Dạy học bài nghị luận về một hiện tượng đời sống trong sách giáo khoa ngữ văn 12 - Pdf 32

Khóa luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong cuộc sống hàng ngày, khi đứng trước một vấn đề, hiện tượng về
đời sống xã hội, chúng ta thường đưa ra những lời bàn luận, nhận xét của bản
thân nhằm trao đổi với người khác xem vấn đề đó đúng hay sai, hay dở, tốt
hay xấu. Việc bàn luận ấy diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi được thể hiện bằng
những hình thức khác nhau. Thông qua việc bàn bạc ấy mà con người có thể
nhận thức và phản ánh thế giới một cách khoa học, vạch ra và chỉ rõ quy luật
bản chất của sự vật khách quan. Song dù được thể hiện bằng hình thức nào thì
những vấn đề trong đời sống hàng ngày khi được đưa ra bàn luận đều được
gọi là nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội. Như vậy nghị luận về một
hiện tượng đời sống xã hội được nảy sinh từ nhu cầu giao tiếp của con người
và quay trở lại phục vụ đời sống con người. Tuy nhiên không phải ai cũng
nhận thấy được điều này. Khi những vấn đề, hiện tượng đời sống được đưa ra
bàn luận, đã không ít người bao gồm cả người nói (người viết) do thiếu kĩ
năng diễn đạt nên đã không thuyết phục được người nghe (người đọc). Điều
này cho thấy việc nghiên cứu và dạy kiểu văn bản này là cần thiết. Bởi qua đó
con người biết sử dụng kiểu văn bản này đúng lúc, đúng chỗ nhằm đạt được
những mục đích nhất định.
Thực tế trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông, Làm văn là một trong
những phân môn gây nhiều khó khăn cho người giáo viên dạy Ngữ văn. Cái
khó của phân môn này được thể hiện trên nhiều phương diện như: kiến thức
dạy học, tài liệu tham khảo, phương pháp dạy học… Cũng chính vì thế nhiều
khi phần Làm văn dường như bị bỏ quên trong quá trình dạy học ở phổ thông.
Khi dạy phân môn Làm văn, không ít giáo viên đã lúng túng khi xác định nội
dung dạy học, lựa chọn phương pháp dạy học cho phần môn này. Còn với
người học, cái khó là ở chỗ: kiến thức thì khô khan, lí thuyết thì xa rời thực

1

yêu cầu cụ thể đó, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông đã giới
thiệu những kiến thức cơ bản làm văn “Nghị luận về một hiện tượng đời
sống” trong chương trình lớp 9 và được cụ thể hóa ở chương trình sách giáo
khoa Ngữ văn lớp 12 nhằm rèn cho các em kĩ năng tạo lập được văn bản nghị
luận về một hiện tượng đời sống. Từ thực tế ấy, việc nghiên cứu và tìm ra

2

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

hướng dạy học nội dung bài: “Nghị luận về một hiện tượng đời sống” là cần
thiết. Bởi qua đó ta có thể đưa ra những cách trang bị kiến thức khoa học nhất
giúp các em có thể lĩnh hội tốt nhất bài học này và nội dung kiến thức có liên
quan.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Dạy
học bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống trong sách giáo khoa Ngữ
văn 12”.
2. Lịch sử vấn đề
Làm văn là một trong ba phân môn của bộ môn Ngữ văn trong nhà
trường phổ thông. Việc dạy phân môn này có vị trí quan trọng trong việc dạy
văn. Bởi mục đích cuối cùng của việc dạy văn là giúp người đọc có thể tạo lập
được những văn bản hay, sáng tạo. Và Làm văn chính là phân môn cơ sở giúp
người học đạt được mục đích này.
Mặt khác: bắt nguồn từ nhu cầu của cuộc sống, của xã hội và quay trở
lại phục vụ cuộc sống xã hội nên văn nghị luận có vai trò to lớn đối với con

Bàn về cách hiểu mới về văn nghị luận, các tác giả trong cuốn “Làm
văn” nêu: “Viết bài văn nghị luận thực chất là nêu lên những suy nghĩ của
người viết trước một vấn đề trong cuộc sống hoặc văn học nhằm thuyết phục
người đọc”. Ở đây tác giả cũng đã đề cập đến nghị luân văn học và nghị luận
xã hội. Và khi nói đến một vấn đề, hiện tượng trong đời sống tức là đã đề cập
đến nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Để làm rõ về văn bản nghị luận, các tác giả đã chỉ rõ: “Nghị luận chính
trị xã hội là loại đề yêu cầu bàn bạc vấn đề chính trị, đạo đức, luân lí hay một
vấn đề xã hội”. Ở đây, các tác giả đã chỉ ra phạm trù của nghị luận xã hội đó
là: nghị luận chính trị; nghị luận đạo đức, tư tưởng; nghị luận hiện tượng đời
sống xã hội. Bên cạnh đó, trong cuốn sách này các tác giả cũng lưu ý một số
điểm khác nhau khi làm đề văn nghị luận xã hội với nghị luận văn học, giữa
nghị luận về một hiện tượng đời sống với một tư tưởng đạo lí. Tuy nhiên
những lưu ý đó mới chỉ được các tác giả nêu một cách khái quát. Và khi chỉ ra
cách làm bài văn nghị luận các tác giả cũng trình bày cách làm của văn nghị
luận chung chung mà chưa quan tâm đến cách làm cụ thể đối với mỗi kiểu
bài.

4

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn: “Văn nghị luận trong chương trình
Ngữ văn Trung học cơ sở” cũng chỉ ra cách phân loại căn cứ vào nội dung bài
sẽ có các loại sau: nghị luận chính trị (có đề tài là các vấn đề chính trị), nghị



Khóa luận tốt nghiệp

các bước (Bước 1: Tìm hiểu đề, xác định yêu cầu đề bài; Bước 2: Tìm ý và
lập dàn ý; Bước 3: Xây dựng dàn ý; Bước 4: Học sinh thảo luận để rút ra cách
làm và sau đó đọc phần Ghi nhớ; Bước 5: Luyện tập thực hành)
Nói tóm lại: việc phân chia các kiểu bài nghị luận không thống nhất đã
dẫn tới tình trạng nghiên cứu cụ thể về kiểu bài: “Nghị luận về một hiện tượng
đời sống” còn ít, chưa sâu sắc. Mặc dù các tác giả cũng nói đến phương pháp
dạy học kiểu bài này, song các tác giả mới chỉ nói một cách chung nhất. Điều
này dẫn đến tình trạng gây khó khăn cho giáo viên về nguồn tư liệu, còn đối
với học sinh thì còn lúng túng, không nắm chắc cách thức tạo lập kiểu văn
bản này. Việc dạy kiểu văn bản nghị luận nói chung và kiểu bài nghị luận về
một hiện tượng đời sống nói riêng ở trường phổ thông đòi hỏi cần phải xây
dựng được cơ sở lí thuyết và cách làm kiểu bài nghị luận về một hiện tượng
đời sống để học sinh hiểu và biết cách làm bài, tạo lập được những văn bản
đúng, hay và hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc trình bày những kiến thức cơ bản về văn bản: “Nghị
luận về một hiện tượng đời sống”, chúng tôi muốn vận dụng vào việc tổ chức
dạy học nội dung này cho học sinh THPT đặc biệt là học sinh lớp 12. Qua đó
giúp học sinh nắm được cách viết bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
Trước hết là kĩ năng tìm hiểu đề và lập dàn ý. Bên cạnh đó giúp học sinh có ý
thức và khả năng tiếp thu những vấn đề xã hội mang tính thời sự. Đồng thời
giúp học sinh có đủ kiến thức và tự tin khi tham gia nghị luận về bất cứ một
hiện tượng đời sống nào với lập luận chặt chẽ, chính xác, hợp lí, toàn diện và
có sức thuyết phục cao.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

phương pháp này là dựa trên các thông tin đã có bằng các thao tác tư duy
lôgic để rút ra các kết luận khoa học. Phương pháp này được sử dụng để thu
thập nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lí thuyết của đề tài.
5.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp này được thể hiện qua một số phương diện sau:
- Xây dựng cơ sở thực nghiệm sư phạm thông qua các bài thiết kế nội
dung dạy học. Cơ sở thực nghiệm được xác định dựa vào các tri thức về giáo

7

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

dục, tâm lí, về trình độ nhận thức của từng đối tượng và căn cứ vào hệ thống
tri thức về văn bản nghị luận một hiện tượng đời sống.
- Tổ chức thực hiện giảng dạy ở trường phổ thông.
- Thông qua quá trình thực hiện giảng dạy, đánh giá nhận thức của học
sinh và đánh giá về nội dung về Làm văn trong chương trình sách giáo khoa.
Từ đó đưa ra một số đề xuất về nội dung cũng như việc giảng dạy làm văn
cho học sinh lớp 12.
6. Đóng góp của khóa luận
*Về mặt lí luận:
Khóa luận tập trung trình bày cơ sở lí luận về văn bản nghị luận một
hiện tượng đời sống nói riêng và văn bản nghị luận nói chung ở các phương
diện: khái niệm, đặc điểm, cách thực hiện khi tiến hành nghị luận một hiện
tượng đời sống.

1.1.1. Khái niệm văn bản nghị luận
Nghị luận là một dạng thức giao tiếp cơ bản của con người. Nhờ có nó
mà con người có thể bàn luận và làm rõ các vấn đề của tự nhiên và xã hội.
Cũng thông qua bàn luận, con người có thể hiểu và tin nhau hơn. Vì vậy nghị
luận là phương thức biểu đạt nảy sinh do nhu cầu của con người và nó quay
trở lại phục vụ cho đời sống con người. Cho nên có thể nói nghị luận là hình
thức giao tiếp nảy sinh cùng với sự xuất hiện của con người, hình thành và
phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Xuất
phát từ vai trò của phương thức biểu đạt này đối với đời sống và con người
nên kiểu văn nghị luận cũng rất được chú trọng nghiên cứu.
Từ rất xa xưa, trong cuốn “Văn tâm điêu long” của Lưu Hiệp, tác giả đã
khẳng định: “Luận ấy là tổ chức, sắp xếp các ý kiến để làm sáng tỏ một đạo lí
nào đó”. Không chỉ vậy, tác giả Lưu Hiệp còn trình bày một cách cụ thể hơn
về kiểu văn bản này. Theo ông phạm vi của “luận” trong đời sống là rất rộng.
Lưu Hiệp nói: “Nghị luận làm thành một thể là để phân biệt đúng sai, phải
trái, tìm hết lí lẽ, truy cứu ở cái chỗ vô hình, khoan xuyên vật cứng để cho
thông, khơi chỗ sâu để xem giới hạn, nó là cái giỏ để bắt trăm điều suy nghĩ,
là thước đo cân nhắc vạn sự. Vì thế cho nên nghĩa lí của nó phải không được
mâu thuẫn, lời lẽ kị vụn vặt, phải làm cho tâm hợp đạo lí, mọi kẽ hở đều được
bịt, lời phù hợp mà ý chặt chẽ, kẻ địch không tìm được chỗ lợi dụng, đó là cốt
yếu của nó. Chính vì vậy luận giống như việc bổ củi, quý ở chỗ chẻ được lý
9

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp


Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

Khi bàn về vấn đề nảy sinh trong thực tế, nhiều người cho rằng Toán
học là khô khan, nhưng tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong bài “Ai bảo toán
học là khô khan” đã viết:
“Toán học có vẻ đẹp của sự giản dị, hài hòa, tiết kiệm. Cảm nhận điều
này sẽ thúc đẩy toán học tiến tới. Ví dụ : a² = b² + c² là vẻ đẹp giản dị của
định lý Pitago. Cội nguồn của vẻ đẹp đó chính là tiền đề Ơclít. Vứt bỏ vẻ đẹp
này đi thì cái giản dị trên cũng biến mất. Vòng tròn đẹp, với sự đối xứng tuyệt
hảo mà căn nguyên là vẻ đẹp tiết kiệm. Rèn luyện tư duy toán học là như vậy,
không nên hiểu phiến diện, chỉ rèn luyện tư duy lôgic, chỉ vục đầu vào giải hết
bài toán khó này đến bài toán khó khác thì tầm nhìn không được mở rộng, tư
duy không được mềm mại. Câu chuyện “hình thoi” và “số không” nói trên
cho ta thấy ngay rằng với những câu chuyện đơn giản như vậy cũng có thể
rèn luyện cho tư duy thêm mềm mại, sự rung cảm thêm tinh tế, nhem nhóm lên
đống lửa và hoài bão toán học tương lai”.
(Theo Diễn đàn tuổi trẻ Việt Nam)
Nội dung được trình bày ở đoạn văn trên là một vấn đề được nảy sinh
từ thực tế cuộc sống. Thực tế đó là nhiều người cho rằng: toán học là khô
khan, không có vẻ đẹp, chỉ có sự cứng nhắc. Tuy nhiên tác giả Nguyễn Cảnh
Toàn lại cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế, sự mềm mại, uyển chuyển của toán
học. Để làm nổi bật nội dung vấn đề, ông đã trình bày lần lượt ý kiến, nêu ra
cơ sở để cảm nhận được vẻ đẹp ấy. Theo ông vẻ đẹp của toán học chỉ có thể
nhận thấy được khi con người có sự say mê, tìm tòi, con người mới nhận thấy
vẻ đẹp ấy là vẻ đẹp của sự giản dị, hài hòa và tiết kiệm. Thông qua những lí

triển của tư tưởng, văn hóa của nhân loại và góp phần vào sự phát triển ấy.
Ngày nay văn nghị luận ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Nó thâm nhập
vào mọi lĩnh vực của đời sống. Nó là vũ khí sắc bén, giúp con người nhận
thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội và hướng dẫn, thúc đẩy hoạt
động thực tiễn của con người.
Về cơ bản văn nghị luận bao gồm các đặc điểm sau:
1.1.2.1. Văn nghị luận được tạo lập nhằm giải quyết một vấn đề nào đó
trong cuộc sống. Người viết sẽ trình bày các tư tưởng, quan điểm của mình
về vấn đề đặt ra để thuyết phục người đọc tán thành và làm theo.

12

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

Bất cứ văn bản nghị luận nào được tạo lập đều giải quyết một vấn đề
nào đó trong cuộc sống. Chẳng hạn: trong văn bản nghị luận “Không có gì
quý hơn độc lập tự do”, Bác đã viết:
“Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước!
Đế quốc Mĩ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước
ta, nhưng chúng đang thua to.
Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta.
Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân, phản nước.
Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kì man rợ như: chất độc hóa
học, bom na pan… Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch.
Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta.

thì tội ác của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10
năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí
nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có
gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân sẽ xây dựng lại đất
nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
(…) Đồng bào và chiến sĩ yêu quý!
Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc
đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ
rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ trên toàn
thế giới, chúng ta nhất định thắng lợi!
Trước tình hình mới, chúng ta quyết đồng tâm nhất trí, vượt mọi gian
khổ hi sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta là
đánh thắng giặc Mĩ xâm lược!
Nhân dịp này, tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam nhiệt liệt cảm ơn sự
ủng hộ và giúp đỡ hết lòng của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, của
nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mĩ. Hiện nay, trước âm mưu
tội ác mới của đế quốc Mĩ, tôi tin chắc rằng nhân dân và Chính phủ các nước
xã hội chủ nghĩa anh em, các nước yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên
thế giới càng ra sức ủng hộ và giúp đỡ hơn nữa nhân dân Việt Nam chống
Mĩ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Nhân dân Việt Nam nhất định thắng!
Giặc Mĩ nhất định thua!

14

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn



15

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

vấn đề; biết dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để
người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình. Luận diểm là nội dung còn lập luận
chính là hình thức diễn đạt nội dung.
Lập luận là dựa vào các sự thật đáng tin cậy và các lí lẽ xác đáng để
nêu lên ý kiến của mình về một vấn đề nhất định. Khi lập luận, người viết một
mặt nêu nêu rõ các luận điểm để mọi người biết mình muốn nói gì, tán thành
điều gì, phản đối điều gì. Mặt khác nêu ra các lí lẽ dẫn chứng (luận cứ) và tổ
chức các lí lẽ, dẫn chứng ấy một cách hợp lí (tiến hành luận chứng) nhằm
thuyết phục người đọc (người nghe) tin vào nhận định và ý kiến của mình.
Trong văn bản nghị luận gồm có luận điểm và luận cứ. Để có thể phát
huy vai trò của luận điểm và luận cứ trong văn nghị luận thì luận điểm và luận
cứ phải được cấu trúc thành một hệ thống. Các luận điểm sẽ tạo nên bộ xương
cho cấu trúc văn nghị luận. Đến lượt mình, các luận cứ lại tạo nên tạo nên cho
các đoạn nghị luận hoặc cho một số đoạn nghị luận xoay quanh một luận
điểm. Chính luận điểm, luận cứ tạo sự gắn kết các ý, các đoạn trong văn bản
với nhau, tạo ra tính thống nhất của văn bản.
Một bài văn nghị luận có thể có một luận điểm chính (luận điểm lớn)
và nhiều luận điểm phụ (luận điểm nhỏ, luận điểm mở rộng). Các luận điểm
nhỏ liên kết với nhau để soi sáng, làm rõ luận điểm chính của toàn bài.
Trong văn bản “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, luận điểm chính
là: Giá trị cao quý của độc lập, tự do. Luận điểm này được làm sáng tỏ qua hai

mẽ, thống thiết lên án tội ác của giặc, khẳng định tinh thần quyết tâm đánh
giặc của nhân dân ta để rồi kêu gọi đồng bào, chiến sĩ hãy đồng tâm hiệp lực
hơn nữa. Cách chuyển ý như vậy hết sức lôgic và mạch lạc. Trong phần thứ
hai này, giọng điệu của Bác không mạnh mẽ, quyết tâm như đoạn trước
nhưng có sức tác động không hề giảm cũng bởi sự liên kết các ý mạch lạc và
khéo léo. Không chỉ khẳng định quyết tâm của dân tộc, Người còn cám ơn sự
ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới
trong đó có cả nhân dân Mĩ. Bằng cách ấy, Người không chỉ tranh thủ được
sự ủng hộ của dư luận tiến bộ mà còn khéo léo cô lập kẻ thù ngay trong lòng
nước Mĩ.
Như vậy trong văn bản: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, các luận
điểm xuất phát và luận điểm mở rộng đều là những luận điểm khái quát, tiêu
biểu, chân thực và đúng đắn. Vì thế, các luận điểm này đã góp phần khẳng

17

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

định luận điểm chính nêu ra trong phần kết luận. Các luận cứ Bác nêu ra để
khẳng định từng luận điểm mở rộng cũng có tính chân thực, đúng đắn, tiêu
biểu. Do đó các luận cứ đã làm sáng tỏ các luận điểm mà chúng cần khẳng
định.
Khi xem xét tính hệ thống của các luận điểm và luận cứ, cần phải chú ý
đến vai trò của từng luận điểm và luận cứ, mối quan hệ và cách sắp xếp của
chúng trong hệ thống. Văn bản nghị luận thường gồm 3 phần: Mở bài, Thân

khoa học, người ta cũng đã ghi nhận những tác dụng khá cụ thể. Sử dụng một
loại âm nhạc nào đấy trên tàu đánh cá thì sẽ thu hút được cá kéo nhau chui
vào lưới; sử dụng loại nhạc nào đó thì lượng sữa sẽ nhiều hơn khi người ta
vắt sữa bò; có loại cây phát triển nhanh hơn khi ta cho phát một loại nhạc
nào đấy ở khu vực trồng…
Nhiều nước trên thế giới đã vận dụng âm nhạc trong các xí nghiệp,
công trường để nâng cao năng suất lao động của công nhân. Tại nhà máy sản
xuất điện thoại PERM của Liên Xô, các nhà tâm lí học, sinh lí học và các cán
bộ âm nhạc đã phối hợp đưa âm nhạc vào giờ làm việc của công nhân. Sau
một thời gian ổn định với những điều kiện làm việc ổn định, có những ca
năng suất đã tăng tới 17%... Trên thế giới lại đã hình thành một bộ môn
chuyên nghiên cứu việc chữa bệnh bằng âm nhạc và một số bệnh đã được
điều trị có kết quả… Hiện nay ở Ba Lan có 26 trong số 35 bệnh viện thần kinh
đã sử dụng âm nhạc vào việc chữa bệnh. Ở Việt Nam ta, Viện Quân Y 103
cũng đã bước đầu nghiên cứu sử dụng âm nhạc vào việc chữa bệnh và đạt
được kết quả tốt.
Tuy nhiên tác dụng lớn lao nhất của âm nhạc mà không ai phủ nhận
được là bằng những âm thanh có tổ chức (tức là những bài ca, bản ca), thông
qua thính giác mà tác động đến tư tưởng và tình cảm của con người.”
(Phạm Tuyên, Các bạn trẻ đến với âm nhạc, NXB Thanh niên, 1982)
Trong bài viết trên, tác giả đã đặt luận điểm chính ở phần Mở bài và ba
luận điểm mở rộng làm thành các đoạn tiếp theo nhằm khẳng định giá trị của
luận điểm chính.
Ngược lại với lập luận theo quan hệ diễn dịch được sử dụng trong bài
“Sức mạnh của âm nhạc” thì tác giả của bài: “Hai biển hồ” lại sử dụng lập
luận theo quan hệ quy nạp để xây dựng hệ thống lập luận. Tác giả viết như
sau:

19


sống hai hồ, các chi tiết và cách sống hòa đồng,…), tác giả đã dần khẳng định
luận điểm chính trong đoạn thứ tư: “cuộc đời chỉ biết giữ riêng cho mình” sẽ
là bất hạnh, là đi đến cái chết.

20

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

Như vậy lập luận có một ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn trong văn
nghị luận. Nó thể hiện năng lực suy lí, năng lực thuyết phục của người viết,
cũng là yếu tố tạo nên sự lôgic, độ chính xác, sắc bén và tính nghệ thuật của
văn nghị luận.
Nhìn chung văn nghị luận có nhiều cách lập luận khác nhau. Song sử
dụng các cách lập luận đó như thế nào để đạt được mục đích nghị luận mới là
quan trọng. Một bài văn có thể sử dụng một hay nhiều cách lập luận nhưng
đều nhằm mục đích thuyết phục người nghe. Việc sử dụng các cách lập luận
cần phải được vận dụng một cách linh hoạt và thích hợp.
1.1.2.3. Văn bản nghị luận phải dùng từ, đặt câu chính xác, trong sáng.
Trong văn nghị luận, để có thể tạo ra những bài văn nghị luận hay thì
trước hết bài văn đó phải đúng. Một bài văn đúng là bài văn phải đúng về nội
dung kiến thức. Điều đó có nghĩa là dùng từ, đặt câu phải chính xác.
Trong lần nói chuyện với các thầy giáo dạy văn, Thủ tướng Phạm Văn
Đồng từng nói: “ Mục đích của việc dạy văn là phải rèn luyện cho học sinh
có ý thức, từ đó có cố gắng rồi có khả năng tự mình suy nghĩ, suy nghĩ nhiều,
suy nghĩ sâu về những điều mình muốn nói, muốn viết và khi nói, khi viết phải

thầy cô giáo giảng ở lớp, học thuộc bài trên cơ sở hiểu thấu môn học, nắm
vững kiến thức không thuộc như vẹt theo đúng chương trình học”. “Học đều,
chăm đều, không “học gạo, học lỏi…”. “Đi học đều, chăm chú nghe giảng,
thuộc bài”…, ta thấy ở đây những từ được dùng là những từ học sinh hay
dùng nhưng do đặt đúng chỗ, dùng đúng nghĩa nên vẫn diễn tả đươc đầy đủ
khái niệm “học tốt”.
Trong văn nghị luận, ngoài những yêu cầu trên, có lúc câu và từ còn
cần có hình ảnh và cảm xúc. Sử dụng hình ảnh đúng lúc, đúng chỗ là tạo điều
kiện thuận lợi cho người đọc đến với chân lí, đến với sự thật một cách dễ
dàng hơn, đồng thời cũng gây ấn tượng sâu sắc hơn. Chẳng hạn: khi bàn về
văn thơ Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng có viết: “Trên trời có những vì
sao có ánh sáng khác thường nhưng con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn
mới thấy và càng nhìn càng thấy sáng. Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng
vậy.” Hình ảnh so sánh trong lời nhận xét này nhắc nhở những ai quen với
loại văn trau chuốt thì chớ đem cái thước đo quen thuộc ấy mà đánh giá thơ
văn của nhà yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Đồng thời gợi ra trong người đọc
cảm nhận tổng quát rất xác đáng về thơ văn của ông.

22

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn


Khóa luận tốt nghiệp

Nhìn chung, trong văn nghị luận không loại trừ việc sử dụng ngôn ngữ
có hình ảnh. Trái lại, do yêu cầu của nội dung, trong văn nghị luận đã dùng rất
nhiều những câu, những từ giàu hình ảnh, gợi cảm xúc.



Khóa luận tốt nghiệp

+ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
+ Nghị luận về một hiện tượng, sự kiện trong đời sống.
+ Nghị luận về một tác phẩm văn học.
+ Nghị luận về một ý kiến, một nhận xét đối với văn học.
Trong mỗi dạng văn nghị luận trên, sẽ sử dụng một số thao tác nghị
luận sau:
+ Giải thích: là thao tác dùng lí lẽ để giảng giải, cắt nghĩa nhằm làm
sáng tỏ nội dung của một ý kiến, một nhận định hoặc một đoạn trích tác phẩm
của một nhà tư tưởng, nhà phê bình, nhà văn, nhà thơ.
+ Chứng minh: là thao tác dùng dẫn chứng (chủ yếu) và lí lẽ (hỗ trợ) để
khiến cho người đọc (người nghe) tin vào một vấn đề nào đó trong đời sống
hoặc trong văn học.
+ Bình luận: là đề xuất và thuyết phục người đọc (người nghe) tán đồng
với một nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một vấn đề nào đó trong đời
sống hoặc trong văn học.
+ Phân tích: là phương pháp tư duy khoa học rất quen thuộc. Quá trình
phân tích là giải thích, chia tách một vấn đề, một sự vật, một hiện tượng thành
những bộ phận nhỏ để tìm hiểu từng bộ phận và mối quan hệ giữa, qua đó tìm
hiểu toàn bộ vấn đề.
+ Bình giảng: là giảng giải nội dung, ý nghĩa của câu thơ, đoạn thơ
hoặc đoạn văn, bài văn, phân tích, bình giá về cái hay cái đẹp về nghệ thuật
cũng như nội dung của tác phẩm.
Nhìn chung, việc phân loại văn nghị luận, hầu hết các nhà nghiên cứu
đều phân chia văn nghị luận thành hai loại đó là: nghị luận xã hội và nghị luận
văn học. Trong mỗi loại lại có những dạng nghị luận khác nhau. Và mỗi dạng
sẽ sử dụng một số thao tác nghị luận khác nhau.

Bệnh lề mề
Trong đời sống hiện nay có một hiện tượng khá phổ biến, mọi người
thường thấy nhưng thường bỏ qua. Đó là bệnh lề mề mà coi thường giờ giấc
là một biểu hiện. Cuộc họp ấn định vào lúc 8 giờ sáng mà 9 giờ mới có người
đến. Giấy mời hội thảo ghi 14 giờ mà mãi đến 15 giờ mọi người mới có mặt.
Hiện tượng này xuất hiện trong nhiều cơ quan, đoàn thể, trở thành một thói
khó chữa.

25

Sv: Trần Thị Dưỡng

Lớp: K33C – Ngữ Văn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status