THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
MỤC LỤC
I. Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
OBO
OK S
.CO
M
Lời mở đầu
2. Mục đích nghiên cứu
3. Lịch sử vấn đề
4. Phạm vi tư liệu
5. Phương pháp nghiên cứu
6. Kết cấu báo cáo
II. Phần nội dung
1. Nghệ thuật sử dụng điển cố - một đặc trưng
1.1. Khái niệm
1.2. Các loại điển cố thường gặp
1.3. Nguồn gốc điển cố
1.4. Ý nghĩa của việc sử dụng điển cố
2. Nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi
lch s Vit nam. Trong cuc i hot ng chớnh tr ca mỡnh ụng ó li
nhiu di vn cú giỏ tr trờn nhiu lnh vc. tỡm hiu v nhng úng gúp ca
ụng cng nh mong mun tỡm hiu v con ngi lch s ny m ngi i sau
ó cú nhiu cụng trỡnh nghiờn cu cụng phu v ụng. Cỏc cụng trỡnh ú c
nghiờn cu trờn nhiu lnh vc nh: quõn s, chớnh tr, vn hoỏ, ngoi giao, a
lớ Tha hng thnh tu ca ngi i trc li cựng vi nhng tỡm tũi ca
mỡnh, tụi xin a ra mt bi vit v vic Tỡm hiu ngh thut s dng in c
trong Quõn trung t mnh tp ca Nguyn Trói. õy l ti rt ớt c
nghiờn cu. Thụng qua ú nhm tỡm hiu v c im, phong cỏch hnh vn ca
Nguyn Trói qua tỏc phm ny núi riờng v cỏch lp lun vn chớnh lun cng
nh vn phong ngoi giao ca ụng núi chung.
1
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
I. PHN M U
1. Lý do chn ti
KIL
OBO
OKS
.CO
M
Nguyn Trói (1380-1442) l mt nh chớnh tr, nh quõn s, nh ngoi
giao kit xut trong lch s trung i Vit Nam. Khụng nhng th ụng cũn l
mt nh t tng, bc danh nhõn vn hoỏ th gii ó li mt khi lng trc
tỏc s, ỏng khõm phc. Trong ú tỏc phm Quõn trung t mnh tp
Trong mục đích chung ấy, việc dùng điển cố khơn khéo và hiệu quả đóng vai
trò:
- Khiến cho câu văn Nguyễn Trãi sử dụng trở nên thâm th, un bác hơn.
KIL
OBO
OKS
.CO
M
- Điển cố khơng chỉ là phương thức mà còn trở thành cơng cụ sắc bén cho lí
luận “tâm cơng” của Nguyễn Trãi.
- Điển cố giống như những hạt kim cương mấu chốt cho các câu chữ khác
bám vào trở thành câu văn chiến luận hồn chỉnh.
- Nghệ thuật sử dụng điển cố giúp cho mục đích cũng như nội dung của tác
phẩm được nổi bật hơn. Qua đó thấy được tâm tư, tình cảm của tác giả.
Qua nét nghệ thuật này rút ra được đặc điểm, phong cách văn chính luận trong
tác phẩm “QTTMT” nói riêng và trong văn chính luận của Nguyễn Trẫi nói
chung.
3. Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về "QTTMT" trên
nhiều phương diện khác nhau. Trên mỗi phương diện nghiên cứu đều có nhưng
giá trị nhất định.
Trên lĩnh vực sử học có: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc” (Phạm
Văn Đồng), “Thời đại Nguyễn Trãi trên bình diện quốc tế” (Văn Tạo).
trọng ở thế kỷ XV” (Bùi Văn Nguyên). Có thể nói hầu như chưa có một tác
phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực nghệ thuật trong văn phong chính
luận của QTTMT. Do đó tìm hiểu “nghệ thuật sử dụng điển cố trong "QTTMT"”
là một hướng đi tương đối còn khó khăn. Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiên
cứu của những người đi trước, bài viết nhằm tìm hiểu thêm về văn phong ngoại
giao, cách lập luận trong văn chính luận của Nguyễn Trãi trong "QTTMT" nói
riêng và trong văn chính luận của ông nói chung. Với trình độ sinh viên năm thứ
ba, hướng đi này cũng là bước tập dượt giúp tôi đi vào nghiên cứu.
4. Phạm vi tư liệu:
Cũng như các tác phẩm khác của Nguyễn Trãi, trong "QTTMT" cũng chịu
chung số phận tru di như ông. Do đó để lưu truyền đến ngày nay không tránh
khỏi thất tán, mất mát. Từ khi ra đời đến nay "QTTMT" đã được nhiều học giả
nổi tiếng như Trần Khắc Kiệm, Dương Bá Cung, Trần Văn Giáp… thu thập,
biên soạn. Mỗi công trình đều có những giá trị riêng. Song đối với một trước tác
Hán Nôm, đặc biệt là tác phẩm có quá trình lưu truyền lâu dài và phức tạp như
di văn của Nguyễn Trãi thì phạm vi tư liệu cần phải căn cứ vào văn bản gần với
nguyên bản nhất. Đó là vấn đề thuộc về nguồn gốc văn bản.
Căn cứ vào bản in Phúc Khê, gần đây nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn
Văn Nguyên đã dày công nghiên cứu về “ vấn đề văn bản học của QTTM”. Đây
được coi là tác phẩm khảo dị văn bản đầy đủ và chu đáo, đáng tin tưởng. Sự sắp
xếp lại của ông về cơ bản phù hợp với cách mô tả của Lê Quý Đôn, Ngô Thế
Vinh tức bao gồm 62 văn kiện. Như vậy phạm vi tư liệu căn cứ vào 62 bức thư,
bao gồm 40 văn kiện trong “Ức Trai di tập”, hai văn bản do Dương Bá Cung sưu
tầm và 20 trong 23 văn kiện do Trần Văn Giáp bổ sung. Thứ tự sắp xếp được in
trong cuốn “Những vấn đề văn bản học Quân Trung Từ Mệnh Tập của Nguyễn
4
5
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
III. PHN NI DUNG
Trc khi vo phn ni dung cng cn phi núi thờm, nhng vn liờn
quan n khỏi nim, lý lun bỏo cỏo cú s tham kho trong cun in c v
KIL
OBO
OKS
.CO
M
ngh thut s dng in c ca on nh Loan.
1. Ngh thut s dng in c- mt c trng thi phỏp ca vn hc
Trung i:
in c l mt trong nhng th phỏp ngh thut c thự c s dng
trong vn hc c Vit Nam. Thi trung i do quan nim sỏng tỏc chu nhiu
nh hng ca Nho giỏo, vn hc c sỏng tỏc vi mc ớch chớnh tr v giỏo
hun v cỏch c x trong cuc sng nờn li vn, li th u cú õm hng trang
trng trỏnh dung tc tm thng. cú mi t, mi cõu khụng ch hay m
cũn sỳc tớch theo cỏch núi ớt hiu nhiu ca ngi xa thỡ nhiu qui nh nguyờn
tc tr thnh chun mc cho phng phỏp v th phỏp sỏng tỏc. T sau khi
Thm c (Thi Nam Bc Triu) t ra nhng qui tc u tiờn cho cỏc th th
thỡ sau ú nhiu nh th trờn c s ú thờm tht nhng qui nh mi. Lõu dn
.CO
M
Duy Anh. “Hán Việt từ điển”. NXB Khoa học xã hội. 2004).
Theo Từ điển Việt Hán có ghi về điển cố như sau: 此 事 見 于 典 故
(Thử sự kiến vu điển cố) điển cố có nghĩa là truyện ấy có ở điển cũ. (G.S Đinh
Gia Khánh hiệu đính. “Từ điển Việt Hán”. NXB Giáo Dục. 2002).
Theo Tầm ngun từ điển điển là việc cũ. Điển cố tức là truyện xưa (Bửu
Kế, Vĩnh Cao. “Tầm ngun từ điển”. NXB Thuận Hố. 2000).
Nhìn chung các cuốn từ điển đều hiểu điển cố là việc sử dụng tích xưa để ứng
với việc nay. ở đây tơi tham khảo cách định nghĩa điển cố theo cuốn “Điển cố và
nghệ thuật sử dụng điển cố” của Đồn Ánh Loan. Đây là cơng trình nghiên cứu
cơng phu và cẩn thận về điển cố. Theo “Việt Nam văn học sử yếu”, Dương
Quảng Hàm định nghĩa: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hay một câu có
ám chỉ đến một việc cũ, một tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đến
việc ấy, sự tích mới hiểu ý nghĩ và cái lý thú của câu văn”. Dùng điển chữ Nho
gọi là “dụng điển” hoặc “sử sự” (sai khiến việc) ý nói sai khiến việc đời xưa cho
nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình.
Điển cố có thể ám chỉ đến sự việc thật được chép từ sử, truyện hoặc những
câu chuyện hoang đường được chép từ truyện cổ tích, ngụ ngơn, có khi là một
vài chữ từ câu văn, câu thơ cổ.
Có thể nói ngắn gọn điển cố là những từ ngữ chuyện xưa, tích cũ, về tư
tưởng, hình tượng trong sách xưa được tác giả dùng làm phương tiện để diễn đạt
ý tưởng một cách ngắn gọn, hàm súc.
1.2.
Các loại điển cố thường gặp:
KIL
OBO
OKS
.CO
M
Điển cố từ Kinh bộ gồm Kinh thư, Kinh Xuân Thu, Luận ngữ.
Điển cố từ Sử bộ: là kho sách ghi chép câu chuyện về cuộc đời nhân vật và
sự kiện lịch sử, gồm: sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư, Tam Quốc Chí, Tấn thi…
dùng để so sánh, chứng minh.
Điển cố từ Tử bộ: Tử bộ là pho sách của bách gia, chư tử: Nho gia, Đạo
gia, Phật gia, Binh gia, Pháp gia…
Điển cố từ Tập bộ: là cách sách về thơ văn, phê bình thơ văn và từ khúc
Điển cố từ thơ ca: thường sử dụng từ hay nhóm từ, mượn ý, lời từ câu thơ
hoặc bài thơ của người trước.
Điển cố lấy từ văn học cổ Việt Nam: so với nguồn điển cố thì điển cố lấy từ
văn học nước nhà không nhiều vẫn được khai thác sinh động. Thường mang nội
dung về các chiến trận oanh liệt, những sự kiện lịch sử nổi bật và các nhân vật
lịch sử quan trọng.
Điển cố lấy từ văn học dân gian: loại này có phạm vi rộng được dùng nhiều
nhất là điển có nội dung về thân phận, tình duyên, sinh hoạt trong cuộc sống…
1.4. Ý nghĩa của việc sử dụng điển cố:
Đặc điểm của điển cố là dùng biểu tượng biểu trưng, diễn đạt phong phú các
lĩnh vực của cuộc sống, được nhiều người gọt giũa thành cố định. Điển cố hàm
chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng được thể hiện hết sức cô đọng, mang
Nguyn Trói l mt tỏc gia tiờu biu v nm trong h thng cỏc tỏc gi thi
trung i, cng ging nh tro lu vn hc lỳc by gi, vic s dng in c
trong vn chng i vi Nguyn Trói tr thnh mt phng tin c lc v
hiu qu, giỳp cho cõu vn t giỏ tr nht nh. Bng chng l trong hu ht cỏc
tỏc phm ca ụng c bit l mng vn th vit bng ch Hỏn, vic s dng in
c ó n sõu vo cõu ch tr thnh li phong cỏch riờng. nhn thy c th tụi
i vo kho sỏt h thng in c trong QTTMT bng phng phỏp thng kờ v
phõn loi l ch yu.
2.1 Kho sỏt h thng in c cú trong QTTMT:
Cn c vo ngun gc, cỏch s dng, cỏch hiu, mc ớch dựng tụi phõn loi
nh sau:
Cn c vo cỏch phõn loi in c theo ngun gc trong cun in c v
ngh thut s dng in c ca on nh Loan, cú th chia in c thnh 5
loi ngun gc: Truyn- S b; Kinh b; V sỏch Binh phỏp; Thi ca c v Vn
hc dõn gian.
Bờn cnh vic da vo cỏc phõn loi c bn ny tụi cũn a ra mt s cỏc
cỏch phõn loi khỏc cn c vo cỏc s dng in c, cỏch hiu v mc ớch s
dng. Gm cỏc phõn loi nh sau:
- Phõn loi theo cỏch s dng:
Ngoi nhng chỳ thớch ca cỏc hc gi nh Nguyn Vn Nguyờn, Mai Quc
Liờn tụi nhn thy cũn rt nhiu bc th cha c chỳ thớch. ú l cỏc bc
Nguyn Trói thng m u bng cõu: ta thng nghe, k ra, ta nghe núi
cỏc bc th nh bc s5: Phự vi tng chi o d nhõn ngha vi bn (K o
+ Ca ngợi những vị vua hiền, các triều đại thịnh trị trong lịch sử Trung
Quốc, có 4 điển cố , chiếm 3,63%.
+ Kéo dài thời gian hồ hỗn bằng việcnói về nỗi oan ức của ta và mong
được chuộc lỗi, có 5 điển cố , chiếm 4,54%.
+ Trách nhiệm của kẻ làm Thiên tử có 13 Điển cố, chiếm 11,82%.
+ Khun tướng lĩnh nhà Minh, phân tích lẽ đúng sai, việc thất đắc có 18
điển cố, chiếm 16,36%.
+ Khiêu chiến, cảnh cáo có 4 Điển cố, chiếm 3,64%.
+ Tố cáo tội ác, vạch trần bộ mặt xâm lược của qn Minh có 18 Điển cố,
chiếm 16,36%.
+ Nói về chữ tín và chữ thành có 7 Điển cố, chiếm 6,36%.
+ Khó khăn của địch có 10 Điển cố, chiếm 9,69%.
+ Khun dụ lính hàng có 16 Điển cố, chiếm 14,54%.
11
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
+ Vic lm chớnh ngha v trỏch nhim ca quõn ta cú 7 in c, chim
6,36%.
+ o c ca ngi quõn t, Thỏnh nhõn cú 5 in c, chim 4,54%.
KIL
OBO
OKS
sc ca n b trong sỏch Tn th k v truyn Gia Cỏt Lng mang quõn i
ỏnh Nguy, khiờu khớch nhiu m T Mó í khụng chu ra ỏnh. Lng bốn
mang n cho y dựng khn ym lm nhc,ý thỡ cú cỏc bc 7, 33; in
12
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
iu dõn pht ti cú cỏc bc 8, 26, 28; in núi v ch tớn xut hin trong cỏc
bc 15, 17, 22, 23; in Hỏn ng hiu i Thang v iu pht cú ti 6 bc
th: 31, 40, 52, 53, 56, Ngay c trong mt bc th, mt in c cng cú th
KIL
OBO
OKS
.CO
M
c dựng lp li nh in v Bỏch Lý H v Lý T Xa l hai nhõn vt s ti gii
li bit thi th nhm thc tnh Thỏi ụ c, in ny cú bc 36 dựng li
hai ln
V ngun gc trớch dn in c:
in c cú ngun gc t Truyn, S b:
K v s kin hoc nhõn vt lch s, mt triu i lch s. õy l loi chim
s lng cao nht so vi cỏc in c cú ngun gc khỏc vi 60 ln (54,54%).
Sau ú l in cú ngun gc t Kinh b m ch yu ly trong sỏch Mnh T,
Trung Dung, Lun Ng, Kinh thi vi 26 ln (23,63%). Ngun gc t vn hc
OBO
OKS
.CO
M
mình, cùng với những khó khăn chúng mắc phải sẽ nhanh chóng bị thất bại, từ
đó khiến qn địch phải lung lay về tinh thần lần lượt đi tới chỗ thất bại. Đây
cũng chính là thuật tâm cơng (đánh bằng tấm lòng) của Nguyễn Trãi.
Về tính chất của những điển cố có nguồn gốc Hán Việt thường tương đối
dễ hiểu và phổ biến. Đối với những Nho sĩ xưa phải thơng thạo Kinh sử thì khi
đọc những bức thư này có lẽ khơng khó khăn gì. Mà mục đích chính Nguyễn
Trãi hướng tới là tướng sối nhà Minh “từng đọc Thi, Thư” (bức 46) thì việc
hiểu điển cố là điều nắm trong lòng bàn tay.
Về mức độ trọn vẹn khi dẫn điển đa số là trích dẫn khơng hồn tồn thường
mượn ý, hình ảnh, tên đất, tên người, tên triều đại… sau đó gợi mở ra ý nghĩa
cần dùng. Khi trích dẫn trọn vẹn, thường gặp ở điển có nguồn gốc từ Kinh bộ
hay văn học dân gian.
2.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn ngoại giao của Nguyễn Trãi:
Xét trong 62 bức thư mà có đến 110 lần xuất hiện điển cố, tức là bình qn
mỗi bức gồm hai điển cố, nếu khơng kể đến 15 bức khơng xuất hiện điển cố thì
bình qn mỗi bức khoảng gần 3 điển cố. Cùng với 78 điển cố khác nhau thuộc
năm nhóm nguồn gốc, có thể nói nguồn điển cố mà Nguyễn Trãi dùng rất phong
phú, từ văn học dân gian đến cả kinh, sử. Điều đó nói nên Nguyễn Trãi là người
rất am tường, vốn văn hố un bác, khả năng vận dụng khéo léo, biết nhấn
mạnh, xốy sâu khiến qn giậc khơng thể coi thường. Hơn nữa đó là những tích
để lại của chính cha ơng họ, những câu truyện trong lịch sử nước họ. Khi bọn
Phương Chính bị ta tiến cơng chúng vì sợ mà khơng ra đánh Nguyễn Trãi đã chỉ
thẳng vào mặt chúng: “Nhĩ nãi bế thành cố thủ, chính như nhất lão ẩu, hà da?
Đài, Thái Tông chi ban sư Tân Thị” (Tất như Hán Võ lấy việc bỏ Luân Đài mà
nhận lỗi, Đường Thái Tông lấy việc đánh Cao Ly mà ăn năn). Đây chính là cái
mà Nguyễn Trãi gọi là nghệ thuật “tâm công” (đánh bằng tâm) đã mang lại hiệu
quả cho lập luận của ông, vừa ra đòn “gậy ông đập lưng ông” lại vừa khiến
chúng tâm phục khẩu phục. Về mảng này ngòi bút Nguyễn Trãi tỏ ra mạnh mẽ,
sắc sảo đầy thuyết phục.
Xét về nguồn gốc thì kinh, sử truyện có 87 lần xuất hiện tương đương với
85%. Có hiện tượng này là do Nguyễn Trãi vận dụng được ý nghĩa nội tại của
nhóm nguồn gốc. Đó là những lời giáo huấn, hay từ kinh nghiệm và trí tuệ của
bậc thánh nhân từ lâu đã trở thành tấm gương, chân lí để đối chiếu với việc làm
của người đời sau. Đưa ra lời chỉ giáo của cha ông mình thì quân Minh sao có
thể chối cãi? Nhờ thế mà điển cố Nguyễn Trãi sử dụng càng mang tính thuyết
phục, nó giống như chỗ dựa vững chắc để lập luận của ông thêm phần đanh thép
lại thấu tình đạt lí.
Bằng vốn điển cố đó Nguyễn Trãi đã bố trí một cách linh hoạt khiến câu
văn không bị cứng nhắc, sáo rỗng. Ở giai đoạn đầu cuộc kháng chiến khi tương
15
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
quan so sánh lực lượng nghiêng về bên giặc Nguyễn Trãi đã khơn khéo giữ thế
hồ mà liên lạc với chúng dưới hình thức trá hàng vừa nêu nỗi oan khuất của
mình, nỗi khốn khó của dân chúng đồng thời nêu lên tội ác của giặc. Trong bức
KIL
OBO
OKS
16
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chúng là vậy. Đứng trên lập trường của người chiến thắng Nguyễn Trãi còn
khẳng định qn ta khơng chỉ chính nghĩa mà còn có lòng khoan hồng. Đây là
đức tính q báu mang tính truyền thống của dân tộc nay được nghĩa qn kế
KIL
OBO
OKS
.CO
M
thừa và sử dụng lời dạy ấy rất đúng chỗ. Truyền thống “thương người như thể
thương ta” của dân tộc một lần nữa được thi hành cho tàn qn Minh. Phải nói
rằng Nguyễn Trãi thật là cao tay mới có thể viết được những lời lẽ đanh thép
như thế. Bằng chiến thắng vang dội, tuy đổ nhiều xương máu nhưng lịch sử đã
chứng minh rằng “đại nghĩa” sẽ thắng “hung tàn”. Chẳng thế mà khi kết thúc
chiến tranh, ta đã khơng làm như nhà Hán, nhà Đường đánh cả kẻ chạy đi lẫn kẻ
chạy về, trái lại ta dải thảm hoa, sắm sửa thuyền bè cho qn Minh về nước
khiến chúng cảm động. Trước khi về nước Vương Thơng còn qua chào từ biệt
Lê Lợi. Nghệ thuật “tâm cơng” thế là đã đến chỗ tột đỉnh của nó.
Trong gới hạn bài viết nên chúng tơi khơng thể lấy dẫn chứng được hết
các điển cố, với số lượng 78 điển cố như vậy có thể nói điển cố trong tay
Nguyễn Trãi thật là phong phú lại được sử dung rất linh hoạt và cơng phu. Một
cách ý thức Nguyễn Trãi đã khiến chúng thành phương tiện sắc bén cho lập luận
cuả mình.
Trong sáng tác thời kì văn học trung đại, điển cố được xem như là phương
thức đặc biệt để xây dựng câu văn, câu thơ. Tuy nhiên việc đưa điển cố với mục
đích sử dụng lại khác nhau. Điển cố có khi giúp câu văn hình ảnh thêm sinh
động, tránh sự trần trụi, khô khan, có khi để bộc lộ chí hướng, diễn tả cái gọi là
“ý tại ngôn ngoại”, hay có khi là tỏ sự uyên bác, quí phái… Còn một loại mà
Nguyễn Trãi dùng làm mục đích chính cho lối văn chính luận của mình. Bên
cạnh yếu tố tích cực vốn có mà điển cố mang lại Nguyễn Trãi đã khéo léo lôi
kéo nó vào mục đích của mình. Một mục đích rất “thực dụng”, đó là dùng điển
cố làm ví dụ hay làm chứng cớ xác thực cho lập luận. Không dẫn dắt dài dòng
hay liệt kê một cách chi tiết mà lợi dụng những tích cũ, những câu nói trong
kinh điển đưa ra một vài điểm cũng đủ làm ví dụ dẫn chứng giúp cho lập luận có
cơ sở vững chắc, xác đáng, rõ ràng. Để vạch trần tội ác của giặc, Nguyễn Trãi
hoặc là đưa ra ví dụ trực tiếp hoặc dùng biện pháp đối lập… từ đó để đối chiếu,
so sánh với việc làm của chúng. Như là lúc thì dẫn chứng về tính hiếu đại của
Hán Đường, lúc lại dẫn về gương điếu dân phạt tội của Thang Vũ. Từ đó đưa ra
hai mặt của một vấn đề: vạch trần bộ mặt xâm lược của giặc đồng thời cho thấy
bọn chúng là kẻ đã bất chấp trà đạp lên đạo đức do chính cha ông chúng đề ra.
Đó là mục đích chính do hiệu quả điển cố mang lại, tuy nhiên cũng không thể
loại bỏ những yếu tố khác đã khiến câu văn mang tính sinh động, lời lẽ sâu sắc,
nâng cao tính bác học cho tác phẩm.
Như vậy, trên nền chung về cách sử dụng điển cố trong văn học cổ nước
ta thì Nguyễn Trãi đã dành cho mình một hướng đi riêng. Phải nói thêm rằng
việc sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi đạt tới một trình độ điêu luyện, sắc xảo,
không hề xáo rỗng, hay khô khan mà ngược lại nó htrở thành thứ công cụ đắc
lực cho lập luận của tác giả. Điều đó sở dĩ có được bên cạnh chủ ý của tác giả
18
rng: ging cao tớnh chớnh ngha, cú bin phỏp chin u thớch ỏng, gim tn
sỏt. Nguyn Trói qu ó khộo lộo s dng ngũi bỳt thn kỡ ca mỡnh vit thnh
h thng vn ch vn, va m khớ phỏch dõn tc va y tớnh cht hựng
bin ng trờn lp trng ca ngi chin thng. Trong ú phi k n sc
mnh ca vic s dng in c, núi mt cỏch hỡnh nh thỡ vic s dng in c
cú khi an ci cú khi xut hin dn dp nh nhng viờn kim cng lp lỏnh m
cỏc cõu ch khỏc bu vớu vo to ra th v khớ sc bộn õm thng nhng lun
iu gian trỏ ca k ch. V cú th núi th vn ch vn ny thc s ó h tr
19
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
c lc cho mt trn quõn s v nú cú sc mnh bng nhiu s on tinh nhu.
Qu nhiờn, bng vic kt hp gia v khớ quõn s v v khớ ngoai giao ó khin
k thự b ỏnh bi c v lc v trớ. Kt thỳc bn vng Thụng phi ra d l n
KIL
OBO
OKS
.CO
M
th,rỳt quõn v nc.
20
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
cm chõn thnh v nht l t ý thc dựng vn chng lm v khớ mnh nh v
bóo, sc nh gm ao( Phm Vn ng) thỡ ch cú th tỡm sm nht trong
vn chớnh lun ca Nguyn Trói. Mt trong yu t lm nờn cỏi hay ca vn
chớnh lun Nguyn Trói l bỳt phỏp hựng bin. c bit trong QTTMT" khi
vit th cho k ch thỡ phi t hiu mỡnh gi vng t th m cng phi rt
hiu k ch ỏnh cho trỳng. Tu tng i tng, tu tng din bin m cụng
21
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
kích hay nhún nhường… lại phải tìm lời lẽ thích hợp để kẻ địch hiểu được và
hướng chúng theo hành động của ta. Ở điểm này việc lựa chọn điển cố xác đáng
của Nguyễn Trãi là rất khôn khéo và sáng suốt. Việc vận dụng tinh vi đó có cơ
KIL
OBO
OKS
.CO
M
sở vững chắc từ nhận thức của Trung Quốc cũng như tìm hiểu về đất nước, kết
hợp với tình cảm chân thành và ý chí gan thép của tác giả. Cùng với các phương
pháp tu từ khác như liệt kê, chứng minh, phân tích… giọng điệu biến hóa lúc
lên giọng lúc xuống giọng… thì điển cố cũng góp phần tạo nên phong cách cho
bút pháp viết văn chính luận của Nguyễn Trãi.
Để làm nên phong cách thì mỗi tác giả sẽ chọn cho mình hướng đi riêng,
độc đáo và được sử dụng trong hầu hết các tác phẩm của mình. Tuy nhiên phong
cách trong mỗi tác phẩm không đơn thuần là việc lặp lại mà có sự đổi mới,
KIL
OBO
OKS
.CO
M
sõu sc v cú tớnh chin u cao. Bỡnh Ngụ i cỏo thỡ bng bng khớ th ca
nhng nm Bỡnh Ngụ, phc Quc. QTTMT thỡ c mnh danh l cú sc
mnh nh mi vn quõn (Phm Vn ng). õy ụng ó dựng trớ mu
phõn tớch thi- th- lc nhm chng minh ta nht nh thng ch nht nh thua.
Nguyn Trói ó vn dng o lớ lờn ỏn vua quan triu Minh v ti ỏc xõm
lc di trỏ bo tn, cựng binh c v, hiu i h cụng Tuyờn dng
ngha quõn v vic lm chớnh ngha, trung thc, khoan hng Sc mnh vn
chớnh lun ca Nguyn Trói ú l chin lc ly i ngha thng hung tn
ly chớ nhõn thay cng bo. T nhu cu tõm cụng v t nhn thc v tớnh
nng chin u ca vn chng vi tinh thn chin u khụng mt mi, kt hp
vi mu trớ ht sc linh hot, Nguyn Trói ó vit th giỏng cho ch nhng ũn
ti tp, ỏnh cho chỳng phi thua trờn mt t tng, lm lung lay tinh thn chin
u ca quõn gic. Chin u l c thự ca vn chớnh lun, nhng chin ỏu
ngoan cng, trc din, tp trung cú hiu qu cao phi xut phỏt t trớ tu nhy
bộn, tỡnh cm chõn thnh v nht l ý thc dựng vn chng lm v khớ thỡ ch
cú th tỡm thy sm nht trong vn chớnh lun ca nguyn Trói.
Vn chớnh lun ca Nguyn Trói phn ỏnh trỡnh cao ca vn chớnh lun
dõn tc. Nguyn Trói vit vn chớnh lun vi nhiu th loi khỏc nhau, bỳt phỏp
ca tỏc gi cng tựy theo yờu cu ca tng loi vn: th, cỏo, chiu, d m
thay i. i tng ca vn chớnh lun l nhng vn chớnh tr xó hi. Cỏi hay
ca vn chớnh lun trc ht ch vn tỏc gi t ra v gii quyt nú nh th
no. Nguyn Trói ó t ra vn c lp dõn tc, s phn nhõn dõn trong
Bỡnh Ngụ i cỏo, vn xõy dng mt t nc thnh tr lõu di, ho bỡnh
muụn th trong chiu d, v vn tõm cụng trong QTTMT Bỳt phỏp ti
24