BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
MÃ SỐ: CS.2010.19.94
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HỌC SINH GIỎI
TOÁN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRUNG
HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đoàn Văn Điều
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC ..................................................................................................................... 1
THÔNG TIN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................................ 3
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài: ............................................................................................................ 6
2. Mục đích nghiên cứu:...................................................................................................... 8
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu: .............................................................................. 8
4. Giả thuyết nghiên cứu:.................................................................................................... 8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu: ..................................................................................................... 8
6. Phương pháp nghiên cứu: .............................................................................................. 9
7. Phạm vi nghiên cứu:........................................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................... 10
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề: ..................................................................................... 10
Cơ sở tâm lý của việc học giỏi toán ................................................................... 26
1.2.6.
Mối quan hệ giữa học tập và sự phát triển trí lực: .............................................. 40
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT .......................................... 52
2.1. Thể thức và phương pháp nghiên cứu: .................................................................... 52
2.1.1. Quá trình soạn thảo dụng cụ nghiên cứu ............................................................... 52
2.1.2 Kết quả khảo sát trên sinh viên khoa Toán, Trường ĐHSPTP. HCM để tính các
tham số của các thang đo và trắc nghiệm suy luận trừu tượng ........................................ 54
2.2. Kết quả khảo sát tham số của khách thể nghiên cứu và trắc nghiệm suy luận
trừu tượng trên học sinh lớp chuyên Toán, Trường Trung học Phổ thông ................ 58
2.2.1.
Kết quả một số tham số của khách thể nghiên cứu: ........................................... 58
2.2.2.
Kết quả một số tham số của trắc nghiệm:........................................................... 58
1
2.2.3.
Kết quả trắc nghiệm suy luận trừu tượng ........................................................... 60
2.3. Kết quả về thang đo đặc điểm tâm lý cần để học giỏi môn Toán theo học sinh
Trung học Phổ thông: ....................................................................................................... 66
thông trung học tại Thành phố Hồ Chí Minh
-
Mã số: CS.2010.19.94
-
Chủ nhiệm: PGS.TS. Đoàn Văn Điều
-
Cơ quan chủ trì: Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh
-
Thời gian thực hiện: từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011
2. Mục tiêu:
Trên cơ sở khảo sát các đặc điểm tâm lý của học sinh giỏi Toán ở trường trung học phổ
thông, đề tài xây dựng một thang đo về kinh nghiệm có cơ sở từ những đặc điểm tâm lý của
học sinh trung học phổ thông.
3. Kết quả nghiên cứu:
3.1. Nghiên cứu được thực hiện trên 2 loại khách thể chính:
- 323 sinh viên khoa Toán, trường ĐHSPTP.HCM để thành lập nội dung các thang đo về đặc
điểm tâm lý cần để học giỏi môn Toán và thang đo về kinh nghiệm có cơ sở từ những đặc
điểm tâm lý đồng thời để tính toán các tham số của dụng cụ nghiên cứu của hai thang đo vừa
nêu và trắc nghiệm suy luận trừu tượng.
- 301 học sinh các lớp chuyên Toán ở hai trường THPT Thực hành ĐHSPTP.HCM và THPT
THPT;
4
- một bài báo liên quan đến đề tài “Khảo sát đặc điểm tâm lý của người học thành công”
được đăng trên Tạp chí Khoa học Trường ĐHSPTP.HCM, Số 26 (60) KHXH & NV. Tháng
3.2011.
5. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng
- xác lập những đặc điểm tâm lý của học sinh học tập thành công,
- chuyển giao qua các bài viết đến các giảng viên, giáo viên và nhà giáo dục quan tâm đến
việc hình thành những đặc điểm tâm lý tích cực cho sinh viên, học sinh.
Xác nhận của cơ quan chủ trì,
Chủ nhiệm đề tài,
PGS.TS. Đoàn Văn Điều
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Theo khuynh hướng giáo dục hiện nay việc đào tạo một nhân cách sáng tạo được quan tâm
và đề cập cũng như việc đào tạo một nhân cách tinh thần đạo đức. Thế giới hiện đại nhấn
mạnh một nền giáo dục hữu ích là một nền giáo dục đào tạo được những công dân có óc suy
nghĩ độc lập, và cũng khẳng định rằng giáo dục là sáng tạo những giá trị tinh thần vật chất
cho xã hội. Do đó, phương pháp giáo dục tích cực “coi trọng chủ thể học tập là người học,
coi trọng việc tự học, tự thân vận động, độc lập suy nghĩ, rèn luyện óc sáng tạo để thực hiện
Việc chẩn đoán đúng khả năng học tập toán của học sinh là một việc làm mang tính giáo
dục, nhân văn và kinh tế cao vì nó giúp học sinh học đúng khả năng của mình để phát triển
các lĩnh vực nhận thức, tình cảm và hành động cũng như các đặc điểm khác của một con
người. Hơn nữa, khi các em học phù hợp với khả năng của bản thân thì xã hội, gia đình và
nhà trường tiết kiệm được công sức, tiền bạc và thời gian để giúp trẻ học tập hiệu quả theo
khả năng của mình.
Ngoài việc sử dụng các công cụ chẩn đoán trên cở sở tâm lý và kết quả học toán, việc khảo
sát các đặc điểm của học sinh giỏi toán trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong hoạt động
học tập toán là một việc khả thi. Khi công cụ khảo sát được soạn thảo và được chứng minh
tính tin cậy và giá trị thông qua thực tiễn và được sử dụng để đánh giá các học sinh giỏi toán
sẽ đóng góp một phần vào việc giúp bản thân học sinh tự đánh giá khả năng học toán; và
giúp nhà trường tuyển chọn các học sinh vào ngành học phù hợp.
Nói tóm lại, khuynh hướng giáo dục hiện nay ở nước ta cũng như khuynh hướng giáo dục
chung trên thế giới là phát trtiển năng lực trí tuệ, năng lực tư duy để đào tạo ra những nhân
cách sáng tạo. Một trong những môn học đóng góp tích cực vào quá trình này là môn Toán.
Do đó, việc nghiên cứu các đặc điểm nhân cách đóng góp vào việc khả năng học toán của
học sinh là một trong những việc làm cần thiết nhằm giúp các nhà giáo dục, các nhà soạn
thảo chương trình, các nhà quản lý giáo dục định hướng được công việc của mình nhằm đào
tạo những con người cần thiết, hữu dụng cho xã hội tương lai; đồng thời cũng giúp học sự tự
đánh giá bàn thân để phấn đấu hình thành những đặc điểm nhân cách của bản thân làm cho
việc học tập môn Toán hiệu quả hơn. Từ những lý do trên đề tài “Khảo sát đặc điểm tâm lý
7
của học sinh giỏi Toán ở một số trường phổ thông trung học tại Thành phố Hồ Chí Minh”
được thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát các đặc điểm tâm lý của học sinh giỏi Toán ở trường trung học phổ
6. Phương pháp nghiên cứu:
+ Cách tiếp cận: theo quan điểm hê thống và quan điểm thực tiễn. Việc nghiên cứu các đặc
điểm tâm lý của học sinh học giỏi môn Toán được thực hiện một cách hệ thống gồm các mặt
trọn vẹn của một nhân cách hoàn chỉnh: nhận thức, tình cảm và hành động thể hiện qua trí
thông minh, thái độ và hành vi trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống.
+ Phương pháp nghiên cứu trong đề tài:
- phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên
cứu
- phương pháp trắc nghiệm tâm lý (trắc nghiệm “suy luận trừu tượng”) để đánh giá khả
năng học Toán của học sinh vì khả năng suy luận trừu tượng là một trong những yếu tố đóng
góp vào việc học tập thành công môn Toán.
- phương pháp khảo sát mẫu: đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng đặc điểm tâm lý của học sinh giỏi Toán của học sinh
trung học phổ thông. Từ đó, xây dựng một thang đánh giá đặc điểm tâm lý của học sinh
trung học phổ thông cần thiết cho việc học giỏi toán nhằm tăng cường khả năng học tập toán
của các em.
- phương pháp Toán thống kê ứng dụng trong nghiên cứu: dùng để xử lý số liệu. Phương
pháp này được thực hiện bằng phần mềm SPSS for Win, phiên bản 13.0
7. Phạm vi nghiên cứu:
Những đặc điểm tâm lý của học sinh giỏi toán ở một số trường trung học phổ thông Thành
phố Hồ Chí Minh có lớp chuyên Toán. Cụ thể, nghiên cứu được thực hiện tại hai trường:
Trung học Thực hành ĐHSP TP. HCM và Trường PTTH chuyên Trần Đại Nghĩa.
9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Peggy Golfin et. al. viết về tăng cường kỹ năng Toán học ở trình độ sau trung học
như sau:
Tài liệu này là bước đầu tiên trong quá trình tăng cường kỹ năng Toán học ở trình độ sau
trung học. Để thiết lập cơ sở hiểu biết về chương trình toán học phát triển sau trung học,
chúng tôi xem xét ba vấn đề sau đây:
-
Định nghĩa, hoặc ngưỡng kỹ năng, của viện người học chuẩn bị phù hợp trong toán
học ở trình độ sau trung học là gì?
-
Tổ chức nào cung cấp giáo dục toán học phát triển, và làm thế nào việc giáo dục được
tạo cung cấp tạo ra sự khác biệt giữa các tổ chức này?
-
Cách tiếp cận và chiến lược nào có thể tiếp tục tạo điều kiện cho học viên người lớn
tăng cường kỹ năng toán học của họ và để vào học các khóa học toán trình độ đại học
hoặc hoàn thành nhiệm vụ được phân công đòi hỏi khả năng toán học trình độ cao
hơn?
Chiến lược được xác định trong tổng quan này sẽ tạo cơ sở cho giai đoạn thứ hai của dự án
này có mục đích là xác định các chương trình toán học tại các trường cao đẳng cộng đồng,
doanh nghiệp, tổ chức lao động, và quân đội có bằng chứng hỗ trợ bằng chứng cho thấy như
vậy chiến lược này, quả thật vậy, thành công. (10)
Sau đây là một số kết quả rút ra từ những nghiên cứu hiện nay về việc tiếp thu các chiến
lược tư duy và những năng lực then chốt độc lập với nội dung như sau:
-
thuật. Điều mong muốn của nhiều thế hệ là làm sao đo lường được trí thông minh một cách
chính xác, nhưng trong thực tế con người không thể đo lường trực tiếp trí thông minh mà chỉ
có thể đo lường những biểu hiện của nó là khả năng trí tuệ và có một số tác giả cho rằng:
“Người ta giả định rằng năng lực trí tuệ của một người nói lên trí thông minh thực
của người đó, vì khối lượng năng lực trí tuệ mà một người có thì tương xứng với khả năng
tiếp thu của mình để đạt được khả năng trí tuệ đó” [19, 301].
Hoặc
“Những nhà tâm lý học tài năng vào cuối thế kỷ 19 coi trí thông minh là một tập hợp
các “năng lực trí tuệ” mà Alfred Binet đầu tiên mô tả [15, 22].
Như thế, năng lực trí tuệ của con người gồm có:
-
Khả năng tính toán
-
Khả năng tri giác
-
Nhớ
-
Khả năng phát triển và sử dụng các mô hình mang tính chất khái niệm
-
Khả năng phân loại
-
Khả năng sử dụng các khái niệm trừu tượng một cách hiệu quả.
-
Khả năng nắm bắt các mối liên hệ và học tập nhanh chóng.
Ba khả năng này không độc lập với nhau, chúng chỉ nhấn mạnh các mặt khác nhau của một
quá trình [16, 244].
Trong thực tế có nhiều năng lực trí tuệ mà mỗi quan điểm nghiên cứu đều đưa ra những đặc
điểm cụ thể. Theo ông Thái Duy Tuyên, khả năng thích ứng của con người trong xã hội biểu
hiện phẩm chất nhân cách trong hành động, bao gồm các yếu tố:
Tính tháo vát, năng động
Tính mục đích (tính kỹ thuật và tính nguyên tắc)
Tính sáng tạo
Tính tích cực xã hội
Khả năng tự điều chỉnh, tự thực hiện nhân cách
Tư duy lý luận.
Do đó, có thể nói rằng năng lực của con người nói chung là vô hạn. Tuy nhiên, các khả năng
này không bộc lộ một cách hoàn toàn độc lập mà là có những mối liên hệ với các mặt khác
như tình cảm, như hoạt động trong một con người hoàn chỉnh.
13
“Năng lực trí tuệ có thể biểu hiện ở mặt nhận thức như mau biết, nhanh hiểu và mau
nhớ hoặc biết suy xét tìm ra nhanh các quy luật, biểu hiện ở khả năng tưởng tượng như óc
tưởng tượng phong phú, hình dung ngay và đúng điều người khác nói, thể hiện ở hành động
như sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo; thể hiện ở các phẩm chất như óc tò mò, lòng
1.2.
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Một số khái niệm:
Đặc điểm:
Theo “The American Heritage® Dictionary of the English Language”
Một tính năng giúp xác định, phân biệt, hoặc mô tả thể nhận ra, một dấu hiệu phân
biệt hay đặc điểm. [26]
Theo WordNet 3.0, Farlex clipart collection
Đặc điểm là:
tính năng đặc biệt, phân biệt đặc trưng, đặc thù - một đặc tính kỳ lạ hoặc bất thường
khả năng tương thích - khả năng hiện hoặc thực hiện kết hợp hài hòa hoặc đồng tình
sự không tương thích - chất lượng không có khả năng tồn tại hoặc làm việc trong sự
kết hợp hòa hợp [27]
Theo Collins Thesaurus of the English Language:
đặc trưng - một thuộc tính nổi bật hoặc khía cạnh của một cái gì đó
đặc tính - một chất lượng phân biệt
đặc trưng - bất cứ đặc điểm đo của thiết bị đo trong điều kiện quy định chặt chẽ,
thiết bị đặc trưng [28]
Đặc điểm tâm lý là những phẩm chất cá nhân được sử dụng trong bất cứ tình huống
nào cần đến sự chú ý và năng lực. Những phẩm chất này gồm cách bạn hòa hợp với
người khác, cách quan hệ với các cấp thẩm quyền, cách bạn sử dụng thời gian và
trách nhiệm cá nhân.
Đặc điểm và đặc tính là những thuật ngữ có nghĩa tương tự. Đặc điểm là một đặc tính phân
biệt, đặc trưng hoặc chất lượng. Theo thuật ngữ tâm lý, chúng ta thường nghĩ về đặc điểm
nhân cách và đặc điểm hành vi để xác định một cá nhân. Những nhà tâm lý học thường đề
cập đến đặc điểm tính cách. Sự kết hợp độc đáo của các đặc điểm nhân cách mỗi người hiện
có làm cho chúng ta thành những cá nhân.
15
bốc đồng
-
nhạy cảm
-
trí tưởng tượng phong phú
-
hướng nội – hướng ngoại
-
tính nghi ngờ
-
can đảm [32]
1.2.2. Đặc điểm nhân cách tích cực
Dưới đây là một số trong những đặc điểm tính cách tích cực được nhìn nhận rất tích cực và
được kính trọng trong xã hội chúng ta. Việc thu thập những đặc điểm này giúp phát triển
nhân cách và cải thiện bản thân.
16
Họ loại bỏ ngay lập tức bất cứ ý nghĩ tiêu cực khi nó thoáng qua tâm trí của họ. Giữ
bất cứ ý nghĩ tiêu cực nào lâu hơn cũng như cho phép một “con hổ” ngủ trong tâm trí.
Nó có vẻ vô tư nhưng có tiềm năng mang lại nhiều rắc rối.
Họ cảm tạ điều tốt đẹp họ được hưởng. Họ không phàn nàn về thứ bản thân không có
hoặc không nhận được những thứ họ muốn.
Họ không nghe tin đồn. Tin đồn liên quan chặt chẽ đến suy nghĩ tiêu cực vì thế những
người tư duy tích cực không phép bản thân nghe các cuộc nói chuyện vô bổ và vô
nghĩa.
Họ không nói hối tiếc nhưng hành động ngay lập tức. Bạn có thể đã nghe nói cách
viết tắt của NATO (No Actions, Talk Only” là cách nói đùa: “Mồm miệng đỡ chân
tay”. Những người suy nghĩ tích cực không sống theo cách đó.
Họ áp dụng cách nói tích cực. Họ sử dụng câu với giọng điệu lạc quan. Cách nói này
làm cho người khác vui vẻ, phấn khởi hơn.
Họ thể hiên ngôn ngữ cơ thể tích cực. Cụ thể là: khuôn mặt mỉm cười, những bước
tiến vững chắc, cử chỉ biểu cảm, gật đầu thuyết phục, v.v…
Họ quan tâm về hình ảnh của bản thân. Họ chăm sóc tốt dáng vẻ bề ngoài cũng như
nội tâm của họ. [29]
Những đặc điểm tâm lý của một học sinh tốt:
Một học sinh tốt không phải luôn luôn học sinh đạt được điểm giỏi. Một số học sinh có thể
nhận được điểm giỏi mà không cần cố gắng và họ sẽ thực hiện bất kỳ cách thức họ cần để
đạt được điểm giỏi. Trong khi đó, có những học sinh làm việc chăm chỉ và đạt được điểm
khá hoặc đôi khi điểm trung bình nhưng họ là những học sinh tốt hơn các học sinh đề cập ở
trên. Một học sinh tốt là người muốn tìm hiểu và nghiên cứu để làm cho bản thân tốt hơn.
Dưới đây là những đặc điểm tâm lý của một học sinh tốt:
- Kỷ luật tự giác là điều quan trọng nhất. Nếu nó không hiện hữu, thì làm sao các em có
được các phẩm chất khác. Kỷ luật tự giác có nghĩa là người học suy nghĩ về lời nói và hành
động của bản thân, sau đó lựa chọn điểu gì là đúng cho mình và cho người khác. Những
18
Các đặc điểm của học sinh có khả năng toán học cao
Nhóm công tác về triển vọng toán học Hội đồng Quốc gia giáo viên Toán học (NCTM) định
nghĩa triển vọng toán học như là một chức năng của
- động lực,
- niềm tin
- kinh nghiệm hay cơ hội
Các biến số này không cố định và cần được phát triển để thành công đối với các học sinh
triển vọng này có thể được tối đa hóa. Định nghĩa này bao gồm những học sinh theo truyền
thống được xác định là có năng khiếu, tài năng, sớm phát triển, v. v… và ghi thêm vào
những học sinh theo truyền thống bị loại trừ khỏi định nghĩa trước đó là có năng khiếu và tài
năng và do đó bị loại khỏi các cơ hội phong phú toán học. Định nghĩa này thừa nhận rằng
các học sinh có triển vọng toán học có phạm vi rộng lớn của khả năng và một chuỗi liên tục
các nhu cầu cần được đáp ứng "(Richard Wertheimer).
Có nhiều đặc điểm để xem xét khi xác định học sinh nào có năng khiếu toán học. Các mô tả
sau đây về các đặc điểm của học sinh có khả năng toán học cao cần được xem như là các ví
dụ về các chỉ số về tiềm năng. Rất ít học sinh thể hiện tất cả các đặc điểm và những đặc
điểm này có thể xuất hiện vào những thời điểm khác nhau khi đứa trẻ đang trong giai đoạn
phát triển nhận thức, tình cảm xã hội, và thể chất.
Các học sinh có khả năng toán học cao thể hiện độc lập khả năng để:
- trình bày tư duy toán học và có một nhận thức sắc bén đối với thông tin định lượng trong
môi trường xung quanh;
- suy nghĩ theo logic và biểu tượng về các mối quan hệ định lượng, không gian, và trừu
tượng;
- nhận thức, hình dung, và khái quát các mô hình bằng số và không có số cũng như các mối
quan hệ;
- lập luận phân tích, diễn dịch và quy nạp;
- đảo ngược các quá trình lý luận và phương pháp chuyển đổi một cách linh hoạt nhưng theo
hệ thống;
trí tuệ, sáng tạo, lãnh đạo, xã hội và thể chất. Mô hình DMGT đề xuất bốn lĩnh vực năng lực:
trí tuệ, sáng tạo, tình cảm xã hội và cảm giác vận động.
Các tính năng phân biệt của các tài năng trở nên rõ ràng từ rất sớm. Silverman (1993) cung
cấp một khái quát hữu ích về trí tuệ và có liên quan tính cách đặc trưng của các nhóm có
năng khiếu. Không phải tất cả các tính năng này là độc quyền đối với học sinh có năng khiếu
và tài năng, nhưng học sinh như được mô tả là có năng khiếu và tài năng ở một mức độ cao
hơn.
1.2.3. Đặc điểm nhân cách của học sinh năng khiếu và tài năng:
- khả năng lý luận sâu sắc
- tò mò trí tuệ
- tốc độ học tập nhanh chóng
- khả năng trừu tượng cao
- quá trình tư duy đa dạng
- tưởng tượng phong phú
- quan tâm đến đạo đức
- đam mê học tập
- cường độ tập trung cao
- tư duy phân tích
- tư duy phân kỳ/sáng tạo
- ý thức công bằng nhạy bén
- năng lực phản ánh cao
- suy nghĩ sâu sắc
- có nhu cầu hiểu biết
- có nhu cầu được tạo động lực
- cầu toàn
22
vì sự đa dạng của các em. Sáu loại hồ sơ của học sinh có năng khiếu và tài năng đã được xác
định (Betts & Neihart, 1988):
- Loại I, các học sinh có thành tích cao, phổ biến nhất được xác định trong các chương trình
học sinh có năng khiếu và tài năng. Học sinh được các giáo viên và bạn học ưa thích và đạt
kết quả cao. Họ bày tỏ sự phụ thuộc chứ không phải là độc lập và không chấp nhận rủi ro.
Họ không phát triển tính tự chủ và có thể đạt được thành tích cao hơn nếu họ tự khẳng định
nhiều hơn.
- Loại II là học sinh chịu thách thức, thường những học sinh sáng tạo. Sự thiếu sự hỗ trợ cho
học sinh sáng tạo có thể dẫn đến hành vi nổi loạn và thách thức đối với giáo viên và cha mẹ/
người chăm sóc.
- Loại III là các học sinh không lộ diện cố gắng giấu năng khiếu của mình. Học sinh này,
thường là giới nữ ở những năm học trung học, thường cảm thấy lo lắng và không an toàn.
Điều này là do sự xung đột giữa sự trãi kinh nghiệm sự thành công mang tính xã hội và học
tập.
- Loại IV là các học sinh bỏ học. Học sinh này có một lịch sử lâu dài của việc không thành
công trong học tập và đòi hỏi một chương trình hỗ trợ đáng kể để cải thiện trình độ học vấn
của mình. Học sinh không thành công có thể là do ảnh hưởng của việc mất động lực thúc
đẩy của các chương trình không phù hợp.
- Loại V được gán cho hai tên. Đây là những học sinh có thể gặp khó khăn về thể chất, tình
cảm hay học thuật. Thông thường học sinh khuyết tật được quan tâm và tiềm năng tài năng
bị bỏ qua, làm cho học sinh muốn được xác định như người khuyết tật chứ không phải là
loại tài năng.
- Loại VI là người học tự chủ. Học sinh này là người học độc lập và tự định hướng. Những
học sinh này phát triển khi các các em được cung cấp chương trình giáo dục thích hợp (Betts
& Neihart, 1988). [30]
24