữu hạn để biểu thị những cái vô hạn hết sức
tinh tế và khéo léo. Về mặt từ vựng quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ được
thể hiện ở chỗ với cùng một hình thức vỏ âm thanh người viết có thể diễn
đạt được nhiều nội dung khác nhau. Đồng thời với cùng một đối tượng các
tác giả cũng có nhiều cách thể hịên và diễn đạt khác nhau.
Khi một từ, một ngữ nào đó được dùng làm ẩn dụ thì nghĩa gốc
của nó sẽ không còn như thế nữa mà nó đuợc thay thế và hiểu theo một
16
nghĩa thứ hai được gọi là nghĩa bóng. Các nghĩa được tạo ra trong ẩn dụ tu
từ không mang ý nghĩa cố định hoá. Vì thế ẩn dụ tu từ mang tính chất sáng
tạo riêng của từng nghệ sĩ. Người đọc muốn tiếp nhận và hiểu được ý nghĩa
của nó phải dựa vào các yếu tố như: ngữ cảnh, tính logic và thói quen thẩm
mỹ.
3.1.2.Tiêu chí nhận diện
Tác giả Hoàng Kim Ngọc nhận xét: Do ẩn dụ tu từ là hiện tượng
có tính chất so sánh ngầm, có tính chất lâm thời, có khả năng gợi nên hình
ảnh cảm tính về sự vật nên rất tinh tế và khó nắm bắt. Vì thế ta phải tìm ra
những tiêu chí làm chỗ dựa để nhận diện ẩn dụ tu từ với nghĩa chuyển lâm
thời của nó. Cho đến nay việc tìm ra những tiêu chí đủ tin cậy làm chỗ dựa
cho việc nhận diện những ẩn dụ tu từ là một điều không phải đơn giản, vẫn
còn nhiều tranh cãi.
Trong khoá luận này chúng tôi sử dụng một bộ gồm những tiêu
chí ngôn ngữ và những tiêu chí phi ngôn ngữ làm cơ sở cho việc nhận diện
ẩn dụ tu từ bao gồm: Yếu tố ngữ cảnh, tính logíc và thói quen thẩm mỹ.
* Tiêu chí ngữ cảnh: Tiêu chí ngữ cảnh ở đây bao gồm ngữ cảnh hẹp
và ngữ cảnh rộng.
- “ Ngữ cảnh hẹp”: ngữ cảnh hẹp ở đây chính là chu cảnh bao gồm
những yếu tố, những quan hệ cụ thể của câu chữ có mặt trong ngôn bản,
được dùng để tố chức ngôn bản.

đâu phải là lối đi thật vào vườn kia. Câu chuyện “vườn hồng có lối” , mận
đào, ở đây chỉ là cách nói xa xôi, bóng gió theo lối ước lệ, tượng trưng về
khả năng có thể đến được với nhau của đôi trai gái trong lời đối đáp mà thôi.
18
- Tiêu chí ngữ cảnh rộng: Như đã nói ở trên ngữ cảnh hẹp chỉ là
chu cảnh của câu chữ trong một khuôn khổ ngôn bản. Còn bản thân ngôn
bản ấy dù dùng để nói hay viết laị nằm trong một chu cảnh rộng hơn- chu
cảnh ấy gọi là ngữ cảnh rộng hay nói một cách khác đó chính là “ cảnh
huống giao tiếp ngôn ngữ”. Trong truyền thống của phong cách học cảnh
huống giao tiếp ngôn ngữ thường được hiểu là một phạm trù khá rộng bao
gồm: mục đích, nội dung, người tham gia, địa điểm, cách thức tiến
hành….của giao tiếp ngôn ngữ đó. Cảnh huống giao tiếp có ảnh hưởng rất
lớn đến nội dung diễn đạt, nó có thể làm thay đổi ngôi, vị trí và cách xưng
hô, cũng như làm cho các ẩn dụ tu từ xuất hiện khác nhau. Chính vì thế việc
nhận diện ẩn dụ tu từ cũng không thể nằm ngoài quỹ đạo đó.
* Tiêu chí thứ hai: Tính logíc
Tính logíc được hiểu là sự hợp lý trong suy nghĩ, trong lập luận
và đôi khi là trong cả suy nghĩ, hành động. Trong nghệ thuật ngôn từ muốn
tạo ra một ẩn dụ tu từ cho câu thơ, câu văn thì cần dựa vào một bình diện
tương đồng, nhất định nào đó. Cái được gọi là quan hệ tương đồng này dù rõ
ràng hay trừu tượng thì cũng phải có lý và ít nhất là được người nghe chấp
nhận. Vì thế tác giả Hữu Đạt đã khẳng định: “ Thực chất của hiện tượng ẩn
dụ này là dùng tên gọi này để biểu thị cho sự vật khác dựa trên cơ chế của
tư duy và ngôn ngữ dân tộc” Chính vì thế mà khi nghiên cứu ẩn dụ tu từ ta
sẽ thấy được bức tranh về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá dân tộc.
* Tiêu chí thứ ba: Tính thẩm mỹ ( hay còn gọi là tiêu chí thói quen
thẩm mỹ)
Thói quen thẩm mỹ là một trong những tiêu chí giúp nhận diện ẩn
dụ tu từ, và nó có hiệu quả đặc biệt trong việc giải thích các ẩn dụ này. Song
thói quen thẩm mỹ là khái niệm còn mang màu sắc chủ quan của người tiếp

Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.
Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.
( Yêu – Xuân Diệu)
Khái niệm ẩn dụ về tình yêu trong ngôn ngữ học từ trước đến
nay ít nhiều còn chưa được đề cập đến. Nó mới chỉ được đánh giá theo quan
điểm của ngôn ngữ học tri nhận như là một ẩn dụ ý niệm. Trong khoá luận
này xuất phát từ cách hiểu về ẩn dụ như đã trình bày ở trên chúng tôi định
nghĩa khái niệm ẩn dụ về tình yêu với tư cách là một ẩn dụ tu từ như sau: Ẩn
dụ về tình yêu là một loại ẩn dụ tu từ trong đó các hình ảnh, phạm trù, cảm
xúc, cung bậc của tình yêu được hình dung như những sự vật, trạng
thái….nó được ẩn đi trong bề mặt câu chữ và được thể hiện bằng những hình
ảnh bóng bẩy, giàu sức gợi cảm của phép ẩn dụ.
Tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước là những tình cảm
rất đỗi bình dị, nó gần gũi và ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân Việt Nam,
nó được nhắc đến nhiều trong thơ ca với niềm tự hào. Trong phạm vi khoá
luận này chúng tôi tiến hành khảo sát các ẩn dụ về tình yêu ở ba phạm trù:
Ẩn dụ về tình yêu lứa đôi, tình yêu cách mạng và tình yêu quê hương đất
nước để qua đó làm sáng tỏ phong cách tác giả cũng như những đóng góp
của các ông về nghệ thuật sử dụng ngôn từ.
21
Chương II : ÂN DỤ VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH VÀ
THƠ TỐ HỮU
1. ẨN DỤ VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
1.1. MỘT
SỐ
NÉT
KHÁI
QUÁT VỀ NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH

- Hương cố nhân ( thơ)
- Mười hai bến nước ( thơ)
- Người con gái ở lầu hoa ( thơ)
- Không nhan sắc ( truyện)
- Trả ta về ( thơ)
- Đồng Tháp Mười ( thơ)
- Gửi người vợ Miền Nam ( thơ)
- Đêm sao sáng ( thơ)
Và một số tác phẩm khác:
- Các tập thơ: Một nghìn cửa sổ ( 1941), Mây Tần (1942), Tập thơ yêu
nước, Sóng biển cỏ, Ông lão mài gươm (1947), Trăng kia đã đứng ngang
đầu, Những dòng tâm huyết, Mừng Đảng ra đời ( 1953), Nước giếng thơi
( 1957), Tình nghĩa đôi ta ( 1960).
- Truyện thơ: Cô gái Ba Tư (1943), Cây đàn Tỳ Bà (1944), Trông bóng cờ
bay ( 1957), Tiếng trống đêm xuân ( 1958).
- Truyện: Ngậm miệng ( 1940), Thạch xương bồ, Không đất cằm dùi
( 1944), Sang máu ( 1947).
- Kịch thơ: Bóng giai nhân ( Viết chung với Yên Lan – 1942), Nguyễn
Trãi ( 1943).
- Kịch bản chèo: Cô Son ( 1961), Người lái đò sông Vị ( 1964).
- Lý luận sáng tác: Cách làm thơ lục bát ( 1955).
23
Với sự nghiệp sáng tác đồ sộ, gần 20 tập thơ trong đó có một số
truyện thơ, kịch thơ và trường ca, Nguyễn Bính đã sớm trở thành một nhà
thơ quen thuộc với độc giả Việt Nam. Từ những năm 1936 – 1937, người ta
đã thấy trong làng Thơ mới của Việt Nam xuất hiện một tài năng với giọng
điệu thơ riêng biệt, khó trộn lẫn và mau chóng chiếm được cảm tình của
đông đảo người đọc.
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

nổi tiếng ấy nhà thơ Nga Paxtecnắc phải chăng cũng chính là nói về thơ
Nguyễn Bính: Những vần thơ giản dị của ông cứ tồn tại và sống đời sống
riêng của nó. Nó tồn tại như lẽ tự nhiên của cuộc đời vốn tồn tại vậy”.
1.2. ẨN DỤ VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
1.2.1. Thống kê, phân loại các ẩn dụ về tình yêu
trong thơ Nguyễn Bính
Trên cơ sở thống kê 86 bài thơ trong tuyển tập “ Nguyễn Bính
thơ và đời” Nhà xuất bản văn học – 2004. Chúng tôi đã xác định được 145
lần xuất hiện ẩn dụ tu từ về tình yêu. Trong đó có 124 ẩn dụ về tình yêu lứa
đôi, 13 ẩn dụ về tình yêu quê hương đất nước và 7 ẩn dụ về tình yêu cách
mạng. ( Số lượng và tỷ lệ các ẩn dụ sẽ được cụ thể hoá qua bảng khảo sát
dưới đây)
25

Trích đoạn NHỮNG ĐẶC TRƯNG ẨN DỤ VỀ TèNH YấU TRONG THƠ TỐ HỮU NHỮNG NẫT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ CÁCH DÙNG ẨN DỤ TèNH YấU GIỮA NGUYỄN BÍNH VÀ TỐ HỮU PHẦN KẾT LUẬN sống lại quờ hương biển lắm ngườ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status