Phong tục hôn nhân của người việt trong văn hoá việt nam từ truyền thống đến hiện đại - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HIỀN

PHONG TỤC HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI
VIỆT TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM
TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành Việt Nam học

HÀ NỘI - 2010

SV: Nguyễn Thị Hiền

1

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình làm khoá luận.

Hà Nội, tháng 05, năm 2010
Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hiền

SV: Nguyễn Thị Hiền

3

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong khoá luận là kết quả
nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS.GVC Vũ
Văn Ký. Những nội dung này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác
giả khác. Những câu trích trong khúa luận có nội dung chính xác và các tài
liệu có xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, tháng 05, năm 2010
Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Hiền


2.1.1. Quyền lợi gia tộc. ............................................................................. 13
2.1.2. Quyền lợi làng xã. ............................................................................ 14
2.1.3. Những nhu cầu riêng tư. ................................................................... 15
2.1.4. Vai trò người mai mối. ..................................................................... 15
2.1.5. Tuổi thành hôn và so tuổi. ................................................................ 16
2.2. Lễ nghi trong hôn nhân truyền thống. ............................................. 17

SV: Nguyễn Thị Hiền

5

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

2.2.1. Lễ nạp thái. ....................................................................................... 18
2.2.2. Lễ vấn danh. ..................................................................................... 19
2.2.3. Lễ nạp cát. ........................................................................................ 20
2.2.4. Lễ nạp chính. .................................................................................... 22
2.2.5. Lễ thỉnh kỳ. ...................................................................................... 23
2.2.6. Lễ thân nghinh. ................................................................................. 23
CHƯƠNG 3: PHONG TỤC HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI VIỆT
TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN ĐẠI. ............................................................ 31
3.1. Những biến đổi trong hôn nhân người Việt. .................................... 31
3.1.1. Quan niệm hôn nhân. ........................................................................ 31
3.1.2. Quan niệm chọn dâu, kén rể. ............................................................ 31
3.1.3. Phương diện pháp lý ......................................................................... 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 47

SV: Nguyễn Thị Hiền

7

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Theo dòng thời gian, trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước,
những quy ước của cộng đồng người Việt xưa trong đối nhân xử thế, trong
giao tiếp xã hội, giữa cá nhân với cộng đồng với tổ tiên và thần linh trở thành
phong tục lễ nghi truyền thống trong sinh hoạt văn hoá của người Việt Nam.
Ngày nay, trong xã hội văn minh hiện đại, những phong tục, lễ nghi truyền
thống vẫn được các thế hệ người Việt Nam trân trọng, gìn giữ và kế thừa. Nó
là sợi dây vô hình gắn kết người Việt Nam ở mọi phương trời, bởi nó phản
ánh khát vọng chân chính, nét đẹp của đạo lý và chiều sâu của tâm hồn người
Việt, đã vượt qua mọi khoảng cách về không gian, thời gian trở thành nét văn
hoá truyền thống của người Việt Nam.
Văn hoá Việt Nam là văn hoá của một quốc gia đa tộc người với 54 dân
tộc trong đó người Việt là tộc người chủ thể sáng tạo của nền văn hoá. Văn
hoá Việt Nam có tính thống nhất trong đa dạng, giữ được bản sắc riêng của
mỗi tộc người. Trải qua nhiều thăng trầm và biến đổi lịch sử nhưng những giá
trị văn hoá Việt Nam vẫn được bảo tồn, phát huy cho phù hợp với thời đại.

- Thượng Toạ Thích Thanh Duệ (2007), Phong tục và lễ nghi cổ truyền
Việt Nam, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
- Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, NXB Văn hoá - Thông
tin, Hà Nội.
- Bùi Xuân Mỹ (2006), Tục cưới hỏi ở Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
- Lê Như Hoa (1998) Hôn lễ xưa và nay, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà
Nội.
-Trương Thìn (2009), Hướng dẫn nghi thức việc cưới, Lễ thức việc
tang, Sở Văn hoá - Thông tin Vĩnh Phúc.
Trong công cuộc xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, Đảng và
Nhà nước ta đã có những Nghị Quyết, chỉ thị, thông tư về vấn đề hôn nhân
nhằm xây dựng nếp sống lành mạnh, đáp ứng yêu cầu cuộc sống trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Chỉ thị 27 - 1998 - CT/TU của Bộ Chính trị.

SV: Nguyễn Thị Hiền

9

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

- Chỉ thị 14 - 1998/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc “xây
dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”.
Để hoàn thành khoá luận, chúng tôi đã tham khảo kết quả nghiên cứu
của những người đi trước, tìm hiểu đường lối chính sách của Đảng nhất là tự


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

- Nghiên cứu phong tục hôn nhân của người Việt (dân tộc Kinh)
- Nghiên cứu phong tục hôn nhân diễn ra từ truyền thống đến hiện đại.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Khoá luận thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng
hợp xử lý tài liệu và phương pháp khảo sát thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khoá luận.
- Khoá luận góp phần làm rõ thêm nét đẹp văn hoá của người Việt qua
phong tục hôn nhân.
- Giúp cho thế hệ trẻ người Việt thấy được vai trò, ý thức trách nhiệm
của mình trong việc giữ gìn, phát huy nét đẹp văn hoá của dân tộc. Có ý thức
trong việc tổ chức cưới hỏi lành mạnh, tiến bộ phù hợp với sự phát triển của
xã hội nhưng vẫn bảo tồn được bản sắc văn hoá dân tộc.
- Khoá luận làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác văn
hoá, hoạt động thực tiễn trong văn hoá cưới hỏi.
7. Bố cục của khoá luận.
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, khoá luận gồm ba
chương:
+ Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung.
+ Chương 2: Phong tục hôn nhân của người Việt truyền thống.
+ Chương 3: Phong tục hôn nhân của người Việt trong đời sống hiện
đại.

SV: Nguyễn Thị Hiền

11

SV: Nguyễn Thị Hiền

12

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

Theo Thân Trọng Huề trong “Học Luật lệ An Nam” thì giá thú là một
cái lễ mà người đàn bà rời bỏ nhà mình để về nhà chồng.
Lại có một định nghĩa khác về hai từ giá thú: Giá thú là một cái lễ mà
nhân đó người đàn ông lo nối dõi dòng họ nhà mình. Người đàn ông có lấy vợ
mới sinh con cái để nối dõi tông đường, và theo quan niệm phương Đông sự
nối dõi rất quan trọng kẻ không có con nối dõi là kẻ bất hiếu.
Như vậy, giá thú là bằng chứng căn bản của xã hội được pháp luật bảo
vệ và đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn tình yêu nam nữ và duy trì
cho nòi giống. Nếu với quan niệm tự do luyến ái ngày nay, thì dùng từ giá thú
thích hợp với nội dung ngữ nghĩa hơn từ hôn nhân.
Nói đến giá thú, chúng ta không thể không đề cập tới vấn đề hình thức
giá thú ở nước ta. Điều kiện hứa giá thú trong Luật Hồng Đức không hề nói
tới sự ưng thuận của đôi trai gái, mà do hai bên cha mẹ quyết định. Điều 109
Luật Gia Long có ghi: “Khi người chủ hôn không là bậc trưởng tôn như cha
mẹ, ông bà, chú bác, anh chị, hay ông bà, nếu giá thú do chính hai bên nam
nữ quyết định, những người này sẽ bị coi là chính phạm và người chủ hôn chỉ
là tòng phạm, tội được giảm một bậc”.
Trong Thiên Nam Dư hạ tập quy định lễ nghị hôn (lễ chạm mặt) như
sau: “Con trai từ 18 tuổi, con gái từ 16 tuổi trở lên mới có thể thành hôn.

1986, Ban chỉ đạo nếp sống mới Trung ương phối hợp với Bộ Văn hóa đưa ra
một mẫu giấy mới, lấy tên là “Giấy chứng nhận kết hôn”. Mẫu giấy này còn
dùng cho đến ngày nay”
Vợ chồng là cội rễ của xã hội, việc giá thú do đó phải theo lễ mới hợp
đạo làm người. Nhưng không phải người nào cũng lấy nhau theo lễ. Lễ chỉ
được cử hành sau khi một cặp trai gái kết hôn với nhau phải làm giấy giá thú
hay đăng ký kết hôn như ngày nay, để bảo vệ quyền lợi, danh dự và nhân
phẩm của đôi trai gái, tập tục xưa chỉ bắt buộc trai gái nộp cheo cho làng
[Xem TLTK 4], [ Xem TLTK 10], [Xin xem TLTK 16].
1.3. Hôn nhân
Hôn nhân là một vấn đề để chỉ việc lấy vợ lấy chồng của đôi trai gái.
Hôn nhân là được ghép hai danh từ chữ Hán là Hôn và Nhân. Nghĩa của từ
Hôn là sự gặp gỡ giữa nam và nữ; Nhân là lý do, nguồn gốc của sự kết hợp
giữa nam và nữ.
Hôn nhân là đôi bên cha mẹ dựng vợ gả chồng cho con và từ đó chúng
ta hiểu hôn nhân là đứng trên quan điểm của đôi bên cha mẹ [Xem TLTK 14].

SV: Nguyễn Thị Hiền

14

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

Cũng có quan niệm vì lễ đón dâu của cô dâu và chú rể vào buổi chiều
muộn lúc hoàng hôn nên gọi là hôn nhân.

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

Mặc dù hơn ngàn năm bị lệ thuộc phong kiến Trung Quốc, có lúc nước
ta phải trở thành quận huyện của Trung Quốc, nhưng văn hoá bản địa vẫn có
sức sống mãnh liệt, trở thành bản sắc văn hoá Việt Nam, đem lại tự tôn cho
người Việt khiến họ không bao giờ bị đồng hoá. Ngược lại những tên quan lại
Trung Quốc được cử sang cai trị nước ta, lấy vợ Việt Nam lại cũng theo
phong tục tập quán Việt Nam (bằng chứng là các tài liệu khảo cổ học tìm thấy
trong các mộ Hán trên đất Việt Nam còn có những miếng trầu, điều đó chứng
tỏ rằng quan lại nhà Hán cũng ăn trầu, cũng nhuộm răng đen theo người Việt
Nam), chứng tỏ người Việt không bị đồng hoá mà quan lại nhà Hán lại bị Việt
hoá.
Mặt khác, mặc dù dân ta xưa kia chịu ảnh hưởng của những nghi lễ
Trung Quốc, nhưng do những điều kiện kinh tế, khí hậu, địa lý và những
truyền thống văn hoá riêng, nên việc thực hành những lễ giáo ấy cũng không
hoàn toàn giống như người Trung Quốc. Đặc biệt, từ sau thời kỳ Bắc thuộc, ý
thức độc lập dân tộc của người Việt Nam được đẩy lên cao. Tầng lớp phong
kiến thời Lý, Trần đã ý thức được: sau khi dành lại độc lập tự chủ cho đất
nước vấn đề cốt yếu là phải tạo ra cho được một hệ thống phong hoá riêng
cho mình. Đó chính là bản sắc văn hoá Việt Nam.
Với ý thức ấy năm 1483, Lê Thánh Tông ban hành Luật Hồng Đức
gồm 721 điều về luật hình, luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự và tố tụng,
…tạo cho phong hoá nước nhà có cơ sở pháp lý vững vàng.
Năm 1663, vua Lê Huyền Tông đã ban hành điều giáo hoá: “Vợ chồng
là gốc luân thường. Lấy vợ gả chồng phải theo lễ nghĩa, không được suy bì

phản đối quyết liệt. Mãi tới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếp đó là
cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm cả dân tộc ta được
giải phóng về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá - xã hội, thì quan niệm, nếp
nghĩ của nhân dân ta đã thay đổi trong lĩnh vực hôn nhân. Những nghi thức
cưới xin lúc này thực sự được đổi mới: Một buổi lễ thành hôn với sự có mặt
của hai họ, cô dâu chú rể, xóm làng hoặc hàng phố, trong đó đại biểu của
chính quyền cơ sở tuyên bố công nhận là đủ. Và tất nhiên sau phần tuyên bố
công nhận , bao giờ cũng có một cuộc liên hoan mà văn nghệ là thành phần
chính, kèm theo là tiệc trà (thuốc lá, nước trà, một chút bánh kẹo) rất đơn
giản, nhẹ nhàng. Những nghi vật giá thú, hình thức lan nhai hầu như được xoá
bỏ.
Đúng như nhận định của Lê Như Hoa và Bùi Quang Thắng trong “Hôn
lễ xưa và nay ở Việt Nam”, 1998, tr.28: “ Thời ấy cuộc kháng chiến đầy gian

SV: Nguyễn Thị Hiền

17

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

khổ nhưng hào hùng ấy đã chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống của toàn dân
tộc, dường như nó thấm vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (đến nỗi
có nhà nghiên cứu đề nghị gọi tên văn hoá thời ấy là văn hoá kháng chiến).
Hôn nhân, hôn lễ thời kỳ ấy chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của “văn hoá
kháng chiến”.

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

Tổ phong hoá trình bày trước tiểu ban Lý luận Văn hoá - Giáo dục Trung
ương một văn bản quan trọng “ Vấn đề cải tạo và xây dựng phong hoá trong
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”. Tài liệu này khẳng định: Cải tạo và
xây dựng phong hóa là yêu cầu quan trọng vào bậc nhất của cách mạng, nhằm
góp phần xây dựng một xã hội mới, với những con người mới. Trong đó, đặc
biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng nếp sống mới trong việc cưới”.
Sau năm 1975, khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, cuộc sống hoà
bình lập lại, người dân Việt Nam muốn tìm ra một mô hình cho nghi lễ hôn
nhân phù hợp. Tất nhiên, nghi lễ trong hôn nhân không thể trở lại như thời
phong kiến và cũng không thể tổ chức theo kiểu Châu Âu, hay kiểu “tuyên
hôn” như thời kháng chiến ở chiến khu.
Chỉ thị số 15/CT - TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, ngày
25/10/1984, “ về tăng cường lãnh đạo tổ chức cuộc vận động thực hiện nếp
sống mới, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, xoá bỏ tệ nạn xã hội, quét sạch văn
hoá phản động, đồi trụy” đã tiếp thêm sức mạnh cho phong trào xây dựng nếp
sống văn hoá trong cả nước.
Về việc cưới hỏi thời đó, nhiều hợp tác xã miền Bắc đã xây dựng
những quy ước nhằm tổ chức đám cưới giản dị, lành mạnh, vui vẻ, đỡ tốn
kém.
Năm 1985, Bộ Văn hoá và trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh đã phối hợp phát động xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa trong
thanh niên. Hoạt động đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng nếp sống văn
hoá trong việc cưới.
Năm 1986, Ban chỉ đạo nếp sống mới Trung ương đã ban hành “nghi
thức cưới mới” nhằm khai thác vốn văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
đồng thời xác định trách nhiệm của chính quyền nhân dân, trách nhiệm của

cộng đồng, kể cả hôn nhân là lĩnh vực riêng tư nhất. Hôn nhân của người Việt
truyền thống không phải việc hai người lấy nhau mà là việc “hai họ” dựng vợ
gả chồng cho con cái. Tục lệ này xuất phát từ quyền lợi của tập thể.
2.1.1. Quyền lợi gia tộc
Việc hôn nhân tuy là hai người nhưng lại kéo theo việc xác lập quan hệ
giữa hai gia tộc. Vì vậy, điều cần làm đầu tiên chưa phải là việc chọn một cá

SV: Nguyễn Thị Hiền

20

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

nhân cụ thể, mà lựa chọn một dòng họ, một gia đình xem cửa nhà hai bên có
tương xứng không, có môn đăng hộ đối không.
Tiếp theo, đối với cộng đồng gia tộc, hôn nhân là một công cụ duy nhất
và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nhân lực. Để đáp ứng nhu cầu
nhân lực của nghề trồng lúa, khi xem xét con người trong hôn nhân, người
nông nghiệp Việt Nam quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ.
Không chỉ duy trì nòi giống, người con dâu tương lai còn có trách
nhiệm làm lợi cho gia đình. Con cái phải đảm đang tháo vát, đem lại nguồn
lợi vật chất cho gia đình nhà chồng; con cái phải giỏi giang đem lại nguồn lợi
vẻ vang (nguồn lợi tinh thần) cho gia đình vợ: Chồng sang vợ được đi giày,
Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông. Trai khôn kén vợ chợ đông, Gái
khôn kén chồng giữa chốn ba quân. [Xem TLTK 12], [Xem thêm TLTK 15].

đến những cuộc hôn nhân nổi danh như: Mỵ Châu với Trọng Thuỷ, Công
chúa Huyền Trân với vua Chàm Chế Mân; Công chúa Ngọc Hân với Nguyễn
Huệ…rồi vô số các cuộc hôn nhân của các con vua chúa qua các triều đại
được triều đình gả bán cho tù trưởng các miền biên ải nhằm củng cố đường
biên giới quốc gia - tất cả đều là làm theo ý nguyện của các tập thể cộng đồng
lớn nhỏ: gia đình, gia tộc, làng xã, đất nước.
2.1.3. Những nhu cầu riêng tư
Trước hết là sự phù hợp của đôi trai gái xét một cách trừu tượng bằng
việc hỏi tuổi (lễ vấn danh mà ngày nay gọi là chạm ngõ, hay lễ dạm) xem đôi
trai gái có hợp tuổi nhau hay không, còn nếu xung khắc thì thôi. Để cho quan
hệ vợ chồng được bền vững khi cưới, đôi vợ chồng trẻ thời Hùng Vương có
tục trao cho nhau nắm đất và gói muối: nắm đất tượng trưng cho lời nguyền
gắn bó với đất đai - làng xóm; gói muối là lời chúc cho tình nghĩa giữa hai
người mặn mà thuỷ chung (Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau). Sau
này thay cho đất và muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn có một loại bánh đặc biệt
rất có ý nghĩa là bánh su sê (tên đọc chệch của phu thê). Khi làm lễ hợp cẩn,
còn có tục hai vợ chồng uống chung một chén rượu: ý nghĩa của tục này cũng
là cầu chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bó với nhau: dính nhau như cơm nếp
và say nhau như rượu.
2.1.4. Vai trò của người mai mối
Trong hôn nhân cũ, phải kể đến vai trò của người mai mối. Bởi vì theo
lễ giáo: “Nam nữ thụ thụ bất thân”. Nghĩa là trai gái không được phép gần
nhau, nên không có khả năng hiểu biết về nhau. Do đó việc tìm hiểu tin đi tin

SV: Nguyễn Thị Hiền

22

K32 - Việt Nam học


Trong Luật Hồng Đức người ta không tìm thấy điều khoản quy định
hạn tuổi của nam - nữ khi muốn lấy nhau nhưng trong một văn bản còn ghi

SV: Nguyễn Thị Hiền

23

K32 - Việt Nam học


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Th.s Vũ Văn Ký

chép ở sách “Thiên nam hư hạ tập” có đoạn quy định về lễ nghi hôn nhân
như sau: “Con trai từ 18 tuổi, con gái từ 16 tuổi trở lên mới có thể thành hôn;
ngoài ra hai bên trai gái và người chủ hôn (là cha mẹ hay trưởng tộc) phải
không có tang từ một năm trở lên”.
Cũng không hiếm gia đình còn quan niệm hôn nhân đồng nghĩa với
việc thêm người (thêm được một nhân lực lao động chính), vì vậy vợ có thể
hơn chồng dăm bảy tuổi, thậm chí hàng chục tuổi, trong khi đó chú rể vẫn còn
là một cậu bé, tạo nên cái cảnh:
Buồn tình em bế thằng bé nó lên
Nó còn bé mọn đã lên cơm cháo gì.
Nó ngủ nó ngáy khì khì
Một giấc đến sáng còn gì là xuân
Ối chị em ơi! Hoa nở mấy lần.
Nạn tảo hôn thời xưa đã làm xuất hiện bao nhiêu bi kịch trong xã hội,
mà người phụ nữ phải gánh chịu, phải đau đớn, phải yên phận, phải vùng
vẫy… nó làm hại cả một đời người.

3 - Lễ nạp cát
4 - Lễ nạp chính
5 - Lễ thỉnh kỳ
6 - Lễ thân nghinh

Nội dung các lễ đại thể như sau:
2.2.1. Lễ nạp thái
Sau khi mai mối tin đi tin lại, hai nhà thấy việc thăm hỏi nhau có thể
tiến hành. Nhà trai xin được đặt một cái lễ gọi là lễ nạp thái. Lễ này dân gian
thường gọi là lễ chạm ngõ. Tuy là một lễ nhưng lễ chạm ngõ rất sơ sài, nhà
trai có thể đưa sang nhà gái vài bao trà, ít cau trầu để diễn xuất cho câu
chuyện.
Đúng ngày giờ tốt như đã thoả thuận, bà mối dẫn đầu đoàn của nhà trai
sang thăm nhà gái. Đoàn thường gồm các bậc cô, dì, chú, bác,…của chú rể.
Tuy số lượng đoàn không đông nhưng những người này có óc quan sát sắc
sảo, có tài trò chuyện đối đáp với bên nhà gái, tất nhiên là trong đoàn phải có
chú rể.
Nội dung của lễ này là hai bên gia đình trao đổi, thăm dò. Đúng ra đây
là lễ xem mặt. Trong khi hai bên trò chuyện, nhà gái kín đáo cho cô gái mà
bên nhà trai ướm hỏi ra chào khách. Thường là cô gái ra mời trầu, nước. Cô

SV: Nguyễn Thị Hiền

25

K32 - Việt Nam học



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status